ATTENTION: UK-ĐẤU TRANH Will Be Permanently Retired on December 30th, 2017.

Thursday, 3 April 2014

Tưởng niệm biến cố 30-4-1975, nhìn lại lịch sử: : VÌ SAO CÓ CUỘC CHIẾN Ý THỨC HỆ QUỐC – CỘNG TẠI VIỆT NAM?

Theo nhận định của chúng tôi có hai nguyên nhân Chủ yếu đã đưa đến cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam: Nguyên nhân lịch sử và nguyên nhân mâu thuẫn đối kháng giữa ý thức hệ quốc gia và ý thức hệ cộng sản trên bình diện lý luận và thực tiễn.



I/- NGUYÊN NHÂN LỊCH SỬ.

Chính bối cảnh đất nước bị ngoại xâm và nhu cầu kháng chiến giành độc lập của nhân dân Việt Nam đã đưa đến cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam.



Thật vậy, trước hết một cách tổng quát: Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và cuộc kháng chiến trường kỳ của các thế hệ quốc dân Việt Nam yêu nước nhằm đánh đổ chế độ thuộc địa, giành độc lập, tự chủ cho dân tộc đã là bối cảnh du nhập và phát triển ý thức hệ cộng sản tại Việt Nam.

1.- Từ ý thức hệ quốc gia chủ đạo kháng chiến chống thực dân Pháp.

Thật vậy, vào giữa thế kỷ 18, Châu Âu kỹ nghệ hóa cần nhiều nguyên liệu, thị trường tiêu thụ hàng hóa phục vụ cho nhu cầu phát triển chính quốc, các đế quốc đã thi nhau tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược mở rộng thuộc địa. Đế quốc Anh sau khi củng cố quyền thống trị trên Ấn Độ, đã thôn tính Úc châu, Tân Tây Lan, chuẩn bị thực hiện ý đồ xâm lược Trung quốc qua cuộc Chiến Tranh Nha Phiến. Trong khi đó, thực dân Pháp đã chiếm Algerie và đang đi tìm căn cứ trên bờ biển Trung quốc, làm bàn đạp thôn tính các nước trong vùng.


Ngày 31-8-1858, Chiến Hạm Pháp đã bắn phá cửa biển Đà Năng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, để sau đó từng bước thiết lập chế độ thuộc địa tại Việt Nam, bành trướng qua Lào và Kampuchia. Tất nhiên, không phải là dễ dàng khi thực hiện quá trình xâm lược này (1958-1884). Trên thực tế, thực dân Pháp đã phải đương đầu với các cuộc kháng chiến liên tục và đều khắp đất nước của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam.

Trong những ngày đầu, lịch sử Việt Nam ghi nhận có các cuộc nổi dậy của nhân dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân và nhiều sĩ phu yêu nước Miền Nam. Tiếp đến là các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp giành độp dưới ngọn cờ “Cần Vương, Văn Thân”, nối tiếp nhau trong nhiều thập niên cuối thế kỷ XIX. Hầu hết các nhà lãnh đạo các phong trào này đều xuất thân trong hàng ngũ quan lại chế độ quân chủ chuyên chế Việt Nam như Tôn Thất Thuyết,Phan Đình Phùng,Hoàng Hoa Thám, Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật…Vì thế ý thức hệ quốc gia chủ đạo kháng chiến giai đọan này là ý thức hệ thần quyền Thiên Mệnh của Khổng giáo.Theo đó từ nhà lãnh đạo đến quần chúng tham gia kháng chiến có chung ý tưởng hy sinh đánh đuổi thực dân Pháp giành lại ngai vàng cho Vua, cho hoàng tộc để tái lập quyền cai trị độc lập tự chủ của người Việt Nam. Bởi vì hệ tư tưởng quân chủ chuyên chế Khổng Mạnh, du nhập từ Trung quốc, dựa trên thuyết thần quyền thiên mệnh: Vua là Thiên tử,được Trời trao ban quyền cai trị muôn dân, là chủ đất nước, là biểu tượng quốc gia. Đạo quân thần đã đưa đến hệ quả là lòng “Trung quân, ái quốc”, là trung thành, hy sinh sống chết bảo vệ ngai vàng cho Vua tức là yêu nước vậy…

Bước qua đầu thế kỷ XX,trào lưu tư tưởng dân chủ Phương Tây đã thẩm nhập vào Việt Nam và trở thành ý thức hệ thứ hai chủ đạo kháng chiến chống Pháp giành độc lập dân tộc. Những tác phẩm nổi tiếng như “L’Esprit Des Lois”, “Contrat Social” của Montesquieu và J.J Rousseau cũng như những tư tưởng tự do, công bình, bác ái, nhân quyền, và các quyền dân chủ, dân sinh khởi đi từ cuộc Cách Mạng Pháp 1789 đã ảnh hưởng đến chiều hướng đấu tranh của các nhà ái quốc Việt Nam.Thêm vào đó là trào lưu tư tưởng của các nhà dân chủ Trung Hoa như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, cùng với một nước Nhật canh tân tiến đến tự cường và trở thành một cường quốc Á Châu cũng đã là những tấm gương sáng có sức thu hút mạnh mẽ giới sĩ phu yêu nước ViệtNam.

Thực vậy, từ đầu thế kỷ XX, lịch sử Việt Nam bắt đầu ghi nhận` tư tưởng chủ đạo kháng chiến chống Pháp đi từ trung dung “Nửa quân chủ, nửa dân chủ” đến “dân chủ hoàn toàn”.


Phong trào Đông Du (1906-1908) của cụ Phạn Bội Châu, Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) của cụ Phan Chu Trinh và Việt Nam Quang Phục Hội của Cụ Phan Bội Châu…là những phong trào kháng chiến theo chiều hướng trung dung.Theo chiều hướng này, cuộc kháng chiến giành độc lập diễn ra dưới nhiều hình thức, đặt nặng vấn đề giáo dục quần chúng, nâng cao dân trí, cổ vũ lòng yêu nước, chuẩn bị về lâu về dài cho các cuộc khởi nghĩa vũ trang sau này khi đủ thế lực và thời cơ thuận lợi.

Chủ trương của trào lưu kháng chiến này là, sau khi đánh đuổi được thực dân Pháp, sẽ thiết lập một chế độ quân chủ lập hiến kiểu Nhật Bổn và một số quốc gia khác trong vùng như Thái Lan, Mã Lai…Ước mơ của các nhà lãnh đạo kháng chiến lúc này là giành được độc lập rồi, vẫn giữ lại ngai vàng cho Vua để trọn đạo “Quân Thần”, đồng thời cũng muốn bảo vệ quyền dân chủ cho nhân dân bằng một bản hiến pháp thành văn. Đây là một chủ trương nhằm dung hòa quyền lợi giữa giai cấp thống trị và nhân dân bị trị, giúp cho các nhà lãnh đạo xuất thân từ “Cửa Khổng, sân Trình” cảm thấy an tâm trọn đạo thánh hiền. Nhưng rồi ước mơ này cũng đã không thực hiện được. Các phong trào đấu tranh theo hệ tư tưởng trung dung cũng đã lần lượt bị thất bại, nhường chỗ cho một khuynh hướng tích cực hơn xuất hiện trong hàng ngũ các nhà lãnh đạo theo Tây học.

Điển hình cho khuynh hướng này có Nguyễn Thái Học và các đồng chí của Ông, đã hình thành một chính đảng kiểu Tây Phương đầu tiên: “Việt Nam Quốc Dân Đảng”(1923-1924).Do chịu ảnh hưởng trực tiếp về tư tưởng và tổ chức của Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Việt Nam Quốc Dân Đảng chủ trương đấu tranh bằng bạo lực quân sự kết hợp với sức mạnh nổi dậy của quần chúng để giành độc lập dân tộc.Sau đó thiết lập chế độ dân chủ theo mô hình “Tam dân chủ nghĩa” của Tôn Văn và vận dụng nguyên tắc phân quyền của hệ dân chủ Phương Tây, để dân chủ, dân quyền được tôn trọng, dân sinh được ấm no, hạnh phúc.

Với lòng yêu nước nồng nàn, bầu nhiệt huyết tuổi trẻ, năm 1930 lãnh tụ Nguyễn Thái học và Việt Nam Quốc Dân Đảng đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa võ trang cướp chính quyền ở Yên Báy. Cuộc khởi nghĩa này đã không thành công, Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí của Ông đã hiên ngang bước lên đoạn đầu đài nhận lãnh cái chết anh hùng cho “Tổ Quốc quyết sinh”. Mục tiêu và ước mơ tối hậu của các nhà ái quốcViệt Nam tuy chưa thành công, nhưng “đã thành nhân” như lời khẳng định trước đó của lãnh tụ Nguyễn Thái Học.


2.- Đến ý thức hệ cộng sản chủ đạo kháng chiến chống Pháp.

Sau cuộc khởi nghĩa Yên Báy của Việt Nam Quốc Dân Đảng thất bại, thực dân Pháp đã thực hiện các cuộc ruồng bắt và đàn áp dã man các nhà ái quốc việt Nam. Từ đây khuynh hướng đấu tranh giành độc lập theo hệ tư tưởng quân chủ Đông phương hệ tư tưởng dân chủ Tây Phương như tạm thời lắng dịu.Một khuynh hướng đấu tranh chống thực dân Pháp theo hệ tư tưởng Marxism-Leninnism, tức ý thức hệ cộng sản xuất hiện. Khuynh hướng này có mục tiêu tối hậu khác với mục tiêu tối hậu của khuynh hướng chống thực dân Pháp trước đó, gọi chung là ý thức hệ quốc gia. (Quân chủdân chủ).

Nghĩa là, nếu khuynh hướng theo ý thức hệ quốc gia có mục tiêu tối hậu của cuộc kháng chiến chống pháp là giành độc lập dân tộc, để sau đó thiết lập một chế độ quân chủ hay quân chủ lập hiến hoặc một chế độc dân chủ đại nghị, thì khuynh hướng theo ý thức hệ cộng sản chỉ coi “Giành độc lập” là mục tiêu giai đoạn. Mục tiêu tối hậu của khuynh hướng ý thức hệ cộng sản là đưa đất nước và dân tộc Việt Nam vào hệ thống cộng sản quốc tế để thực hiện chủ nghĩa cộng sản, tiến tới một “Thế giới đại đồng”, không còn biên giới quốc gia, vì sự nghiệp của cộng sản quốc tế(cộng sản hóa toàn cầu).


Thật vậy,lãnh tụ của cuộc kháng chiến chống Pháp theo hệ tư tưởng cộng sản là Nguyễn Tất Thành, tức Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Chí Minh.

Theo tài liệu tuyên truyền của Việt cộng, thì ông Hồ Chí Minh khởi đầu là người theo chủ nghĩa yêu nước mang ý thức hệ quốc gia trước khi trở thành môn đồ của chủ nghĩa cộng sản.Xuất thân từ một nền giáo dục nửa Nho học, nửa Tây học, biết đọc biết viết, không học vị. Năm 1911 Ông Hồ đã ra khỏi nước, bôn ba nhiều năm ở hải ngoại, nơi các nước đế quốc tư bản cũng như thuộc địa để tìm đường cứu nước…Sau cùng Ông Hồ đã “tìm ra được con đường cứu nước”; rằng “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác ngoài con đường Cách mạng Vô sản”(1). Ông Hồ vui mừng và thốt lên câu nói này có lẽ là vì Ông tin tưởng vào thế đối cực hình thành sau cuộc Cách Mạng Tháng 10 Nga năm 1917, có thể dựa vào Liên Xô như một thế đối trọng sẽ đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến Thành Công. Thực tế sau này quả Ông Hồ đã thành cộng sau cuộc kháng chiến chín năm dưới sự chủ đạo của đảng CSVN nhờ thế dựa vào cộng sản quốc tế.Thế nhưng nếu cái gọi là cuộc chiến thắng Điện Biên kết thúc chín năm kháng chiến, đã chấm dứt được chế độ thực dân Pháp thì Ông Hồ và đảng CSVN đã đưa đất vào vòng nô lệ mới trong gọng kìm của cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, với hai cực cường Liên Xô – Hoa Kỳ, đã xô đẩy nhân dân và đất nước vào một thảm trạng mới, đã gây hậu quả nghiêm trọng, toàn diện, di hại lâu dài cho dân cho nước sau này.Chính vị hệ quả này chúng tôi cũng như nhiều người khác cho rằng cuộc kháng chiến 9 năm do Ông Hồ và đảng CSVN phát động chủ đạo tiến hành là sự phí phạm xương máu nhân dân, tài nguyên đất nước không cần thiết, vì Việt Nam vẫn có thể được độc lập bằng phương cách hòa bình vào thời điểm chủ nghĩa thực dân cũ đã bước vào thời kỳ cáo chung, nhiều thuộc địa khác không cần đổ máu cũng đã được trao trả độc lập cùng thời hay sớm hơn, tiêu biểu như đế quốc Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ ngày 15-8-1947, cho Pakistan ngày 14-8-1947, cho Afghanistan ngày 14-9-1949; đế quốc Hòa Lan trao trả độc lập cho Indonesia ngày 14-8-1949…

Trong khi trước đó, cuộc kháng chiến chống pháp dưới sự lãnh đạo của các nhà ái quốc theo ý thức hệ quốc gia sở dĩ chưa thành công vì những điều kiện khách quan không thuận lợi nên không tìm được thế dựa trong bối cảnh độc cực, với các cường quốc đế quốc có chung chủng loại thực dân chia nhau xâm chiếm các quốc gia nghèo yếu làm thuộc địa khai thác lợi nhuận. Ngay cả nỗ lực của một số nhà ái quốc Việt Nam như Phan Bội Châu qua phong tráo Đông Du, muốn tìm thế dựa Nhật Bổn một cường quốc mới trong vùng Châu Á, mới manh nha đã thất bại.Vì vậy Ông Hồ đã vui mừng đến phát khóc và hét to một mình như thế trong nhà trọ ở Paris Pháp quốc, sau khi đọc được tác phẩm kinh điển nổi tiếng của Vladimir Lenine “Luận Cương Chính Trị Tháng Tư” (2). Nội dung tác phẩm này viết về vấn đề thuộc địa và các dân tộc bị áp bức. Ông Hồ như được giác ngộ bởi lý tưởng cộng sản và đã gia nhập đảng Cộng Sản Pháp (1920), qua Liên Xô, được giáo dục, đào tạo để trở thành môn đồ trung thành của chủ nghĩa Cộng sản.Từ đó Ông Hồ liên lạc , tuyên truyền, huấn luyện, tuyển chọn,móc nối được một số đồng chí, tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hongkong (3-2-1930).

Theo chính cương và sách lược đấu tranh của Cộng đảng Việt Nam được thông qua trong Đại Hội thành lập đảng thì có hai mục tiêu đấu tranh trường kỳ: Đánh đuổi thực dân Pháp để giải quyết mâu thuẫn dân tộc(với thực dân Pháp) và cộng sản hóa Việt Nam để giải quyết mâu thuẫn giai cấp ( giữa giai cấp công nhân với tư bản, nông dân với địa chủ, giai cấp thống trị với bị trị…).Để đánh đuổi thực dân Pháp,Cộng đảng Việt Nam đã tiến hành cuộc “Cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân”. Để cộng sản hóa Việt Nam, Cộng đảng Việt Nam đã tiến hành “cách mạng Xã hội Chủ Nghĩa”. Lực lượng chủ yếu để tiến hành các cuộc cách mạng trước sau này, theo lý luận là giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và nhân dân lao động nghèo, dưới sự lãnh đạo độc tôn của Cộng đảng Việt Nam.Phương thức đấu tranh chủ yếu là “bạo lực cách mạng(bao gồm bạo lực quân sự kết hợp với bạo lực chính trị), được thực hiện dưới nhiều hình thức: bí mật, công khai, hợp pháp, bán hợp pháp và bất hợp pháp, bằng mọi thủ đoạn cần thiết để thành đạt mục tiêu theo phương châm “Cứu cánh biện minh cho hành động”.

Trên thực tế, từ ngày thành lập Cộng Đảng Việt Nam, dù có lúc thay tên đổi họ (Đảng Cộng Sản Đông Dương, Đảng Lao Động Việt Nam), thậm chí có lúc do tình hình thực tế đòi hỏi phải tuyên bố tự giải tán, nhưng qua cuộc kháng chiến chống Pháp (1930-1954),cuộc chiến tranh Quốc-Cộng (1954-1975) và qua 55 năm kể từ ngày thành lập đảng CSVN đến khi thực hiện chính sách “Đổi Mới” (1930-1985) sau khi nắm quyền thống trị cả nước, Việt cộng đã thực hiện khá sát chính cương và sách lược trên đây của họ. (Thực hiện như thế nào, chúng tôi sẽ trình bầy chi tiết trong tài liệu nghiên cứu lý luận “Cuộc Nội Chiến Ý Thức Hệ Quốc – Cộng Tại Việt Nam”).



II/- NGUYÊN NHÂN MÂU THUẪN ĐỐI KHÁNG GIỮA Ý THỨC HỆ QUỐC GIA VÀ Ý THỨC HỆ CỘNG SẢN

Mâu thuẫn đối kháng (một mất một còn) giữa ý thức hệ quốc gia và ý thức hệ cộng sản đã là nguyên nhân chủ yếu thứ hai đưa đến cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc- Cộng tại Việt Nam, giữa người Việt theo ý thức hệ quốc gia (Việt quốc) và người Việt theo ý thức hệ cộng sản (Việt cộng). Mâu thuẫn đối kháng này được thể hiện trên hai bình diện lý luận và thực tiễn.


1.- Trên bình diện lý luận, chủ nghĩa cộng sản dù có là một lý tưởng cao đẹp có tính mê hoặc lòng người, nhất là những người trẻ tuổi vốn say mê lý tưởng vào đời, nhưng không tưởng theo nghĩa một lý tưởng không thể thực hiện được. Vì vậy, những cá nhân (đảng viên cộng sản) hay tập đoàn (đảng cộng sản) ở bất cứ quốc gia nào, khi vận dụng chủ nghĩa cộng sản vào thực tiễn đã chỉ là tai họa thảm khốc, phá hủy mọi nền tảng đạo đức, văn hóa dân tộc, mất độc lập tự chủ, đưa nhân dân dân vào cảnh mất tự do, đói khổ, lầm than, di hại nghiêm trọng, toàn diện và lâu dài cho nhiều thế hệ nhân dân,phân hóa dân tộc của quốc gia ấy.

Rốt cuộc, cái gọi là “cuộc cách mạng vô sản” để xây dựng “một xã hội không người bóc lột người” (Từ xã hội: xã hội chủ nghĩa,còn giai cấp, đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, không còn giai cấp, không còn nhà nước…) chỉ là chiêu bài lừa mị của một tập đoàn thống trị độc quyền, độc tôn, độc tài (đảng cộng sản) để xây dựng một xã hội người (với thiểu số cán bộ đảng viên CS) độc quyền áp bức bóc lột người (tuyệt đại đa số nhân dân)” chưa từng có trong lịch sử hình thành các xã hội loài người có giai cấp (xã hội cộng sản nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản…theo duy vật sử quan Marxism)


2.-Trên bình diện thực tiễn, những người cộng sản Việt Nam (Việt cộng) nói riêng, cộng sản quốc tế nói chung, đã tin theo và vận dụng chủ nghĩa cộng sản vào thực tế nước ta, (cũng như một số nước khác trên thế giới),đã gây tác hại nghiêm trọng, tòan diện, lâu dài trên con người, dân tộc và đất nước Việt Nam trong nhiều thập niên qua và di hại lâu dài cho Dân tộc và Đất nước Việt Nam qua nhiều thế hệ sau này.

Vì tin và hành động theo “ý thức hệ cộng sản” Việt cộng đã đánh mất bản sắc dân tộc, tách rời khỏi lịch sử chính thống quốc gia Việt Nam và dùng “Tính giai cấp” và lăng kính “đấu tranh giai cấp” để phê phán chủ quan, không trung thực về các triều đại và các anh hùng hào kiệt của lịch sử Việt Nam, xuyên tạc lịch sử và chối bỏ Tổ Quốc Việt Nam, để chọn và tôn thờ cái gọi là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” là tổ quốc của mình. Và vì vậy cộng sản Việt Nam sẵn sàng hy sinh quyền lợi của Tổ Quốc và dân tộc việt nam cho quyền lợi của đảng Cộng sản Việt Nam và quốc tế cộng sản.

Vì chủ trương hận thù và đấu tranh giai cấp Việt cộng đã phá đổ mọi quan hệ xã hội giữa người với người, đã không ngần ngại thủ tiêu, bắn giết và làm mọi điều tàn ác với với những người anh em cùng mầu da sắc máu, chung nguồn gốc Việt tộc với họ,theo phương châm “cứu cánh biện minh cho hành động”.(như đã làm trong giai đoạn Chiến Tranh Quốc Cộng 1954-1975 điển hình là đã tàn sát, chôn sống hàng ngàn quân dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 ở Huế và các nơi khác trong suốt cuộc chiến tranh Quốc- Cộng)


Vì chủ trương vô thần, chết là hết, nên Việt cộng không sợ hậu quả, đã thẳng tay đàn áp những người dân hữu thần, dùng mọi thủ đoạn, phương cách dù bất nhân, tàn bạo nhằm tiêu diệt mọi tín ngưỡng, mọi tôn giáo, vốn là nhu cầu quan yếu trong đời sống tâm linh của con người, và là một thực thể xã hội góp phần vào nền đạo đức xã hội nhân bản qua mọi thời đại.

Thực tế là, sau khi nắm được quyền thống trị toàn đất nước 39 năm qua và trước đó trên một nửa nước Miền Bắc, đảng Cộng sản Việt Nam đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, với một đảng duy nhất nắm quyền thống trị (đảng CSVN) với một nhà nước “Chuyên chính vô sản” (tức độc tài cộng sản) bác đọat quyền tự do, dân chủ và các nhân quyền cơ bản của nhân dân, thông qua “ một chính quyền của đảng, do đảng và vì đảng cộng sản Việt Nam”, một công cụ trấn áp nhân dân, duy trì và bảo vệ quyền cai trị độc tài, độc tôn, độc quyền với những ưu quyền đặc lợi của một giai cấp thống trị mới, giai cấp cán bộ đảng viên cộng sản,chia nhau nắm quyền chia lợi ở các cấp, các ngành trong bộ máy đảng và bộ máy nhà nước. Nghĩa là một giai cấp thiểu số (khoảng 3 triệu đảng viên CS) thống trị trên tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam (trên 90 triệu dân)từ thượng tầng quốc gia đến hạ tầng cơ sở.

Đó là những lý do khái quát, căn bản trên bình diện lý luận và thực tiễn, khiến những người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia (Việt quốc), hay là những người Việt Nam không cộng sản từ quá khứ đến hiện tại, từ trong nước ra hải ngoại, đã và vẫn đang tiếp tục con đường chống cộng cho đến khi thành đạt mục tiêu lý tưởng theo ý thức hệ quốc gia của mình.



III/- KẾT LUẬN:

Cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc – Cộng tại Việt Nam phát sinh từ hai nguyên nhân: Bối cảnh lịch sử và mâu thuẫn đối kháng giữa ý thức hệ Quốc gia và ý thức hệ Cộng sản.

Nguyên nhân lịch sử bắt nguồn từ sự thất bại của các cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập dưới sự lãnh đạo của các nhà ái quốc theo ý thức hệ quốc gia, do tự mình không đủ sức, lại không tìm được hậu thuẫn quốc tế tạo thế đối trọng khả dĩ thay đổi cán cân lực lượng giữa kháng chiến và nhà cầm quyền thực dân Pháp, khi mà hầu hết các cường quốc đế quốc lúc bấy giờ có chung chủng loại thực dân phân chia nhau xâm chiếm các thuộc địa. Nỗ lực của một số nhà ái quốc theo ý thức hệ quốc gia như nhà ái quốc Phan Bội Châu muốn dựa vào cường quốc Nhật Bổn trong vùng Châu Á qua Phong Trào Đông Du,vì lầm tưởng thuyết “Đại Đông Á” của người Nhật(Người Châu Á giúp người Châu Á) nên thực tế đã thất bại

Chính sự bế tắc này đã dẫn Ông Hồ Chí Minh từ một người theo chủ nghĩa ái quốc đến với chủ nghĩa cộng sản khi tưởng rằng đã tìm được thế dựa quốc tế cho công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc từ Liên Xô và cộng sản quốc tế. Chính vì vậy Ông Hồ đã vui mừng đến phát khóc và hét to một mình trong nhà trọ ở Paris Pháp quốc rằng “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác ngoài con đường Cách mạng Vô sản”.


Thế nhưng chính sự lựa chọn lầm lẫn này Ông Hồ đã đưa đất nước vào một cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc – Cộng tại Việt Nam kéo dài trong nhiều thập niên qua đến nay vẫn chưa chấm dứt. Trên thực tế nó đã trở thành tai họa cho nhân dân và đất nước, đã thể hiện ý nghĩa trái ngược với ý nghĩa câu nói trên, rằng “Muốn phá nước và xích hóa dân tộc, không có con đường nào khác hơn, ngoài con đường cách mạng vô sản ”./.



Thiện Ý

----------
 

0 comments:

Post a Comment

 
Web Statistics