Ông không chết vì bệnh nặng. Ông ra đi vì
mòn mỏi chờ những đứa con vẫn còn biệt tăm trong các trại cải tạo sau
năm 1975. Mỗi buổi chiều, ông lại ngồi trước hiên nhà, nhìn ra con đường
đất như chờ một bóng người quen trở về. Nhưng ngày ấy, điều ông đợi chỉ
là sự im lặng.
Khi cha mất, chị Hai lặn lội theo người
quen lên tận trại giam để báo tin cho em. Chị chỉ mong được nhìn em một
lần, dù từ xa cũng được.
Nhưng cán bộ lắc đầu.
“Không được gặp. Nó đang bị cùm”
Chị đứng chết lặng. Không còn cách nào
khác, chị lấy một mảnh khăn tang màu đen, nhờ một người tù khác lén mang
vào trao giúp. Đó là tất cả những gì em nhận được về cái chết của cha
mình.
Không một nén nhang.
Không một giọt nước mắt trước linh cữu.
Không một lần được quỳ lạy người đã sinh thành.
Chỉ một mảnh khăn tang nhỏ bé giữa bốn bức tường giam.
Rồi chị lại tiếp tục lặn lội đi thăm các anh ở những trại khác. Mỗi người cũng chỉ nhận được một mảnh khăn tang như thế.
Một gia đình có nhiều người con, nhưng khi
cha mất, không ai được về chịu tang. Nỗi đau bị chia cắt thành từng
mảnh vải đen, lặng lẽ truyền tay trong những trại giam.
Ít lâu sau, mẹ già vừa qua cơn bệnh nặng cũng quyết vượt rừng đi thăm con.
Bà mang theo chút gạo, ít đường và niềm hy
vọng mong được nhìn mặt đứa con sau bao năm xa cách. Nhưng khi đến nơi,
cán bộ lại lạnh lùng nói:
“Nó đang bị cùm. Không được gặp.”
Lý do chỉ vì người tù ấy đã dám mạt sát
“Tám Keo” nên bị biệt giam. Người mẹ già ôm gói quà quay lưng ra về,
nước mắt rơi suốt con đường rừng.
Ở bên trong, người con biết mẹ vừa đến rồi
lại phải trở về. Anh liều mình trốn khỏi hầm giam, chỉ mong nhìn theo
bóng mẹ một lần cuối. Chưa kịp đến gần…
Tiếng còi báo động vang lên.
Lính gác cùng chó săn bao vây.
Anh bị bắt lại ngay trước cánh rừng, rồi bị quy thêm tội “âm mưu vượt trại”.
Sau đó là những trận đòn trả thù.
Là hầm sâu biệt giam.
Là xiềng xích.
Là những tháng năm không được nhận thư, không được gửi thư, không một tin tức với gia đình.
Mãi đến năm 1982, việc liên lạc bằng thư từ mới được phép trở lại.
Năm năm.
Năm năm của một gia đình sống trong mù mịt, không biết người thân còn hay mất.
Có những người thường nói rằng thời gian sẽ xóa nhòa tất cả. Nhưng có những nỗi đau không nằm ở vết thương trên thân thể.
Đó là người cha nhắm mắt mà không được nhìn thấy con.
Là người con nhận tin cha mất qua một mảnh khăn tang.
Là người mẹ già vượt rừng chỉ để bị từ chối.
Là những bước chân bò theo bóng mẹ rồi bị kéo trở lại trong xiềng xích.
Những ký ức ấy không nhằm nuôi dưỡng hận
thù. Nhưng chúng là một phần của lịch sử đời người, của biết bao gia
đình Việt Nam đã đi qua những năm tháng ấy.
Và vì thế, mỗi khi có ai hỏi:
“Những đau thương ấy có quên được không?”
Có lẽ câu trả lời là:
Người ta có thể học cách sống tiếp. Có thể
tha thứ nếu lòng mình đủ bao dung. Nhưng để quên, thì có những điều
suốt một đời người vẫn không thể quên.
( Người chết ở An Lộc – Giữa đống đổ nát
của chiến tranh, người lính Miền Nam Việt Nam rót chén rượu gạo, đặt
trên mộ của vợ mình ở An Lộc, phía bắc Sài Gòn. Người vợ bị chôn vùi
trong đống gạch vụn trong căn nhà gia đình mình khi thành phố giao tranh
ác liệt, nơi có nhiều thường dân bị thiệt mạng năm 1972.)
An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân! (1)
Chiến trường gian khổ đời lính trận
Sống chết lẽ thường kiếp chinh nhân
Ta tiến núi cao ngăn giặc dữ
Nào ngờ quê mẹ chiến cuộc tràn
Khói lửa cướp đi người vợ trẻ
Nghĩa trang sương lạnh bóng chiều hoang
Chén rượu âm dương dâng trước mộ
Hãy uống cùng anh nghĩa đá vàng !
Lac Nguyen. 3/7/2022.
(1) Hai câu thơ được cô giáo Pha ghi lại trước nghĩa trang của LĐ 81 Biệt Cách Dù ở An Lộc vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Có những người phụ nữ không được lịch sử nhắc tên.
Nhưng họ đã hy sinh cả tuổi xuân của mình bằng một chữ rất đơn giản:
Chờ.
Sau năm 1975, khi người chồng bị đưa vào tù trại cải tạo, không ai biết ngày về là bao giờ.
Ba tháng?
Ba năm?
Hay mười năm?
Không một tờ giấy bảo đảm.
Không một lời hứa.
Chỉ là những đứa con thơ ngơ ngác hỏi:
– Má ơi… chừng nào ba về?
Người mẹ quay mặt đi, lén lau nước mắt.
– Rồi ba sẽ về…
Chính bà cũng không biết câu trả lời ấy có thật hay không.
Những năm tháng ấy, người vợ lính sống
trong muôn vàn thiếu thốn. Ban ngày ra đồng, buôn thúng bán bưng, gánh
hàng thuê. Đêm về vá áo cho con dưới ánh đèn dầu leo lét.
Có người thương cảnh mẹ góa con côi. Có người thật lòng. Có người ngỏ ý:
– Em còn trẻ… để anh lo cho mẹ con em. Đời còn dài, chờ làm gì…
Bà chỉ cúi đầu, im lặng. Một lúc sau mới nhỏ nhẹ:
– Cám ơn anh. Nhưng chồng em vẫn còn sống.
Người kia thở dài:
– Biết đến bao giờ ảnh mới về?
Bà nhìn về phía xa, nơi cuối con đường đất.
– Em cũng không biết… Nhưng em tin ảnh sẽ về.
Chỉ vậy thôi. Không phải vì bà không cô
đơn. Không phải vì bà không cần một bờ vai. Mà vì trong lòng bà vẫn còn
nguyên lời hứa ngày cưới.
“Dù giàu hay nghèo, dù hoạn nạn hay gian nan…”
Bao nhiêu lần nghe tin người này chết trong trại. Bao nhiêu lần nghe người kia mất vì bệnh. Đêm nào bà cũng cầu nguyện:
Xin Chúa gìn giữ người chồng nơi rừng sâu. Xin cho anh còn sống. Để một ngày nào đó…
Anh còn biết đường về nhà.
Mười năm. Có người chờ mười hai năm. Có người mười lăm năm.
Tuổi xuân lặng lẽ đi qua. Mái tóc đen ngày nào giờ đã lấm tấm bạc.
Ngày người đàn ông bước ra khỏi cổng trại cải tạo, chiếc áo rộng thùng thình trên thân hình gầy guộc.
Ông đứng trước căn nhà cũ.
Advertisement
Privacy Settings
Không dám gõ cửa.
Sợ… Sợ vợ đã đi lấy chồng. Sợ con không còn nhận cha.
Cánh cửa mở ra. Người phụ nữ đứng lặng.
Hai người nhìn nhau rất lâu. Không ai nói được lời nào. Chỉ có nước mắt
rơi. Bà mỉm cười:
– Em biết… thế nào anh cũng về.
Ông ôm lấy vợ, nghẹn ngào:
– Anh đã để em khổ quá…
Bà lắc đầu.
– Chỉ cần anh còn sống là được.
Có những cuộc tình không cần những lời yêu nồng cháy.
Chỉ cần một người đi. Một người đợi.
Và người đợi ấy đã giữ trọn lời thề suốt những năm tháng đen tối nhất của cuộc đời.
Đó là lòng chung thủy.
Đó là phẩm giá.
Và cũng là vẻ đẹp lặng lẽ của biết bao người vợ lính Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1975.
Advertisement
Privacy Settings
Họ không làm nên lịch sử bằng súng đạn.
Nhưng họ giữ gìn một mái ấm bằng sự hy sinh, lòng thủy chung và niềm tin không bao giờ tắt.
Phạm Sơn Liêm.
----
ÁO LÍNH TRONG TỦ GỖ
Có những di sản không phải là nhà cửa.
Không phải tiền bạc. Mà chỉ là một bộ quân phục đã bạc màu, một đôi giày
trận đã bong đế và một tấm thẻ bài bằng kim loại đã gỉ sét theo năm
tháng.
Người cha mặc bộ quân phục ấy lần cuối vào tháng Tư năm 1975.
Sau đó là những năm dài trong trại cải
tạo. Khi trở về, ông gầy như một cái bóng. Bộ quân phục đã không còn
được phép mặc nữa. Ông gấp thật ngay ngắn, đặt vào chiếc vali cũ rồi cất
trên nóc tủ.
Ông chưa bao giờ kể nhiều về chiến tranh.
Chỉ đôi lúc, ngồi một mình, ông mở chiếc vali, vuốt nhẹ lên hàng khuy áo
đã ngả màu, rồi lặng lẽ đóng lại.
Ngày ông mất, người con trai là người dọn chiếc vali ấy. Bên trong vẫn còn nguyên bộ đồ lính VNCH. Chiếc mũ trận.
Chiếc dây nịt. Một đôi giày đã cứng như gỗ. Và tấm thẻ bài đã gỉ sét gần hết, nhưng tên người cha vẫn còn đọc được.
Người con trai cầm lên rất lâu. Anh không khóc. Chỉ thấy lòng mình nặng như đang cầm cả một đời người.
Bạn bè nhiều lần bảo:
— “Giữ làm gì mấy thứ này?”
Anh chỉ cười.
“Là của ba tôi.”
Thế thôi.
Anh không mặc bộ quân phục ấy.
Không chụp hình.
Không đem trưng bày.
Nó chỉ được treo trong một góc tủ quần áo, phủ bằng một tấm vải trắng.
Nhưng năm nào cũng vậy Đến ngày giỗ cha.
Anh lại mở tủ. Đem bộ áo lính ra. Cắm điện bàn ủi. Cẩn thận vuốt từng
nếp áo. Ủi thật thẳng hai tay áo. Vuốt từng nếp quần. Đánh bóng lại đôi
giày cho sạch bụi. Lau chiếc dây nịt. Rồi dùng khăn mềm chà nhẹ tấm thẻ
bài gỉ sét. Tấm thẻ chẳng thể sáng lên nữa.
Nhưng anh vẫn lau.
Như thể đang lau lại ký ức của cha mình.
Vợ anh từng hỏi:
“Ba mất lâu rồi… sao năm nào anh cũng ủi?”
Anh nhìn bộ quân phục thật lâu rồi đáp nhỏ:
“Ba không còn để mặc nữa…”
“…nhưng bộ đồ này vẫn xứng đáng được tươm tất.”
Căn nhà im phăng phắc.
Đứa con trai nhỏ đứng bên cạnh nhìn cha. Nó chưa hiểu chiến tranh.
Chưa hiểu Việt Nam Cộng Hòa.
Chưa hiểu cải tạo.
Nhưng nó nhớ hình ảnh ba mình cặm cụi ủi
bộ quân phục cũ mỗi năm. Có lẽ nhiều năm sau nữa… Khi người con trai ấy
lớn lên. Chiếc tủ gỗ sẽ lại mở ra. Bộ quân phục sẽ được lấy xuống. Bàn
ủi sẽ lại nóng lên. Và tấm thẻ bài gỉ sét sẽ lại được lau bằng đôi bàn
tay của một thế hệ khác.
Không phải để nuôi hận thù.
Mà để gìn giữ lòng biết ơn.
Bởi có những người lính đã đi hết cuộc đời trong âm thầm.
Và có những người con, suốt cả cuộc đời, chỉ lặng lẽ làm một việc rất nhỏ:
Ủi lại bộ quân phục của cha vào mỗi ngày giỗ.
Đó không chỉ là ủi một tấm áo.
Đó là giữ cho ký ức của một người cha không bao giờ bị nhăn theo năm tháng.
CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU QUÂN SỬ - QUÂN LỰC VNCH : TRẬN GIẢI TỎA CĂN CỨ ĐỨC HUỆ - TỈNH HẬU NGHĨA - QUÂN ĐOÀN III VNCH 1974 .
[LIÊN ĐOÀN HẬU DUỆ VNCH : CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU QUÂN SỬ - QLVNCH ] :
NGƯỜI CHIẾN SĨ THIẾT GIÁP KỴ BINH VÀ BIỆT ĐỘNG QUÂN TRONG HAI NĂM CUỐI
CỦA CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1974-1975) : Trận đánh tróc gốc Sư Đoàn 5
CS - trận đánh này được gọi là trận Đức Huệ, mặc dù cả hai giai đoạn
giao tranh và chiến thắng đều không thực sự diễn ra tại Đức Huệ . Trận
đánh chính diễn ra trên đất KamPuChia - tỉnh SvayRiêng . Đây là cuộc
Hành quân vượt biên giới Cao Miên lần thứ 2 của QLVNCH do các đơn vị
thuộc Quân Đoàn III VNCH thiết kế và hành động . Đồn Đức Huệ nằm về phía
Tây Bắc cách Sài Gòn 56 cây số, do Tiểu Đoàn 83 Biệt Động Quân phòng
thủ với quân số trên dưới 420 người . Quận Đức Huệ thuộc tỉnh Hậu Nghĩa ,
nay nhập vào tỉnh Long An vùng Mỏ Vẹt. Đồn chỉ cách biên giới Miên -
SvayRiêng có 6 Km, khoảng cách lý tưởng để thực hiện pháo kích tấn công
của những tiểu đoàn pháo binh CS đặt cách biên giới 5, 7 cây số ...
(Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi Tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh )
1. Tình hình chung ở Vùng 3 Chiến Thuật
Sau khi ký kết Hiệp Định Paris, đầu năm 1973, Quân đội Mỹ ở Miền Nam
Việt Nam (MNVN) bắt đầu rút quân về nước. Các đơn vị chủ lực của CS ở
Vùng 3 Chiến Thuật gồm có 3 Sư Đoàn Bộ binh: 5, 7, 9 và các đơn vị đặc
công ém quân bên kia biên giới Việt Miên thường xuyên xâm nhập vào lãnh
thổ VNCH quấy nhiễu hoặc bao vây tấn công các đồn biên phòng của chúng
ta dọc theo biên giới ở các tỉnh Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Long và Phước
Long. Chủ lực của Quân Đoàn III gồm có 3 Sư Đoàn Bộ Binh 5, 18, 25 và
Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh được sự yểm trợ trực tiếp của Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh
155 ly, Tiểu Đoàn 61 PB 105 ly và Liên Đoàn 30 Công Binh dưới quyền chỉ
huy của Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, một mặt phải lo dàn mỏng quân ra
thay thế Lực lượng II Dã chiến Hoa Kỳ để bảo vệ lãnh thổ chống lại chủ
trương "dành dân lấn đất" của Cộng sản sau khi Hiệp Định Paris ra đời;
mặt khác, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Quân Đoàn III phạm sai
lầm rất lớn về tổ chức và sử dụng lực lượng là giải tán Lực Lượng Xung
Kích Quân Đoàn III và phân tán nát Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ra từng mảnh nhỏ
sau khi tôi rời Lữ Đoàn đi du học ở Hoa Kỳ năm 1972. Hai sự kiện đó làm
cho Quân Đoàn III bị suy yếu trầm trọng và hoàn toàn bị mất đi tính di
động. Vì thế mà Lộc Ninh bị địch chiếm và các đồn biên phòng ở Tây Ninh
lần lượt bị lọt vào tay địch. Tháng 7 năm 1973 tôi từ Mỹ trở về nước.
Trung Tướng Phạm Quốc Thuần cũng vừa thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn
Minh đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân Đoàn III. Ông nghe tiếng tôi đã từng
chỉ huy Chiến Đoàn 318 và Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh đánh thắng nhiều trận lớn
trên chiến trường Campuchia từ thời Đại Tướng Đỗ Cao Trí trong 2 năm
1970-1971, nên vận động xin tôi về trở lại Quân Đoàn III với ông. Ngày 7
tháng 11 năm 1973, tôi nhận quyền chỉ huy Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ở Biên Hòa.
Việc đầu tiên là tôi gom các đơn vị Thiết Giáp bị phân tán về lại
Lữ Đoàn và trình Trung Tướng Thuần gấp rút tổ chức lại Lực Lượng Xung
Kích Quân Đoàn III (LLXKQĐIII) theo mô hình tổ chức của Đại Tướng Đỗ Cao
Trí. Ông cho tôi toàn quyền hành động. Tình hình quân sự ngày càng
nặng sau khi quân Mỹ rút đi. Trong "Mùa Hè Đỏ Lửa" 1972, nhiều chiến xa
T-54 địch xuất hiện lần đầu tiên ở miền Nam trên chiến trường ở An Lộc,
nên tôi tiên đoán chiến trường tương lai chiến xa địch có thể xuất hiện
ở Biên Hòa; tôi xin Quân Đoàn trang bị cho tất cả các đơn vị Địa Phương
Quân ở Biên Hòa súng phóng hỏa tiễn M72 chống chiến xa, được phép huấn
luyện họ sử dụng loại vũ khí này và huấn luyện họ phối hợp tác chiến với
Thiết Giáp, đồng thời tích cực tổ chức địa thế chống chiến xa địch
chung quanh thành phố Biên Hòa. Các đường xâm nhập vào thành phố đều
được thiết kế đặt mìn chống chiến xa và hầm hào chống chiến xa địch.
Tôi ra sức cải tổ lại Lữ Đoàn 3 KB cho phù hợp với địa thế Việt Nam.
Mỗi chi đội chiến xa có 3 chiến xa M48 thay vì 5 chiếc. Tôi cơ động hóa
Pháo Binh bằng cách dùng xe xích M548 biến cải chở pháo 105 ly. Tôi tổ
chức LLXKQĐIII thành một đại đơn vị liên binh Thiết Giáp - Biệt Động
Quân - Pháo Binh - Công Binh hoàn toàn cơ động gồm 3 Chiến Đoàn : 315,
318 và 322. Tôi gấp rút huấn luyện tác chiến liên binh thuần thục và
thường xuyên làm công tác tư tưởng để mọi quân nhân hiểu rõ địch, hiểu
rõ nhiệm vụ và mục tiêu chiến đấu của chúng ta, nhất là để mọi chiến sĩ
dưới quyền có niềm tin ở sự chỉ huy của tôi. Đến hạ tuần tháng ba, 1974,
LLXKQĐIII đã trở thành một đại đơn vị cơ động tinh nhuệ sẵn sàng lên
đường chiến đấu. 2.Tình hình đặc biệt : Cuộc chiến đấu can đảm
của Tiểu Đoàn 83 Biệt Động Quân Căn Cứ Đức Huệ nằm khoảng 56 Km hướng
Tây Bắc Sài Gòn gần biên giới Việt Miên thuộc quận Đức Hòa, tỉnh Hậu
Nghĩa do Tiểu Đoàn 83 BĐQ Biên phòng trấn giữ với quân số trên dưới 420
người cùng với gia đình vợ con binh sĩ vào khoảng 80 người sống trong
căn cứ nguyên là một trại Lực lượng Đặc biệt của Mỹ để lại . Tiểu
Đoàn trưởng là Thiếu Tá Hoa Văn Hạnh. Khi xảy ra trận chiến thì Thiếu Tá
Hạnh đi nghỉ phép vắng mặt. Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo, Tiểu Đoàn phó thay
thế chỉ huy. Tiểu Đoàn 83 BĐQ có 4 Đại Đội tác chiến và 1 Đại Đội Chỉ huy và Công vụ: - Trung Úy Thạch Thông chỉ huy Đại Đội 1, - Trung Úy Hiền chỉ huy Đại Đội 2, - Trung Úy Thất chỉ huy Đại Đội 3, - Trung Úy Tuội chỉ huy Đại Đội 4 - Thiếu Úy Vạng chỉ huy Đại Đội Chỉ huy và Công vụ.
Được tin tình báo CS sẽ đến đánh căn cứ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo cho 3
Đại Đội tác chiến ra ngoài căn cứ: 1 Đại Đội bố trí các tiền đồn an ninh
xa và 2 Đại Đội hành quân tìm và diệt địch ngoài xa căn cứ. Còn lại một
Đại Đội tác chiến trừ bị bố phòng trong căn cứ. 1) Đêm 27- 3
-1974, một đaị đội Đặc công CS xâm nhập được vào bên trong Căn Cứ Đức
Huệ; vào lúc 02:00 giờ sáng ngày 28-3-1974, chúng chiếm được một góc
trong căn cứ. Ngay từ những phát súng nổ đầu tiên, Thiếu Tá Bảo bị
thương ở chân, gọi được 3 Đại Đội tác chiến bên ngoài gấp rút trở về.
Tiểu Đoàn tập trung lại phản công quyết liệt. Bên ngoài căn cứ, Sư Đoàn 5
CS (Công Trường 5) bao vây chặt; pháo binh địch tập trung hỏa lực pháo
kích vào căn cứ rất dữ dội. Bên trong căn cứ Biệt Động Quân và Đặc công
CS cận chiến giành nhau từng vị trí một, đánh nhau bằng lưỡi lê và lựu
đạn. Đến sáng thì đại đội Đặc công CS bị quân ta tiêu diệt hết.
Tiểu Đoàn 83 BĐQ làm chủ tình hình bên trong căn cứ, tổ chức lại phòng
thủ chặt chẽ và sử dụng Pháo Binh của Tiểu Khu Hậu Nghĩa bắn yểm trợ hỏa
lực chung quanh căn cứ. Trong khi đó, các Đại Đội tác chiến BĐQ bố
phòng bên trong chặn đứng các đợt xung phong bên ngoài của các đơn vị bộ
bnh Sư Đoàn 5 CS. Hai bên giao chiến ác liệt ngày đêm không ngừng nghỉ.
Tiểu Đoàn 36 BĐQ do Thiếu Tá Lê Quang Giai chỉ huy, tăng phái cho
Tiểu Khu Hậu Nghĩa, vượt sông Vàm Cỏ Đông ở Đức Hòa tiến về hướng Căn Cứ
Đức Huệ bị phục binh của các đơn vị thuộc Sư Đoàn 5 CS ở Giồng Thổ Địa
thuộc xã Đức Huệ tấn công buộc Tiểu Đoàn phải thối lui lại gần bờ sông
Vàm Cỏ. (2) Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III liền điều động Bộ Chỉ huy Liên
Đoàn 33 BĐQ do Trung Tá Lê Tất Biên phụ trách sang Đức Hòa cùng với
Tiểu Đoàn 64 BĐQ do Thiếu Tá Nguyễn Chiêu Minh chỉ huy. Ngày 31-3-1974,
Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ (khoảng 50 người) do Trung Úy Anh chỉ
huy được trực thăng vận xuống Căn Cứ Đức Huệ tăng cường cho Tiểu Đoàn 83
BĐQ, đồng thời Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) vượt sông Vàm Cỏ Đông ở gần nhà máy
đường Hiệp Hòa, nhập với Tiểu Đoàn 36 BĐQ làm 2 cánh quân tiến song
song về hướng Căn Cứ Đức Huệ ở cách đó chừng 10 cây số đường chim bay về
hướng Tây. Tiến được chừng 2 cây số, khoảng hơn 1 trung đoàn Bộ Binh
thuộc Sư Đoàn 5 CS từ những vị trí hầm hào đào sẵn, xông lên tấn công
mạnh, đồng thời pháo binh địch tập trung hỏa lực bắn xối xả vào đội hình
của hai cánh quân này gây tổn thất nặng. Cuối cùng Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-)
và Tiểu Đoàn 36 BĐQ buộc phải gom quân rút lui về lại bên này bờ sông
Vàm Cỏ . (3) Sư Đoàn 25 BB hành quân giải tỏa. Tiếp theo, Bộ Tư
lệnh QĐIII giao nhiệm vụ cho Sư Đoàn 25 BB do Đại Tá Nguyễn Hữu Toán chỉ
huy, tổ chức hành quân giải tỏa Căn Cứ Đức Huệ. Đại Tá Toán liền điều
động các đơn vị thuộc Sư Đoàn đang hành quân trong vùng lân cận biên
giới từ phía Bắc đến giải tỏa . Một căn cứ hỏa lực được thành lập tại
làng Phước Chỉ thuộc tỉnh Tây Ninh. Căn cứ này nằm cách biên giới khoảng
2 Km về phía Nam đồn biên giới An Hòa và cách Căn Cứ Đức Huệ khoảng 13
Km về phía Bắc. Ngoài Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly cơ hữu Sư Đoàn phối trí
trong căn cứ Phước Chỉ, còn có Trung đoàn 46/SĐ25 BB được tăng cường
Chi đoàn 3/10 Thiết kỵ. Chi đoàn trưởng Chi đoàn này là Đại Úy Trần Văn
Hiền. Tất cả lực lượng liên binh này được đặt dưới quyền điều động của
Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn trưởng Trung đoàn 46 BB và được giám
sát chỉ huy bởi Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 25 BB ở Củ Chi. Để đối phó với
đoàn quân giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB, quân địch đã chủ động tổ chức địa
thế, bố trí quân kín đáo chờ đánh quân tiếp viện. Chúng đặt các chốt
chặn trên trục tiến quân của ta không vượt qua được, đồng thời Pháo Binh
tầm xa của chúng nằm sâu bên kia biên giới mở những trận địa pháo chính
xác, liên tục và ác liệt gây nhiều thương vong cho Trung đoàn 46 BB,
làm tê liệt các cánh quân không điều động được, nên kế hoạch giải tỏa
của Sư Đoàn 25 BB thất bại. Một phi cơ quan sát L19 bị phòng không địch
bắn rơi gần đó, Trung đoàn cũng không tiếp cứu nổi phi hành đoàn. Sau đó
quân địch pháo kích tập trung hỏa lực thẳng vào căn cứ Phước Chỉ bằng
hỏa tiễn 107 ly và 122 ly khiến Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn
trưởng Trung đoàn 46/SĐ25 BB bị tử thương. Trong suốt thời gian gần một
tháng trời, quân bạn không đem lại một kết quả khả quan nào, hàng ngày
vẫn bị pháo kích dồn dập, trực thăng tản thương và tiếp tế bị bắn rớt
ngay trong căn cứ, 1 khu trục cơ Skyraider yểm trợ hành quân và 1 phi cơ
DC3 thả dù tiếp tế bị hỏa tiễn SA 7 bắn rớt; những cánh dù mang lương
thực và đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ thường bay ra ngoài vòng rào và lọt
vào tay quân địch. Như vậy là cả hai nỗ lực từ phía sông Vàm Cỏ Đông của
BĐQ qua và từ phía Bắc của Sư Đoàn 25 BB xuống đều bị thất bại trong
việc tiếp cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ . (4) Những "Anh hùng Alamo Việt Nam".
Bên trong căn cứ, trong lúc đó, các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và Đại
Đội 3 của Trung Úy Anh thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ dưới quyền chỉ huy của
Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo chiến đấu vô cùng dũng mãnh, càng đánh càng hăng
từ lúc đầu cận chiến với đặc công địch bằng lưỡi lê và lựu đạn bên
trong căn cứ cho đến về sau này phải chiến đấu đẩy lui các đợt xung
phong của địch ngày đêm không ngừng nghỉ. Cuối cùng lương thực và đạn
dược bắt đầu cạn, căn cứ bị cô lập không được tiếp tế, không tản thương
được, nhưng không vì thế mà tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ BĐQ bị
suy giảm. Họ thề quyết tử chiến với quân thù. Gia đình vợ con của các
chiến sĩ BĐQ trong căn cứ cũng tích cực tham gia chiến đấu bên cạnh
chồng cha họ. Họ cổ võ, họ giúp tản thương, cứu thương, tiếp tế đạn dược
và lo cơm nước. Có người còn cầm súng chiến đấu vô cùng dũng cảm. Mặc
dù tỷ lệ quân số giữa ta và địch quá chênh lệch, quân địch không sao dứt
điểm được. Xác địch chồng chất ngổn ngang bên trong và bên ngoài Căn Cứ
Đức Huệ. So sánh sự tử thủ nổi tiếng của quân đội Mỹ ở đồn binh
"Alamo" năm 1836 do Trung Tá William Barret Travis chỉ huy với quân số
189 người chống lại sự bao vây và tấn công của hơn 2,000 quân Mễ với tỷ
lệ quân số hai bên là 1/11. Sau 13 ngày đêm tử chiến, đồn binh bị quân
địch tràn ngập ngày 6-3-1836. Tất cả 189 chiến sĩ trong đồn binh đều tử
trận, chỉ còn sống sót 14 người là đàn bà và trẻ con. Khoảng 1,600 quân
Mễ bị giết. Tiểu Đoàn 83 BĐQ phòng thủ trong Căn Cứ Đức Huệ với quân số
khoảng 420 người được tăng cường 50 người của Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn
64 BĐQ. Tổng cộng quân số là 470 người chống lại sự bao vây và tấn công
của hơn 6,500 quân của Sư Đoàn 5 CS với tỷ lệ quân số đôi bên là 1/13.
Sau hơn 1 tháng chiến đấu quyết liệt từ ngày 27-3-1974 đến ngày
28-4-1974, giữ vững vị trí phòng thủ, giết hơn 200 quân địch và gây
thương tích cho khoảng 500 tên khác. Tổn thất bên BĐQ là 24 chết và hơn
100 người bị thương. Mặc dù thời đại có khác nhau, mẫu số chung của
những anh hùng ở Alamo, Camerone và Đức Huệ là sự quyết tâm tử thủ bằng
mọi giá. Với tỷ lệ quân số đôi bên chênh lệch như thế, họ vẫn hiên
ngang chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến hơi thở cuối cùng. Có thể
nói không quá đáng là những chiến sĩ Biệt Động Quân chiến đấu ở Căn Cứ
Đức Huệ đích thật là những "Anh hùng Alamo Việt Nam". 3. Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh - Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III Xuất Trận - Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi :
Vấn đề vô cùng khẩn trương lúc đó là việc tản thương, cứu thương và
tiếp tế lương thực, nước uống, đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ trong lúc mọi
đường giao thông liên lạc vào căn cứ đều bị Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn cắt
đứt nhiều ngày. Căn cứ bị cô lập và bị bao vây chặt. Tình hình bên trong
căn cứ rất căng thẳng. (1) Ngày 17-4-1974, Trung Tướng Phạm Quốc
Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III, cho gọi tôi. Lúc bấy giờ tôi đang chỉ huy
Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh hành quân thám sát "Khu Tam Giác Sắt" và "Vùng Hố Bò",
sau khi Chiến Đoàn 315 của Trung Tá Dư Ngọc Thanh đập tan Tiểu Đoàn Tây
Sơn thuộc Trung đoàn 101 Địa phương CS giải tỏa áp lực địch chung quanh
đồn Bò Cạp và đồn Chà Rày thuộc Chi Khu Trảng Bàng của tỉnh Tây Ninh.
Tôi lên trực thăng chỉ huy bay về Biên Hòa trình diện Trung Tướng Tư
lệnh Quân Đoàn. Ông tiếp tôi và cho tôi biết qua tình hình địch và bạn
và tình trạng hiện nay bên trong Căn Cứ Đức Huệ. Sau đó Trung Tướng ra
lệnh cho tôi lấy trực thăng bay qua Đức Hòa xem xét tình hình chiến sự
bên đó rồi về trình cho ông biết ý kiến. Tôi liền lên trực thăng
bay qua Đức Hòa. Trên đường bay, tôi mải mê lo nghĩ phải làm gì để đối
phó với Sư Đoàn 5 CS đây? Linh tính cho tôi biết có thể tôi sẽ được Bộ
Tư lệnh Quân Đoàn chỉ định giải quyết tình trạng nguy kịch ở Căn Cứ Đức
Huệ. Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn. Cách đánh của quân địch từ trước
tới nay vẫn là "Công Đồn Đả Viện". Địch chủ động tổ chức chiến trường
nhiều ngày chờ ta đến. Pháo binh tầm xa của chúng bố trí an toàn bên kia
biên giới và sẵn sàng mở những trận địa pháo chính xác và ác liệt khó
lọt qua được. Địch lại nắm ưu thế về quân số và địa thế. Ta có lực lượng
Thiết Giáp hùng hậu, ta làm chủ không phận và có không lực yểm trợ mạnh
mẽ. Nhưng gần đây, quân địch được trang bị nhiều vũ khí tối tân của
Liên Sô như hỏa tiễn phòng không tầm nhiệt SA7 đã gây cho Không Lực ta
nhiều tổn thất đáng kể, và hỏa tiễn chống chiến xa AT3, một loại hỏa
tiễn lợi hại có bộ phận điều khiển giống hỏa tiễn TOW chống xe tăng của
Mỹ. Tôi đã từng gặp hỏa tiễn AT3 này một lần trên chiến trường
Campuchia. Mải mê suy nghĩ, trực thăng đáp xuống sân bay Đức Hòa lúc nào
không biết khi một loạt đạn pháo kích của địch nổ chát chúa chung quanh
trực thăng làm tôi giật mình bừng tỉnh. Tôi cầm bản đồ phóng nhanh
xuống đất và ra dấu cho trực thăng bay đi. Tôi vội lên xe Jeep đang chờ
và cho tài xế chạy nhanh đến nhà máy đường Hiệp Hòa là nơi Bộ Chỉ huy
Liên Đoàn 33 BĐQ đang tạm đóng. Tôi leo lên tầng cao nhất của nhà máy. Ở
đây nhìn ra ngoài, ta thấy con sông Vàm Cỏ Đông uốn khúc bên dưới. Bên
kia sông là một dãy đất trải dài xa tắp đến tận biên giới Việt Miên.
Trung Tá Lê Tất Biên, Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 33 BĐQ, tiếp tôi và
thuyết trình cho tôi rõ tình hình của cánh quân BĐQ ở phía Đông Căn Cứ
Đức Huệ. Sau khi vượt sông Vàm Cỏ Đông thất bại, Tiểu Đoàn 36 BĐQ và
Tiểu Đoàn 64 BĐQ đang tổ chức lại hàng ngũ, bổ sung quân số và chờ lệnh
mới của Bộ Tư lệnh Quân Đoàn . Rời Bộ Chỉ huy của Liên Đoàn 33 BĐQ,
tôi lên trực thăng bay về hướng biên giới. Tôi cho trực thăng bay thật
cao để có cái nhìn tổng quát bên dưới và cũng để đề phòng phòng không
của địch bố trí dày đặc ở bên dưới. Bay qua khỏi sông Vàm Cỏ Đông là đến
vùng biên giới Việt Miên. Bên này biên giới là một dãy đất bằng phẳng
sình lầy, chi chít những kinh lạch gần giống như vùng Đồng Tháp Mười ở
Miền Tây. Xa xa trên đất Miên là những làng mạc rải rác vắng vẻ. Nằm xa
tít về hướng Nam là Căn Cứ Đức Huệ lẻ loi, cô độc. Tôi cho trực thăng
bay sâu vào đất Miên. Thị trấn ChiPu của Campuchia xuất hiện ở phía
trước. Về phía Nam một chút, có một khu rừng chừng 10 mẫu Tây gây sự chú
ý của tôi. Tôi chợt nhớ lại cách đó 4 năm, trong cuộc hành quân "Toàn
Thắng 42" cuối tháng 4-1970, tôi có đi qua khu rừng này và tôi có biết
rất rõ địa thế phía Nam của Thị trấn ChiPu. Trong chớp mắt, tôi
thấy ngay là phải hành động như thế nào để đánh bại Sư Đoàn 5 CS, cứu
Tiểu Đoàn 83 BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ. Quả thật giản dị đúng như Napoléon
nói: "La guerre est un art simple et tout d'exécution" (Chiến tranh là
một nghệ thuật giản dị và tất cả là cách thực hiện trên chiến trường).
Trong đầu tôi hiện ra cách thực hiện một kế hoạch hành quân giản dị
trong đó hành động táo bạo, nhanh chóng và hoàn toàn bất ngờ là chìa
khóa của thắng lợi. Lòng tôi cảm thấy nhẹ nhỏm. Trở về hậu cứ của
Lữ Đoàn ở Biên Hòa, tôi liền tự tay phác họa ra kế hoạch phản công trong
vòng 20 phút. Đặc điểm của kế hoạch này là sự giản dị tối đa và bất ngờ
hoàn toàn: Toàn bộ LLXKQĐIII sẽ cùng tôi vượt biên đêm và bí mật tiến
sâu vô lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Nỗ lực chính là đột kích đêm
vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS từ hướng Nam ChiPu. Phải hết sức giữ bí
mật và hành động thật nhanh, tập trung toàn bộ sức mạnh của Thiết Giáp,
khai thác tối đa tốc độ và "Shock Action" trên trận địa, không cho địch
trở tay kịp . Tôi cầm kế hoạch trong tay đi lên Bộ Tư lệnh Quân Đoàn gặp
Trung Tướng Phạm Quốc Thuần. Ông tiếp tôi và tôi xin được trình bày.
Tôi trải tấm bản đồ 1/50,000 ra bàn. Ông chăm chú lắng nghe tôi nói:
"Sáng nay, theo lệnh Trung Tướng, tôi đã bay đi thám sát mặt trận ở Đức
Hòa Đức Huệ. Tình hình rất xấu, chúng ta phải hành động ngay, sợ không
kịp vì Căn Cứ Đức Huệ bị vây hãm từ 27-3 đến nay hơn 20 ngày. Tiếp tế và
tản thương cho Căn Cứ Đức Huệ bị địch cắt đứt hoàn toàn. Tôi xin đề
nghị lên Trung Tướng: Sử dụng LLXKQĐIII phản công ở Căn Cứ Đức Huệ. Kế
hoạch phản công của tôi có 2 giai đoạn. - Giai đoạn 1: Hành quân
lừa địch: Từ ngày N-6 đến ngày N: Rút LLXKQĐIII đang hành quân thám sát
trong tỉnh Tây Ninh về khu Comi ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một). Tôi sẽ tung
tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển lên Xuân Lộc (Long Khánh). Mục đích của
cuộc điều quân này là làm cho quân địch tưởng là lực lượng Thiết Giáp sẽ
rút đi đến một nơi khác. - Giai đoạn 2: Hành quân phản công: Từ
ngày N: Xuất quân đêm, trở lên Gò Dầu Hạ, vượt biên giới tiến sâu vào
lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Sau đó chuyển sang hướng Nam ChiPu,
dựa vào đêm tối tấn công toàn lực vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS bố trí ở
phía Tây Căn Cứ Đức Huệ " . Ngày 20-4-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu chấp thuận Kế hoạch Hành quân của tôi, đồng thời ra lệnh cho Không
lực VNCH trực tiếp yểm trợ tác chiến cho Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh 120 phi xuất
(Tactical Air Support) từ ngày N đến ngày N+3 theo yêu cầu của tôi. Tôi chọn ngày N là ngày 28-4-1974. (3) Công tác chuẩn bị
Ngày 21-4-1974, Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III triệu tập buổi họp hành quân ở
Biên Hòa do Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III chủ tọa.
Có mặt Bộ Tham Mưu Quân Đoàn, Bộ Chỉ huy 3 Tiếp Vận và 3 tư lệnh Sư
Đoàn 5, 18, 25: Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và Đại Tá
Nguyễn Hữu Toán. Sau khi Bộ Tham Mưu trình bày tình hình chung ở Vùng 3
Chiến thuật và tình hình đặc biệt ở Căn Cứ Đức Huệ, Trung Tướng tư lệnh
Quân Đoàn tuyên bố chỉ định tôi thay thế tư lệnh Sư Đoàn 25 Bộ binh chỉ
huy mặt trận Đức Hòa - Đức Huệ và sử dụng LLXKQĐIII phản công, giải vây
Căn Cứ Đức Huệ. Tôi đứng lên trình bày ngắn gọn trước hội nghị Kế hoạch
Hành quân vượt biên đêm của LLXKQĐIII ở Gò Dầu Hạ và Hành quân Phản công
của LLXKQĐIII trên lãnh thổ Campuchia . Theo nhu cầu hành quân của
tôi, các đơn vị sau đây được Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn III chỉ định
tăng phái cho Lữ Đoàn 3 KB đễ nằm trong tổ chức của LLXKQĐIII: - Tiểu Đoàn 64 BĐQ đi với Thiết Đoàn 15 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 315 do Trung Tá Dư Ngọc Thanh chỉ huy; - Tiểu Đoàn 36 BĐQ đi với Thiết Đoàn 18 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 318 do Trung Tá Phan Văn Sĩ chỉ huy;
- 1 Đại Đội Bộ binh thuộc Tiểu Đoàn 1/43 (Sư Đoàn 18 BB) đi với Thiết
Đoàn 22 Chiến xa, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 322 do Trung Tá
Nguyễn Văn Liên chỉ huy; - Thiết Đoàn 10 KB (Sư Đoàn 25 BB) + Tiểu
Đoàn 1/43 BB (-) (Sư Đoàn 18 BB) + 1 Chi đội Chiến xa M48 thuộc Thiết
Đoàn 22 Chiến xa do Trung Tá Trần Văn Nhuận chỉ huy; - Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh 105 ly + 1 Pháo đội 155 ly thuộc Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh do Thiếu Tá Hoa Vạn Thọ chỉ huy;
- Tiểu Đoàn 302 thuộc Liên Đoàn 30 Công binh do Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn
chỉ huy; một Trung đội Điện tử (Quân Đoàn) do Thiếu Tá Hiển, Trưởng
phòng 2 Lữ Đoàn kiểm soát; - 1 Trung đội Truyền Tin Siêu tần số (Quân Đoàn) do Trung Úy Bùi Đình Lộ Trưởng phòng Truyền tin Lữ Đoàn giám sát; - 1 Đại Đội yểm trợ Tiếp Vận thuộc Bộ chỉ huy 3 Tiếp vận do thượng sĩ Nhất Phan Thanh Nhàn (Quân cụ) chỉ huy.
Ngoài ra Trung Tướng còn ra lệnh cho 3 tư lệnh Sư Đoàn Bộ Bbinh cho tôi
mượn 6 giàn hỏa tiễn chống xe tăng TOW để phân phối cho mỗi Chiến Đoàn
Thiết Giáp vượt biên 2 giàn hỏa tiễn TOW gắn trên xe Thiết vận xa M113
đề phòng trường hợp có chiến xa T 54 của CS xuất hiện trên chiến trường
Campuchia. Ngày 22-4-1974, tôi ra lệnh cho toàn bộ LLXKQĐIII đang
hành quân thám sát trong Chi Khu Khiêm Hanh thuộc tỉnh Tây Ninh rút quân
về đóng ở Khu Còmi thuộc quận Lái Thiêu tỉnh Bình Dương (Thủ Đầu Một).
Tôi cho phao tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển qua Xuân Lộc thuộc tỉnh Long
Khánh. Mục đích của cuộc rút quân này là để đánh lừa địch, làm cho chúng
tưởng là quân Thiết Giáp sẽ rút đi luôn không trở lại. Tôi cho trung
đội điện tử thường xuyên nghe lén và theo dõi địch trao đổi tin tức với
nhau. Khi LLXKQĐIII vừa rút đi khỏi Gò Dầu Hạ về Lái Thiêu thì đài tình
báo của địch ở An Hòa Gò Dầu lên tiếng báo cáo: "Quân Thiết Giáp đã rút đi". Tôi biết chắc là chúng đã bị mắc lừa.
Từ ngày 22-4-74 đến ngày 28-4-74, trong 6 ngày này đóng quân ở Khu Còmi
quận Lái Thiêu, các Chiến Đoàn 315, 318 và 322 theo lệnh tôi ra sức ôn
tập hợp đồng tác chiến giữa Thiết Giáp - Biệt Động Quân - Pháo Binh từ
cấp Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn, Chiến Đoàn thật nhuần nhuyễn. Riêng
tôi trong 6 ngày đó, tôi tích cực không ngừng làm công tác tư tưởng.
Tôi lần lượt đi xuống họp với các cấp chỉ huy Trung đội, Đại Đội, Tiểu
Đoàn của các binh chủng và với các Chiến Đoàn trưởng, nói rõ tình hình
của ta và địch, nói rõ nhiệm vụ và cách đánh của LLXKQĐIII để mọi người
đều thông suốt và tin tưởng sự tất thắng của chúng ta. Tôi thuyết phục
họ tin ở sự chỉ huy của tôi và nói rõ sự quyết tâm của tôi là phải chiến
thắng bằng mọi giá. Tôi thúc đẩy họ, tôi nói đến tình đồng đội: Chúng
ta không thể bỏ rơi đồng đội của mình đang bị địch bao vây và mong chờ
chúng ta đến cứu họ. Tôi nhắc đến những chiến thắng vẻ vang năm xưa thời
Đại Tướng Đỗ Cao Trí: - Chúng ta đã từng gặp nhiều trận khó khăn gây cấn hơn trận này, chúng ta đều chiến thắng, đều vượt qua. Mỗi lần nói chuyện với các sĩ quan thuộc cấp tôi đều kết luận:
- Kỳ này nhất định phải chiến thắng, tôi sẽ cùng đi với các anh, kỳ này
nếu thất bại thì tất cả chúng ta kể cả tôi, sẽ không một ai trở về Việt
Nam. Ý của tôi, quyết tâm của tôi đã rõ ràng: một là chiến thắng trở về, hai là chết trên đất Miên. Không có con đường nào khác. 4. Veni, Vidi, Vici
(1) Ngày N đã đến. Đó là ngày 28-4-1974. Chiều ngày 28-4-1974, Công
Binh đã sẵn sàng; Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn, Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 302
CB, theo lệnh tôi đã kín đáo cho bố trí từ chiều tối ngày hôm trước ở
hai bên bờ sông Gò Dầu Hạ, gần cầu, các phà cao su để đưa chiến xa M48
qua sông. Lúc 20:00 giờ, tôi cải trang đích thân đến tận 2 bờ sông Gò
Dầu Hạ kiểm tra Công Bbinh làm công tác chuẩn bị cho chiến xa vượt sông.
Đúng 22:00 giờ đêm, toàn bộ LLXKQĐIII gồm 3 Chiến Đoàn 315, 318 và
322 cùng Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu rời vùng
tập trung ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một) di chuyển bằng đèn mắt mèo và im
lặng truyền tin trực chỉ Gò Dầu Hạ. (2) Ngày 29-4-1974, lúc 00:00
giờ, các chiến xa M48 bắt đầu xuống phà qua sông Gò Dầu Hạ. Các loại xe
xích khác và xe chạy bánh qua cầu Gò Dầu Hạ theo Quốc lộ 1 trực chỉ ra
hướng biên giới Việt Miên. Từ 01:00 giờ sáng đếnn 03:00 giờ sáng,
các Chiến Đoàn, Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn lần lượt
vượt biên sang lãnh thổ Campuchia và vào vùng tập trung nằm sâu trong
đất Miên về hướng Đông Nam thị trấn Chipu . Đến 03:15 giờ, tất cả
các đơn vị đã bố trí xong, trong vùng tập trung, sẵn sàng chờ lệnh xuất
phát. Trung đội điện tử theo dõi nghe địch, không thấy chỉ dấu gì chúng
nghi ngờ. Đúng 03:30 giờ, tôi ra lệnh cho hai Chiến Đoàn 315 và 318
vượt tuyến xuất phát, tấn công song song tiến xuống phía Nam, Chiến
Đoàn 315 bên phải, Chiến Đoàn 318 bên trái, Bộ Chỉ huy của tôi theo sau
Chiến Đoàn 315; Chiến Đoàn 322 trừ bị, bố trí phía Nam Quốc lộ 1 chờ
lệnh . Đúng 04:30 giờ, Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu khai hỏa, tác xạ
đồng loạt tập trung vào các mục tiêu của địch nằm phía Tây Căn Cứ Đức
Huệ, đồng thời Thiết Đoàn 10 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 1/43 BB(-) vượt tuyến
xuất phát mở đường từ căn cứ Phước Chỉ xuống Căn Cứ Đức Huệ. Đến
05:00 giờ sáng ngày 29-4-74, các cánh quân của Chiến Đoàn 315 và 318 báo
cáo chạm địch. Quân ta liền điều động bao vây, chia cắt, tấn công liên
tục. Quân địch bị đánh bất ngờ tháo chạy, quân ta truy đuổi chặn bắt.
Các Bộ Chỉ huy Trung đoàn, Sư Đoàn, Bộ Chỉ huy Hậu cần và các căn cứ
Pháo Binh của quân địch bị quân ta tràn ngập và lần lượt bị quyét sạch.
Nhiều dàn pháo các loại 4 ống, 8 ống và 12 ống, và hàng ngàn hỏa tiễn
107 ly và 122 ly bị quân ta tịch thu và tiêu hủy tại chỗ . Đặc biệt hơn
cả có hơn 30 hỏa tiễn chống xe tăng AT 3 của Liên Xô nằm trên giàn
phóng, chưa kịp khai hỏa bị quân ta chiếm đoạt. Đến 08:00 giờ sáng,
Không Quân Chiến Thuật lên vùng; Đại Tá Trần Văn Thoàn, tư lệnh phó Lữ
Đoàn bay trực thăng chỉ huy, điều khiển Không Lực liên tục oanh kích và
oanh tạc địch từ sáng đến chiều tối. Đến 19:00 giờ ngày 29 4 74, đại
quân của Sư Đoàn 5 CS bị đánh tan rã rút chạy về hướng Mộc Hóa thuộc
Vùng 4 Chiến Thuật. Tôi liền tung cả ba Chiến Đoàn đồng loạt truy đuổi
địch và cho Không Quân Chiến Thuật tập trung truy kích chúng sâu trong
lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật. Hàng ngàn quân địch bị giết và bị thương và
hàng trăm tên bị quân ta bắt sống. (3) Sáng ngày 30-4-74, các đơn
vị địch còn kẹt lại chung quanh Căn Cứ Đức Huệ chống trả yếu ớt, lần
lượt bị quân ta tiêu diệt gần hết. Đến trưa, một cánh quân của Thiết
Đoàn 10 đã bắt tay được với Biệt Động Quân trong Căn Cứ Đức Huệ và đến
chiều toàn bộ Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn bị quân ta quét sạch. Bộ Chỉ
huy của tôi nằm sâu trong lãnh thổ Campuchia về phía Đông Nam Chipu
trong một làng nhỏ hoang vắng. Tin chiến thắng làm nức lòng mọi người.
Màn đêm xuống, tiếng súng im bặt. Đêm hôm đó thật êm ả, trời trong vắt,
đầy sao, lòng tôi tràn ngập một niềm sung sướng khó tả. Có lẽ đây là một
đêm đẹp nhất trong đời tôi. Tôi đã khẳng định trước với Quân Đoàn là
chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 CS và bây giờ chúng tôi đã đánh bại
chúng. Tôi đã nói trước khi xuất quân với thuộc cấp là nếu thất bại thì
sẽ không một ai được trở về Việt Nam và bây giờ chúng tôi đã chiến thắng
có thể trở về. Đối với tôi cũng giống như một canh bạc mà tôi đã lấy
mạng sống của tôi ra đánh và bây giờ tôi đã thắng. Cho tới ngày hôm đó
trong đời tôi, thật không có một niềm hạnh phúc nào lớn hơn được.
Chưa bao giờ trong lịch sử của hai cuộc chiến tranh Việt Nam có một trận
vận động chiến nào mà quân ta hoặc quân Đồng Minh đã chiến thắng một
đại đơn vị CS nhanh chóng như thế, triệt để như thế. Tôi chợt nhớ đến
cung cách và những lời của Julius Ceasar trong chiến dịch thần tốc ở
Zela vùng Tiểu Á báo cáo chiến thắng về La Mã "Veni, Vidi, Vici : "Tôi
đến, Tôi thấy, Tôi chiến thắng", tôi liền lấy một mẫu giấy nhỏ, tự tay
thảo ngay bức công điện ngắn báo cáo chiến thắng về Bộ Tư lệnh Quân Đoàn
III. Trân trọng báo cáo: - Ngày 28-4-74: Xuất quân - Ngày 29-4-74: Phản công - Ngày 30-4-74: Tiêu diệt địch - Ngày 1-5-74: Hoàn thành nhiệm vụ.
(4) Ngày 2-5-1974, tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Lữ Đoàn ở Gò Dầu Hạ,
phóng viên đài VOA phỏng vấn hỏi tôi: - Có phải Thiếu Tướng đã đưa quân
sang lãnh thổ Campuchia không? Tôi liền đáp ngay: - Không, tôi hành quân dọc theo biên giới trong lãnh thổ của Việt Nam. Chính Cộng sản mới có quân trên lãnh thổ Campuchia. Tối đến, đài VOA và đài BBC loan tin chiến thắng của QLVNCH ở Căn Cứ Đức Huệ. Riêng đài BBC nói thêm:
- Tướng Trần Quang Khôi nói không có đưa quân sang lãnh thổ Campuchia,
nhưng theo tin tức của chúng tôi nhận được thì Quân lực VNCH có truy
đuổi quân Cộng sản trên lãnh thổ Campuchia. (5) Ngày 3-5-1974, Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu đi trực thăng đến Gò Dầu Hạ thị sát chiến
trường. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và tôi tiếp đón Tổng Thống. Ông vui
vẻ bắt tay chúng tôi rồi đi đến xem chiến lợi phẩm tịch thu của quân
địch: Rất nhiều vũ khí cộng đồng các loại. Nổi bật là các giàn phóng hỏa
tiễn 4 ống, 8 ống và 12 ống cùng hàng trăm hỏa tiễn 107 và 122 ly. Đặc
biệt hơn cả là hơn 30 hỏa tiễn AT-3, loại mới nhất của Liên Sô có hệ
thống điều khiển chống tăng, lần đầu tiên bị quân ta tịch thu trên chiến
trường miền Nam. Các tùy viên quân sự Tây phương mỗi người xin một quả
nói để đem về nước nghiên cứu. Nhìn số vũ khí khổng lồ của địch bị quân
ta tịch thu mới hiểu được sự tàn phá khủng khiếp trong Căn Cứ Đức Huệ và
sự chiến đấu anh hùng của Tiểu Đoàn 83 BĐQ. Tiếp đến, Tổng Thống
đi thăm Bộ Tham Mưu Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và các đơn vị trưởng của các binh
chủng trong tổ chức LLXKQĐIII, ông bắt tay khen ngợi từng người và gắn
cấp bậc Đại Tá cho Trung Tá Thiết Giáp Dư Ngọc Thanh, Chiến Đoàn trưởng
Chiến Đoàn 315. Sau đó Tổng Thống lên trực thăng chỉ huy của tôi cùng
tôi bay đến Đức Huệ. Các trực thăng của Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và
phái đoàn Phủ Tổng Thống bay theo sau. Trên đường bay, Tổng Thống bắt chuyện với tôi: - Tôi rất thích tính táo bạo liều lĩnh trong kế hoạch hành quân của anh. - Thưa Tổng Thống, đây là sự liều lĩnh có tính toán. Tôi đáp lại.
Thấy Tổng Thống vui vẻ, sự hân hoan hiện trên nét mặt, tôi nói đùa một
câu tiếng Pháp với Tổng Thống: La chance sourit toujours aux audacieux.
(Sự may mắn luôn luôn "cười" với những kẻ liều lĩnh). Ông gật gù cười có vẻ đắc ý lắm.
Trực thăng đáp xuống Căn Cứ Đức Huệ. Các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và
Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ hân hoan tiếp đón Tổng Thống. Ông đi bộ
một vòng viếng thăm, ủy lạo và ban thưởng. Doanh trại trong căn cứ bị
Pháo Binh địch tàn phá đổ sập gần hết, nhưng sự hãnh diện giữ vững được
đồn hiện ra trong đôi mắt của mỗi chiến sĩ BĐQ. Một chuẩn úy BĐQ
còn rất trẻ đi đến tôi, đứng nghiêm chào, rồi thình lình anh bước tới
gần tôi, hai tay nắm chặt lấy tay tôi bật khóc và nói: - Cám ơn Thiếu tướng đã cứu mạng chúng em. Tôi cảm động ôn tồn đáp lại:
- Chính anh phải cám ơn các em mới đúng. Sự chiến đấu vô cùng dũng cảm
của các em là một tấm gương sáng chói, là niềm hãnh diện chung của Quân
lực chúng ta. Chúng em mới thật sự là những anh hùng của Quân đội mà mọi
người Việt Nam Tự do phải mang ơn các em. (6) Một tuần sau tôi
nhận được một thư của DAO (Defense Attaché Office) trong đó tướng Homer
Smith chuyển lời khen ngợi của đại sứ Graham Martin đến tôi: Đây là lần
đầu tiên kể từ khi ký kết Hòa Đàm Paris, một kế hoạch hành quân được
thiết kế tuyệt hảo và được thực hiện tuyệt hảo. Hai tuần sau, tôi
nhận được một thư của Đại Tá Raymond Battreall nguyên Cố Vấn Trưởng của
Bộ Chỉ huy Thiết Giáp Binh QLVNCH. Battreall cho rằng đây là một chiến
thắng ngoạn mục và xuất sắc nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Cuối thư
ông viết bằng chữ Việt Nam: Kỵ Binh Việt Nam Muôn Năm. (Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi) (Tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh - Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III VNCH)
Trong cuộc đời của một người phụ nữ, có những lựa chọn mang theo cả một định mệnh. Có người chọn giàu sang, có người chọn danh vọng, có người chọn cuộc sống bình yên không sóng gió. Riêng tôi, năm ấy, tôi đã chọn trao cả tuổi xuân, tình yêu và cuộc đời mình cho một người lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đó là niềm vinh dự lớn lao nhất trong đời tôi.
Cho đến hôm nay, dù mái tóc đã điểm bạc, dù thời cuộc đã đổi thay biết bao lần, tôi vẫn luôn ngẩng cao đầu mà nói rằng: Tôi chưa bao giờ hổ thẹn, chưa bao giờ hối tiếc, càng không bao giờ hối hận vì đã làm vợ một người quân nhân Việt Nam Cộng Hòa.
Ngược lại, đó là điều khiến tôi hãnh diện nhất.
Hình minh hoạ của manhhai.
Tôi yêu chàng không chỉ vì tình yêu đôi lứa. Tôi yêu và kính phục nơi chàng một lý tưởng sống cao đẹp. Tôi yêu người đàn ông đã sẵn sàng đặt vận mệnh Quốc Gia lên trên quyền lợi cá nhân. Tôi yêu người thanh niên năm nào đã khoác lên mình màu áo trận để bảo vệ tự do cho đồng bào, để giữ gìn quê hương khỏi họa ngoại xâm và chủ nghĩa Cộng Sản vô thần, độc tài, độc đảng.
Ngày tôi trao thân gửi phận cho chàng, tôi biết mình không lấy một người đàn ông bình thường. Tôi lấy một người lính. Tôi lấy một người đã chọn con đường gian nan nhất để bảo vệ quê hương. Tôi lấy một người có thể ra đi bất cứ lúc nào theo tiếng gọi của Đơn Vị, của Trách Nhiệm, của Tổ Quốc.
Người ta thường nói đời lính nhiều gian khổ. Điều đó đúng. Nhưng điều đáng quý nhất nơi người lính Việt Nam Cộng Hòa không chỉ là lòng can đảm ngoài chiến trường, mà còn là tư cách làm người.
Tôi kính phục chồng tôi không phải vì chàng mang súng. Tôi kính phục vì chàng sống ngay thẳng, trọng danh dự, biết yêu thương đồng bào, biết bảo vệ kẻ yếu và luôn đặt trách nhiệm lên trên quyền lợi riêng của mình.
Tôi yêu người thanh niên năm nào đã khoác lên mình màu áo lính để bảo vệ tự do cho đồng bào, để giữ gìn quê hương khỏi họa ngoại xâm và Chủ Nghĩa Cộng Sản ngoại lai, vô thần.
Tôi còn nhớ những ngày chiến tranh khốc liệt.
Những đêm dài nghe tiếng súng vọng về từ phương xa.
Những lần nhận được thư chàng, tôi mừng đến rơi nước mắt.
Những lần nhiều tuần lễ không có tin tức, lòng tôi như lửa đốt.
Tôi biết mỗi lần chàng ra đi là một lần đối diện với sinh tử.
Nhưng tôi chưa bao giờ ngăn cản.
Bởi tôi hiểu rằng có những bổn phận thiêng liêng hơn hạnh phúc riêng của hai người.
Nếu những người đàn ông đều chọn ở nhà để được an thân thì ai sẽ bảo vệ quê hương?
Nếu tất cả đều sợ gian khổ thì ai sẽ đứng nơi tiền tuyến?
Có những đêm dài nghe tiếng súng vọng về từ xa. Có những ngày chờ đợi thư mà lòng nóng như lửa đốt. Có những lúc nhìn thấy những người vợ khác nhận được tin dữ mà tim mình như ngừng đập.
Nhưng chưa bao giờ tôi trách chàng.
Bởi tôi hiểu rằng nếu ai cũng chỉ nghĩ đến gia đình riêng mình thì ai sẽ đứng lên bảo vệ đất nước?
Nếu ai cũng sợ hy sinh thì tự do sẽ thuộc về ai?
Tôi hiểu vì sao chàng khoác áo lính.
Tôi hiểu vì sao chàng chấp nhận hiểm nguy.
Và chính sự hiểu biết ấy đã giúp tôi đủ sức mạnh để chờ đợi.
Những năm tháng chiến tranh không chỉ thử thách người lính ngoài mặt trận mà còn thử thách những người vợ nơi hậu phương. Chúng tôi không cầm súng nhưng cũng chiến đấu theo cách của mình.
Chúng tôi chiến đấu với nỗi cô đơn.
Chiến đấu với lo âu.
Chiến đấu với thiếu thốn.
Chiến đấu với nước mắt.
Nhiều lần cuộc sống trở nên khó khăn đến mức tưởng như không thể vượt qua. Có lúc gạo trong nhà chẳng còn bao nhiêu. Có khi con đau bệnh mà chồng đang ở tận nơi xa. Có những ngày mưa gió nhìn đàn con thơ mà lòng quặn thắt.
Nhưng rồi tôi lại tự nhủ:
“Anh ấy ngoài kia còn gian khổ gấp trăm lần.”
Thế là tôi lại đứng lên.
Lại tiếp tục chèo chống mái gia đình.
Lại tiếp tục nuôi dạy các con.
Lại tiếp tục cầu nguyện cho người mình yêu thương nhất.
Chồng tôi chính là nguồn sức mạnh ấy.
Chàng không ở bên cạnh mỗi ngày, nhưng hình ảnh của chàng luôn hiện diện trong trái tim tôi.
Chàng cho tôi lòng can đảm.
Chàng cho tôi niềm tin.
Chàng cho tôi lý do để tiếp tục bước tới dù cuộc đời có khắc nghiệt đến đâu.
Có người hỏi tôi tại sao lại có thể chịu đựng nhiều đến vậy?
Tôi chỉ mỉm cười.
Bởi vì tôi biết mình đang sống cho những điều lớn hơn bản thân mình.
Đó là gia đình.
Đó là trách nhiệm.
Đó là tự do.
Đó là quê hương.
Tôi quyết tâm nuôi dưỡng các con nên người. Tôi luôn dạy chúng phải sống tử tế, biết yêu thương đồng loại, biết kính trên nhường dưới, biết phân biệt điều phải điều trái.
Tôi muốn chúng lớn lên với tư cách của người cha mà chúng hằng kính yêu.
Tôi muốn chúng hiểu rằng cha chúng đã không chiến đấu vì quyền lực hay danh lợi.
Cha chúng chiến đấu vì tự do.
Vì quyền được sống như một con người.
Vì quyền được nói lên sự thật.
Vì quyền được xây dựng tương lai bằng sự chăm chỉ làm việc của mình.
Tôi muốn các con hiểu rằng có những giá trị đáng quý hơn tiền bạc.
Đó là danh dự.
Đó là lòng yêu nước.
Đó là nhân phẩm.
Đó là trách nhiệm đối với đồng bào và dân tộc.
Tôi học cách chờ đợi.
Tôi học cách chịu đựng.
Tôi học cách giấu nước mắt vào trong.
Có những đêm chỉ biết ôm con nhìn lên bàn thờ cầu nguyện.
Có những ngày phải một mình quán xuyến mọi việc trong nhà.
Có những lúc nghe tin chiến sự dữ dội, lòng như có hàng ngàn mũi dao đâm vào tim.
Nhưng tôi vẫn đứng vững.
Bởi tôi biết nơi chiến trường, chàng còn gian nan gấp bội.
Tình yêu của tôi dành cho chàng không chỉ là sự thương nhớ mà còn là lòng kính phục.
Kính phục ý chí kiên cường.
Kính phục nhân cách ngay thẳng.
Kính phục tinh thần trách nhiệm của một người quân nhân chân chính.
Rồi biến cố lịch sử ập đến.
Đất nước đổi thay.
Biết bao gia đình tan tác.
Biết bao người lính bị đày đọa trong lao tù.
Biết bao người vợ phải gánh vác cả gia đình trên đôi vai gầy yếu.
Gia đình tôi cũng không nằm ngoài số phận ấy.
Những năm tháng khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua.
Có lúc cơm không đủ ăn.
Có lúc tương lai mịt mờ như màn đêm không ánh sáng.
Có lúc bất công phủ xuống cuộc đời như những cơn giông bão không dứt.
Nhưng chưa một lần tôi trách chồng mình.
Chưa một lần tôi nghĩ rằng giá như ngày xưa mình chọn một con đường khác.
Không.
Tôi vẫn luôn tin rằng mình đã chọn đúng.
Những biến động của thời cuộc đã đem đến cho gia đình chúng tôi biết bao thử thách. Có lúc tưởng như mọi công lao và hy sinh đều bị phủ nhận. Có lúc bất công khiến lòng người đau đớn.
Nhưng tôi chưa từng khuất phục.
Bởi sự thật vẫn là sự thật.
Những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu bằng tất cả lòng yêu nước của mình.
Họ chiến đấu để bảo vệ quê hương khỏi chiến tranh và bạo lực.
Họ chiến đấu để gìn giữ quyền tự do của người dân.
Họ chiến đấu với niềm tin rằng một ngày mai tốt đẹp hơn sẽ đến cho dân tộc.
Chính niềm tin ấy cũng là niềm tin của tôi.
Dù trải qua bao nhiêu gian nan, tôi vẫn không để lòng mình hóa cay đắng.
Dù gặp bao nhiêu nghịch cảnh, tôi vẫn không đánh mất hy vọng.
Dù thời gian có trôi qua bao lâu, tôi vẫn giữ nguyên sự kính trọng đối với người chồng quân nhân của mình.
Tôi vẫn cầu nguyện cho chàng.
Vẫn yêu thương chàng như ngày đầu gặp gỡ.
Vẫn tự hào khi nhắc đến màu áo mà chàng đã khoác lên người.
Bởi tôi biết rằng đằng sau màu áo ấy là biết bao hy sinh, biết bao trách nhiệm và biết bao tình yêu dành cho quê hương.
Hôm nay nhìn lại chặng đường đã qua, tôi có thể nói với tất cả lòng chân thành rằng:
Nếu được chọn lại từ đầu, tôi vẫn chọn làm vợ một chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi vẫn sẽ chờ đợi.
Vẫn sẽ yêu thương.
Vẫn sẽ đồng hành.
Vẫn sẽ giữ gìn mái ấm gia đình trong mọi hoàn cảnh.
Vẫn sẽ dạy các con sống xứng đáng với những gì cha chúng đã hy sinh.
Bởi cuộc đời có thể đổi thay, thời cuộc có thể đảo điên, nhưng chân lý không bao giờ thay đổi.
Tình yêu sắt son, chân thành không thay đổi.
Danh dự không thay đổi.
Lòng yêu nước không thay đổi.
Và niềm tin vào tự do cũng không bao giờ thay đổi.
Tôi tin rằng sau những đêm dài rồi sẽ có bình minh.
Sau những giông bão rồi sẽ có ngày trời quang mây tạnh.
Sau những mất mát rồi sẽ có sự hồi sinh.
Và dù cuộc đời có đặt trước mặt chúng tôi bao nhiêu thử thách nữa, tôi vẫn sẽ ngẩng cao đầu mà nói:
“Tôi là vợ của một chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.”
Đó là niềm vinh dự lớn nhất đời tôi.
Tôi là vợ của một chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đó là niềm hãnh diện của cả cuộc đời tôi.
Và dù phải đi qua bao nhiêu thử thách nữa, tôi vẫn sẽ giữ nguyên niềm hãnh diện ấy cho đến hơi thở cuối cùng.
Một niềm vinh dự mà tôi sẽ mang theo cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay.
LTG: Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật, cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng. Anh ạ! tháng tư mềm nắng lụa,Hoa táo hoa lê nở trắng vườn, Quê nhà thăm thẳm sau trùng núi, Em mở lòng xem lại vết thương, Anh ạ! tháng tư sương mỏng lắm, Sao em nhìn mãi chẳng thấy quê, Hay sương thành lệ tra vào mắt, Mờ khuất trong em mọi nẻo về. Sau khi đọc bài thơ này của Nhà thơ Trần Mộng Tú, trong lòng tôi chợt cảm thấy bàng hoàng thảng thốt. Đã 37 tháng tư trôi qua, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, vết thương trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ, tôi nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ lành cho tới ngày tôi nhắm mắt.
Bốn mươi mốt năm về trước, đám sĩ quan trẻ chúng tôi chỉ mới ngoài 20, đến nay đầu đã lớm chớm bạc, “cùng một lứa bên trời lận đận”, sau cơn Đại hồng thủy tháng tư năm 75, lũ chúng tôi tản mác khắp bốn phương trời: “Thằng thì đang còng lưng trong các Shop may tại Santa Ana Cali, thằng đang làm bồi bàn ở Paris, thằng đang chăn cừu ở New Zealand, thằng thì đang cắt cỏ ở Texas, và cũng có thằng đang đạp xích lô ở Sài gòn”(trích). Mỗi năm đến ngày 30-4, tất cả chúng tôi đều bàng hoàng ngơ ngác như kẻ mất hồn. Không còn ai trách cứ chúng tôi hết, chỉ có chúng tôi tự trách mình, chúng tôi đã làm gì cho Tổ quốc?.
Trước năm 75, tôi là người lính trong hàng ngũ Quân đội Miền Nam, với cấp bậc thấp nhất là Thiếu Úy, với chức vụ nhỏ nhất là Trung đội trưởng, ngoài số lương đủ sống mà tôi lãnh hàng tháng, tôi không hề nhận được bất cứ bổng lộc nào từ phía “triều đình”. Tôi chỉ là một người lính vô danh tầm thường như trăm ngàn người lính khác, ngoài cuộc sống cực kỳ gian khổ và hiểm nguy, chúng tôi không có gì hết, kể cả hạnh phúc riêng tư của chính mình. Cho nên, tôi không hề có một mơ tưởng nào về một hào quang của ngày tháng cũ, và tôi cũng không muốn tiếp tục một hành trình “Việt Nam Cộng Hòa kéo dài”. Tôi viết như để thắp hương tưởng niệm, những đồng đội của tôi đã nằm xuống cho tôi được sống, rộng lớn hơn hàng trăm ngàn người đã chết để chúng ta có cuộc sống ngày hôm nay tại hải ngoại này.
Mùa Hè năm 1972, người Miền Nam thời ấy gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, mượn cái tên từ Tập bút ký chiến trường rất nổi tiếng của Phan Nhật Nam . Mùa Hè đỏ lửa năm 72 là năm Quân đội của hai miền Nam-Bắc dốc sức đánh một trận chiến sinh tử, bên nào kiệt lực bên đó sẽ bại vong. Niên khóa năm 71-72, tôi là Sinh viên Ban Sử Địa thuộc Đại Học Văn Khoa Saigon, năm đó tôi đi học trong một tâm trạng bồn chồn không sao tả được, và tôi cũng không còn tâm trí đâu để mà học hành, tin tức chiến sự từ các mặt trận gởi về dồn dập, lúc đó bạn bè tôi lớp chết lớp bị thương, lũ lượt kéo nhau về. Sau này ngẫm nghĩ lại, tôi thấy miền Nam lúc đó không còn sinh khí nữa, những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn được hỗ trợ bằng tiếng hát ma quái Khánh Ly, đã làm băng hoại chán chường cả một thế hệ thanh niên thời đó. Ngoài ra, còn khá nhiều những bài ca những tiếng hát đã đâm thấu lòng người “anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về bại tướng cụt chân, anh trở về hòm gỗ cài hoa, trên trực thăng sơn màu tang trắng…” Tại sao trong một đất nước đang có chiến tranh mà có những điều kỳ lạ này xuất hiện. Điềm Trời báo trước chăng?.
Chính quyền Miền Nam sau đó ra lịnh tổng động viên, tất cả các nam sinh viên đều phải nhập ngũ, trừ những người xuất sắc. Lúc đó những gia đình có tiền của, họ chạy đôn chạy đáo lo cho con cái của họ chui vào chỗ này chui vào chỗ nọ, miễn sao khỏi ra mặt trận. Đối với họ,chuyện ngoài mặt trận là chuyện của ai khác, không liên quan gì đến gia đình họ Hằng ngày họ xem TV thấy cảnh khói lửa ngập trời, người chết hàng hàng lớp lớp, họ coi đó là chuyện ở đâu đâu, chẳng ăn nhập gì tới họ. Còn tôi thì ngược lại, tôi muốn ra mặt trận càng sớm càng tốt, hình như định mạng đã an bài cho tôi. Trong bài “Đại bác ru đêm” của Trinh Công Sơn có một câu rất “độc”, “đại bác đêm đêm dội về Thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”, tôi chính là người phu quét đường đó. Tiếng đại bác đã làm lòng dạ tôi nôn nao, tôi muốn ra mặt trận để chia lửa với những người bạn cùng thời với tôi, để chịu chung khổ nạn với đồng bào tôi, trong những ngày tháng điêu linh nhất của đất nước. Tiếng đại bác đã ầm ĩ trong lòng tôi, kéo dài mãi từ ngày đó cho tới tận bây giờ.
Thế rồi cũng đến phiên tôi nhập ngũ, giã từ Trường Văn Khoa với Đại Giảng Đường 2 bát ngát, giã từ những bài giảng rất lôi cuốn của Linh Mục Thanh Lãng, của Giáo Sư Nguyễn Thế Anh, thôi nhé giã từ hết những ước vọng của thời mới lớn. Tôi trình diện Khóa 4/72 tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, năm đó quân trường Thủ Đức chứa không xuể các thanh niên nhập ngũ nên đã đưa một số ra thụ huấn ngoài Trường Đồng Đế Nha Trang, toàn bộ tinh hoa của Miền Nam được tập trung vào hai quân trường này, Miền Nam đã vét cạn tài nguyên nhân lực để đưa vào cuộc chiến.
Vào quân trường, Khóa 4/72 toàn là các sinh viên các trường ĐH tụ họp về đây, chúng tôi làng xoàng tuổi nhau nên đùa vui như Tết, tuổi trẻ mà, lúc nào cũng vui cũng phơi phới yêu đời, chuyện ngày mai đã có Trời tính. Thời gian 6 tháng quân trường gian khổ sao kể xiết, bởi vì sự huấn luyện nhằm biến đổi một con người dân sự thành một người lính thực thụ là điều không đơn giản. Không phải chỉ có các kiến thức về quân sự, mà còn tạo dựng một cơ thể gang thép, rèn luyện gian khổ bất kể ngày đêm, bất kể nắng nóng nung người hay mưa dầm bão táp. Trong 5 tuần lễ đầu tiên vào trường, gọi là giai đoạn “huấn nhục”, đây là giai đoạn kinh hãi nhất trong đời lính mới của chúng tôi. Hằng ngày chúng tôi tuân phục sự chỉ huy điều động của các huynh trưởng khóa đàn anh, khi ra lịnh họ hét lên nghe kinh hồn bạt vía, họ nghĩ ra đủ mọi hình phạt để phạt chúng tôi bò lê bò càng, trong giai đoạn này chỉ có chạy không được đi… các huynh trưởng quần chúng tôi từ sáng sớm tới chiều tối, buông ra là chúng tôi ngất lịm, ngủ vùi không còn biết gì nữa hết. Sau 5 tuần lễ huấn nhục, ai vượt qua được, sẽ tham dự lễ gắn Alpha, để chính thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan. Ngày quì xuống Vũ Đình Trường để nhận cái lon Alpha vào vai áo, chúng tôi cảm thấy rất tự hào, vì đã lập một kỳ công là tự chiến thắng chính mình để trở thành một người lính, không còn hèn yếu bạc nhược như xưa nữa.
Khi chúng tôi quá quen thuộc với các bãi tập như: bãi Cây Đa, đồi 30, bãi Nhà Xập, cầu Bến Nọc… cũng là lúc sắp đến ngày ra trường. Gần tới cuối khóa, chúng tôi còn phải vượt qua những bài học cam go như bài đại đội vượt sông, đại đội di hành dã trại… Cuối cùng điều mà chúng tôi mong đợi từ lâu, đó là ngày làm lễ ra trường, tất cả chúng tôi trong quân phục Đại Lễ, xếp hàng ngay ngắn tại Vũ Đình Trường, rồi một tiếng thét lồng lộng của Sinh viên Sĩ quan chỉ huy buổi Lễ: “Quì xuống các SVSQ”, sau khi đọc các lời tuyên thệ và được gắn lon Chuẩn Úy, tiếng thét chỉ huy lại cất lên một lần nũa: “Đứng lên các Tân Sĩ Quan”. Trong số chúng tôi có người muốn ứa nước mắt, cái lon mới được gắn lên vai, đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi gian khổ sao kể xiết.
Ngày hôm sau chúng tôi tụ họp lên hội trường để chọn đơn vị, tới phiên tôi lên chọn có một điều làm tôi nhớ mãi. Đứng trước tấm bảng phân chia về các đơn vị, tôi định chọn về Sư Đoàn 7 cho gần Sài gòn, bỗng cái Ông Thượng sĩ đứng phụ trách tấm bảng bèn đưa ra lời bàn: “Chuẩn Úy nên chọn về Sư Đoàn 9 vì vùng trách nhiệm nhẹ hơn, SĐ 7 trách nhiệm vùng Cái Bè Cai Lậy rất nặng nề”. Oái oăm thay ngày hành quân đầu tiên của tôi là vùng Cái Bè, bởi lẽ đơn vị tôi tăng cường cho SĐ 7.
Tôi trình diện Bộ Tư Lịnh SĐ 9 tại Vĩnh Long. SĐ này có 3 Trung Đoàn: 14,15 và 16. Tôi được đưa về Trung đoàn 14. Tôi lại mang vác ba lô về trung đoàn 14 đang hành quân vùng Cái Bè. Từ Sài gòn qua Ngã ba Trung Lương, chạy thêm một đoạn xa nữa thì tới Cai Lậy rồi tới Cái Bè, xong quẹo mặt, chạy tít mù vào sâu bên trong khoảng 20 cây số, tới cuối đường lộ thì gặp một cái xã mang tên Hậu Mỹ, ngay tại đây chính là cái ruột của Đồng Tháp Mười, lính tráng hành quân vùng này nghe cái tên Hậu Mỹ là đủ ớn xương sống. Không hiểu sao, ở giữa ĐTM lại có một nơi dân cư sinh sống bằng nghề nông rất trù phú. Đám Tân SQ chúng tôi sau khi trình diện Trung Đoàn trưởng thì được giữ lại Bộ Chỉ huy vài hôm để tập làm quen với cách làm việc của nơi này. Sau đó Ban Quân Số phân chia về các nơi. Vị Sĩ quan Quân số hỏi có Chuẩn Úy nào tình nguyện về Đại Đội Trinh Sát hay không? Tôi đáp nhận. Nói theo kiểu Cao Xuân Huy trong “Tháng Ba Gẫy Súng” tôi chọn về đơn vị tác chiến thứ thiệt này, mà trong lòng không có một chút oán thù nào về phía bên kia, mà chỉ vì cái máu ngông nghênh của tuổi trẻ, và kế đó là bị kích thích bởi cảm giác mạnh của chiến trường.
Một Trung Đoàn Bộ Binh có 3 Tiểu Đoàn và 1 Đại Đội Trinh Sát, đám chúng tôi có 12 thằng, được phân chia về các Tiểu Đoàn, chỉ có mình tôi về Trinh Sát. Sau khi chia tay ở sân cờ xong, chúng tôi ra đi biền biệt, hầu như không còn gặp nhau nữa. ĐĐ/TS cho người lên dẫn tôi về trình diện Đại Đội Trưởng, lúc đó đơn vị đóng ở ngoài căn cứ của Trung Đoàn. Trung Úy Đại đội trưởng có biệt danh là Đại Bàng, dáng người cao to trông rất dữ dằn, cặp mắt ti hí luôn luôn nhìn chằm chằm tóe lửa, giong nói gầm gừ trong họng, tất cả đều toát ra một nét uy phong làm khiếp sợ người đối diện (trong đó có tôi). Tôi đứng nghiêm chào trình diện theo đúng quân phong quân kỷ: “Chuẩn úy NĐC, số quân 72/150181, trình diện Đại Bàng”. Ông ta nhướng mắt nhìn tôi, trên gương mặt hình như có nét thất vọng (mãi về sau này tôi biết điều đó đúng như vậy). Nhìn tôi một hồi, rồi ông ta phán cho tôi một câu nhớ đời: “Anh về làm Trung đội Phó Viễn Thám”. Trời đất, tôi nghĩ thầm, cái bằng tốt nghiệp của tôi là Trung đội trưởng, mà giao cho tôi làm Trung đội phó là sao nhĩ? Lúc đó tôi không biết rằng làm Trung đội phó là còn may, các Sĩ quan về sau nữa có khi còn làm Trưởng toán Viễn thám, thiệt là chết dở.
Hình minh hoạ từ sách Việt Nam khói lửa.
Đai Đội lúc đó có khoảng trên trăm người, được chia làm 2 Trung đội Trinh Sát và 1 Trung đội Viễn Thám. Các Sĩ quan Trung đội trưởng ra trường trước tôi vài khóa mà trông rất ngầu, uống rượu như điên đồng thời nói năng rất bạt mạng. Còn lính tráng nữa chứ, tôi nhìn họ mà sợ lắm, họ được tuyển chọn từ các nơi khác về đây, nên trông rất khiếp hồn, phần lớn họ là gốc nhà nông, chỉ biết đọc biết viết là nhiều. Lạ một điều là tất cả những người lính này đều đối với tôi rất lễ độ, có lẽ phát xuất từ kỷ luật quân đội chăng? Sau một thời gian sống gần gũi với họ, tôi thấy họ là những người rất đáng mến, thật thà chất phác, rất tôn trọng nghĩa tình, một khi họ quí trọng một cấp chỉ huy nào thì họ sẵn sàng xả thân, họ hoàn toàn không dễ sợ như tôi nghĩ lúc đầu.
Vài hôm sau, gặp bữa Đại đội tề tựu đông đủ, Đại Bàng đưa tôi ra giới thiệu trước ĐĐ, rồi bảo tôi phát biểu. Trời đất ơi ! Tôi run quá, hai đầu gối cứ run lẩy bẩy, tôi có bao giờ nói chuyện trước một đám đông trông khiếp hồn như thế này bao giờ đâu, cho nên tôi ngượng nghịu lắm, vừa nói vừa ngó xuống đất, không dám ngó mặt ai, bẽn lẽn như cô dâu mới về nhà chồng, bây giờ nghĩ lại tôi không còn nhớ tôi nói cái gì nữa, nhưng tôi vẫn nhớ tiếng chắc lưỡi bực mình của Đại Bàng đứng sau lưng tôi, nói được chừng 10 phút thì tôi hụt hơi hết sức, Đại Bàng phải ra lịnh giải tán đám đông. Ông giận dữ kéo tôi ra chỗ vắng, rồi hất hàm hỏi tôi:
– Chuẩn Úy tốt nghiệp Trường Sĩ quan nào vậy?
Tôi biết ngay là có chuyện không ổn, bởi vì khi ông xếp gọi mình bằng cấp bậc là tai họa đến nơi rồi. Tôi đáp:
– Tôi tốt nghiệp từ Trường Bộ Binh Thủ Đức.
Ông ta bèn xáng cho tôi một câu nhớ đời:
– Vậy mà tôi tưởng Chuẩn Úy tốt nghiệp từ Trường Nữ Quân Nhân chứ !
Tôi nghe mà choáng váng mặt mày, ông ta đã điểm trúng tử huyệt của tôi, vì hồi còn là Sinh viên Sĩ quan trong Thủ Đức, chúng tôi coi là điều sỉ nhục, khi bị cấp trên mắng là Nữ Quân Nhân. Tối hôm đó khi đi ngủ tôi buồn lắm, hình như tôi bị quăng vào môi trường sống không phù hợp với mình, một nơi chốn mà tôi chưa từng biết bao giờ, bởi lẽ trước nay tôi chỉ là anh học trò, bấy lâu chỉ làm bạn với sách vở, với bạn bè với trường lớp. Bây giờ giữa chốn ba quân này, tôi bỗng nổi bật lên như cái gì đó không giống ai. Lúc đó, tôi nhớ Ba mẹ tôi ở nhà, và tôi nghiệm ra một điều rằng, ăn chén cơm của Ba Mẹ tôi sao mà sung sướng quá, bởi lẽ Ba Mẹ chớ hề sỉ nhục tôi, còn khi ra đời, ăn chén cơm của người đời sao đầy cay đắng, tôi lặng lẽ ứa nước mắt.
Tôi về làm Phó cho Chuẩn Úy Vương Hoàng Thắng, khóa 3/72. Anh ta là người trí thức có bằng Cử nhân CTKD, thấy tôi cà ngơ cà ngáo, anh ta thương tình kêu đệ tử giúp đỡ cho tôi mọi chuyện. Chiều hôm đó, tôi lại gặp một chuyện khôi hài dở khóc dở cười, không sao quên được. Chiều đến, lính tráng kéo ra bờ sông tắm giặt, tôi cũng đi tắm như họ, thay vì nhảy ào xuống sông bơi lội như mọi người, nhưng tôi lại rất sợ đỉa nên đứng trên bờ cầm nón sắt múc nước sông mà xối lên người. Tắm một hồi, tôi cảm giác có cái gì đó là lạ, nhìn quanh thấy mọi người chăm chú nhìn tôi, và xầm xì bàn tán chuyện gì đó, rồi bỗng nhiên cả đám cười rộ lên, có tên lính lên tiếng: “Sao Chuẩn Úy không xuống tắm như tụi tôi mà đứng chi trên bờ, ý trời ơi! Sao da của Chuẩn Úy trắng nõn như da con gái vậy?”. Tôi ngượng điếng người, máu chạy rần rần trên mặt, muốn chui xuống đất mà trốn cho đỡ xấu hổ. Vậy mà đã hết đâu, có cái ông Thượng sĩ già đứng gần, còn đớp cho tôi thêm một nhát: “Ý cha! cái bàn chân Chuẩn Úy sao mà đẹp quá, bàn chân này có số sung sướng lắm đây!!!” Thiệt là khổ cho cái thân học trò của tôi, hết làm Nữ Quân Nhân, bây giờ lại giống con gái, thiệt là chán.
Miền Tây là vùng đất nổi danh sình lầy. Hậu Mỹ là nơi đã tiếp đón tôi trong những ngày đầu về đơn vị, cũng là nơi sình lầy ghê khiếp. Dân trong xã người ta cất nhà dọc kinh Tổng Đốc Lộc, ra khỏi mí vườn là ruộng lúa sạ ngút ngàn. Sáng sớm, lính tráng lo cơm nước xong xuôi là bắt đầu nai nịt lên đường, súng đạn ba lô trên vai, để tham dự cuộc hành quân thường ngày, bước ra khỏi mí vườn là bắt đầu lội ruộng, trước tiên nước đến ngang đấu gối, rồi khi qua những trãng sâu, nước cao tới ngực, và cứ thế quần áo ướt sũng từ sáng tới chiều, cho nên quần áo tụi tôi nhuộm phèn vàng chạch, trong rất kỳ quái.
Khi ở quân trường tôi tưởng nỗi gian khổ của người lính là cao nhất, sau khi ra đơn vị tôi mới thấy được rằng, nỗi khổ quân trường chỉ là khúc dạo đầu, không thấm thía gì so với ngoài thực tế. Vùng Hậu Mỹ là vùng lúa sạ nên rất ít bờ ruộng, khi đặt chân xuống ruộng là phải đi một mạch tới bờ bên kia cách xa vài cây số, không ngừng giữa đường được. Đất ruộng người dân họ cày xới lên từng tảng to nhỏ như trái dừa, ngổn ngang lỗ chỗ, và nước lấp xấp. Tôi vừa đi vừa lựa thế để đặt chân xuống, sình lầy bám chặt nên rút bàn chân lên thật khó nhọc, mặt trời rọi ánh nắng gay gắt, mồ hôi tuôn ra đầm đìa, lúc đầu tôi còn lấy tay áo gạt mồ hôi, sau cứ để mặc, mồ hôi nhỏ lăn tăn lên mặt ruộng. Đó là tôi mang ba lô rất nhẹ, chỉ có quần áo đồ đạc cá nhân, còn lương thực lều võng đã có đệ tử mang vác phụ. Tôi ngó qua những người lính đi chung quanh, thấy họ mang vác rất nhọc nhằn, họ phải oằn lưng mang lều võng, súng đạn, mìn bẫy, gạo, cá khô, đồ hộp, mắm muối… Người thì đeo trên ba lô cái nồi, người thì mang cái chảo, họ lặng lẽ bước đi, tôi không hề nghe một lời than van nào hết, họ cắn răng lại mà cam chịu, có than van cũng không ai nghe. Khi đi tới bờ kinh ở tít đằng xa, áo tôi ướt sũng mồ hôi, cho đến nỗi, tôi cởi áo ra vắt, mồ hôi chảy ra ròng ròng. Tôi mệt muốn đứt thở, bèn nằm vật xuống đất, tôi mặc kệ hết mọi điều, không còn biết trời trăng gì nữa hết, lúc đó tôi nghĩ có ai bắn cho tôi một phát súng ân huệ, chắc còn sướng hơn, đời lính sao mà khổ quá!
Theo Đặc San Cư An Tư Nguy (câu này là châm ngôn của Trường BB Thủ Đức) phát hành tại San Diego, thì Quân Trường này đã đào tạo 55 ngàn Sĩ quan, trong số đó có 15 ngàn SQ đã tử trận, và không dưới 10 ngàn người đã trở thành Phế-binh thương tật. Trung đội trưởng là chức vụ đầu tiên của Sĩ quan mới ra trường, và là chức vụ duy nhất chỉ huy bằng miệng (các cấp cao hơn thì chỉ huy qua máy truyền tin). Khi xung phong chiếm mục tiêu, Trung đội trưởng cũng ôm súng chạy ngang hàng với lính, khi đóng quân phòng thủ đêm, Trung đội trưởng cũng nằm ngang với lính. Trước mặt Trung đội trưởng không có bạn nữa mà chỉ có phía bên kia. Cho nên lính dễ chết thì Trung đội trưởng cũng dễ chết y như vậy, súng đạn vô tình nên không phân biệt ai với ai, quan với lính đều bình đẳng trước cái chết. Đó là lý do giải thích tại sao Chuẩn úy mới ra trường chết như rạ là vì thế. Vậy mà tôi còn làm Trung đội phó, không biết nói sao nữa.
Có một bữa, tôi lội hành quân với đơn vị, đang bì bõm lội sình, thì tiếng súng nở rộ lên phía trước, Trung đội tản ra, tôi cùng Chuẩn úy Thắng và đám đệ tử tấp vào một lùm chuối khá lớn. Tôi đứng đó nhìn trời hiu quạnh một hồi rồi bỗng thấy làm lạ sao thấy C/U Thắng im lìm không có lịnh lạc gì cả. Bỗng tay lính Truyền tin nói với C/U Thắng: “Đại Bàng kêu C/U lên trình diện gấp.” C/U Thắng bỏ đi một đoạn, thì lính Truyền tin lại bảo tôi: “Đại Bàng muốn gặp C/U Châu”. Tôi cầm ống nghe áp vào tai, thì nghe Đại Bàng chửi xối xả, giọng Ông lồng lộng một cách giận dữ, té ra là do C/U Thắng quá sợ nên không dám tấn công, ông hét lên bảo tôi: ” Nè! C/U Châu, tôi giao Trung đội lại cho ông, ông có dám dẫn quân lên đánh mục tiêu trước mặt hay không?”.Tôi nghe mà sợ muốn “té đái”, run lập cà lập cập, rồi trả lời ông xin tuân lịnh. Tôi tháo ba lô quăng lên bờ ruộng cho nhẹ người, rồi vói tay lấy khẩu súng trường của người lính bên cạnh, miệng chỉ kịp kêu lớn: “Tất cả theo tôi”. Lúc đó tôi “quíu” quá, nên không nhớ bài bản chiến thuật nào mà tôi từng học ở quân trường, tôi xông lên vừa chạy vừa bắn vừa la (không biết la cái gì nữa). Cả trung đội hoảng hốt sợ tôi bị bắn chết, nên cũng vùng dậy chạy theo tôi. Phía người anh em bên kia, thấy tôi chạy dẫn đầu rất hung hãn, tưởng tôi bị điên, bèn lập tức tháo lui, trong lúc vội vã họ còn quăng lại tặng tôi mấy cây súng nữa chứ. Tôi thanh toán mục tiêu chỉ đâu chừng 10 phút, ai cũng tưởng tôi gan dạ, chứ đâu biết rằng tôi làm thế vì quá sợ ông xếp của mình. Thiệt là khôi hài. Đại Bàng kéo quân lên ông nhìn tôi gườm gườm, có lẽ ông chưa thấy một Sĩ quan nào lập chiến công “khùng điên ba trợn” như tôi. Hết cơn giận, ông trả quyền chỉ huy lại cho C/U Thắng, tôi trở về vị trí cũ.
Sau đó tôi được điều qua các Trung Đội khác, phụ trách công việc tạm thời cho các Trung đội trưởng đi phép hay bị thương… Một điều may mắn cho tôi, (hay Trời đãi kẻ khù khờ), khi tôi nắm quyền tạm thời đó, những trận đánh mà tôi tham dự, tôi đều hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt đẹp. Đại Bàng đã nhìn tôi bằng cặp mắt đỡ ái ngại hơn ngày đầu mới gặp tôi. Đại Bàng sau đó được thuyên chuyển qua một đơn vị khác và một Đại Bàng mới đến thay thế. Ông Trung úy mới đến này có dáng dấp thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, khiến tôi rất có cảm tình. Trong bữa nhậu bàn giao chức vụ, Đại Bàng cũ giới thiệu các Sĩ quan trong đơn vị cho ĐB mới được biết. Sau khi điểm mặt 3 Trung đội trưởng, cuối cùng ông ta chỉ tôi là một Trung đội phó, rồi đưa ra một nhận xét làm sửng sốt mọi người: ”Đây là một tay Sĩ Quan xuất sắc, một tay chơi tới bến… “Hai người sửng sốt nhất hôm đó là tôi và ông Đại Bàng mới. Đối với tôi, tôi chỉ cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình và cũng không hề muốn bươn chải về phía trước. Đối với ĐB mới, ông ta lấy làm lạ là phải, bởi vì ông cứ ngỡ SQ xuất sắc nhất phải là mấy ông Trung đội trưởng, sao lại là cái ông Trung đội phó trông hết sức ngớ ngẩn này. Tôi cũng không ngờ, cái lời nhận xét đó đã đẩy tôi vào một khúc ngoặt khác, đầy hung hiểm chết người.
Một thời gian ngắn sau đó, tôi được Đại Bàng mới cất nhắc lên làm Trung Đội trưởng thực thụ. Tham dự hết trận đánh này đến trận đánh khác, để sống còn, không còn con đường nào khác, tôi phải “động não” đến cao độ cho công việc của mình. Càng ngày tôi càng đạt được sự tin cậy cao nơi cấp Chỉ huy, chính điều đó đã đẩy Trung đội tôi vào nơi Tử địa. Khi Đại đội tiến quân vào nơi nguy hiểm, Trung đội tôi được lịnh đi đầu, và khi rút quân từ nơi đó, Tr.đội tôi được lịnh bao chót. Khi tấn công tôi được giao chỗ khó gặm nhất, và khi phòng thủ Trung đội tôi được nằm ở vị trí nặng nề nhất. Người ta thường nói: “Nhất Tướng công thành vạn cốt khô”, tôi không phải là Tướng, chỉ là một Sĩ quan có cấp bậc và chức vụ thấp nhất, nhưng lính tráng dưới quyền tôi đã chết la liệt, có khi chết nhiều đến nỗi, tôi chưa kịp nhớ mặt người lính của mình nữa. Bởi sự tin cậy của Đại Bàng dành cho tôi, mà Trung đội tôi phải gánh chịu những tai ương này. Ông ta rất quí mến tôi, ông chưa hề quát mắng tôi một tiếng nặng lời, có món nào ngon ông sai đệ tử đi mời tôi đến cùng ăn với ông, có Huy chương nào quí giá, ông cũng ưu tiên dành cho tôi. Ông quí tôi như vậy vì ông biết rằng, nếu ông cứ sử dụng tôi như vậy, trước sau gì tôi cũng chết. Làm sao tôi sống nổi, khi xua quân đi hết mặt trận này đến mặt trận khác, mà toàn là những nơi đầu sóng ngọn gió. Vậy mà tôi sống, mới kỳ.
Khi về đơn vị này, tôi có được một sự may mắn là đơn vị lưu động khắp các tỉnh Miền Tây. Khởi đầu của tôi tại Cái Bè -Cai lậy với các địa danh nổi tiếng như Hậu Mỹ, Mỹ Phước Tây, Bà Bèo, Láng Biển… Từ Cai Lậy đi về hướng Bắc khoảng 60 cây số là tới Mộc Hóa, từ Tuyên Nhơn kéo qua Tuyên Bình, có một chỗ tận cùng tên Bình Thạnh Thôn, đây là một trong những chiến trường ác liệt nhất của đồng bằng Sông Cửu Long. Từ nơi này chúng tôi ngồi thiết giáp băng ngang qua Đồng Tháp Mười để tới Hồng Ngự, và chính cái lúc băng ngang này, tôi mới biết rõ về Đồng Tháp Mười, đây là một vùng đầm lầy kinh sợ nhất, đi suốt 1 ngày với xe thiết giáp, tôi không thấy một cây cỏ nào mọc nổi ngoại trừ loại cây bàng (một loại cây họ cỏ dùng dệt chiếu), không có một bóng chim, không có một con cá, nước phèn màu vàng chạch, tóm lại không có 1 sinh vật nào sống nổi trong vùng này, đừng nói chi đến con người. Vùng đầm lầy dài ngút mắt đến chân trời, khung cảnh im lìm đến ghê rợn. Rời Mỹ Tho, chúng tôi băng ngang Sông Tiền bởi phà Mỹ Thuận, rồi băng ngang Sông Hậu với phà Cần Thơ, xuôi theo lộ tới Cái Răng – Phụng Hiệp, rồi rẽ vào Phong Điền – Cầu Nhím, tôi ngạc nhiên trước một vùng đất giàu có tột bực này. Ở đây người dân sinh sống bằng vườn cây ăn trái, sáng sớm ghe chở trái cây chạy lềnh trên mặt sông để đến điểm tập trung giao hàng đi các nơi, nhà cửa ở miệt vườn mà trông rất bề thế. Rồi chúng tôi đến Phong Phú-Ô Môn, tiến sâu vào bên trong chúng tôi đến Thới Lai – Cờ Đỏ, sự trù phú không sao kể xiết, có khi chúng tôi ngồi Tắc-ráng đi từ Thới Lai đến Cờ Đỏ, 2 bên bờ kinh nhà cửa nguy nga tráng lệ, không hề có nhà tranh vách đất nào cả, nhà nào cũng có xe máy cày đậu trước sân. Tuy nhiên vào sâu hơn nữa, chúng tôi cũng gặp những vùng hoang vu như Bà Đầm -Thát Lát, dân chúng tản cư đi hết, nhà cửa hoang phế, trông rất âm u rợn người.
Trong tất cả những vùng mà tôi đã đi qua, có một vùng đất hết sức lạ lùng, và là một nơi đối với tôi đầy ắp kỷ niệm, vừa thích thú vừa buồn rầu. Mỗi khi hồi tưởng về một thời chiến trận, tôi đều nhớ về nơi ấy. Cuộc chiến đã ngừng 37 năm qua, vậy mà tôi chưa hề một lần nào trở về lại nơi chiến trường xưa, để thắp một nén hương tưởng mộ những đồng đội của tôi đã nằm xuống nơi này.
Mùa Khô năm 74, Đại Đội chúng tôi được trực thăng bốc từ phi trường Cao Lãnh, đổ xuống một cánh đồng bát ngát nằm cạnh biên giới Campuchia. Trung đội tôi nhảy líp đầu. Khi xuống tới đất tôi hết sức ngạc nhiên về vùng đất nơi đây. Cánh đồng khô khốc và phẳng lì, không hề có một bờ ruộng nào cả (sau này tôi được biết đây là vùng nước nổi, khi nước từ Biển Hồ tràn về, thì không có bờ ruộng nào chịu đựng nổi, nên người ta cứ để trống trơn như vậy, ruộng của ai người đó biết). Trên cánh đồng lại có rất nhiều gò nổi lúp xúp ở khắp nơi. Khi Trung đội tôi rời khỏi trực thăng, tôi lập tức ra lịnh tiến quân theo thế chân vạc thiệt nhanh nhằm chiếm 1 gò nổi trước mặt, khi cách gò chừng một trăm thước, tôi cho tất cả dừng lại dàn hàng ngang yểm trợ, rồi tôi phóng 3 khinh binh vào lục soát, sau một hồi thấy không có gì, họ khoát tay cho cả Trung đội tiến vào. Khi vào tới nơi, sau khi bố trí xong, tôi thấy trên gò có thật nhiều cây xanh che bóng mát, và có vài đìa cá, lính tráng lội ùa xuống xúm lại tát đìa, khi đìa cạn, cá lộ ra lội đặc lềnh như bánh canh. Một lát sau cả Đại đội theo trực thăng kéo tới kéo vào gò trú ẩn cũng vừa đủ.
Đêm tới, chờ trời tối hẳn, Đại Bàng ra lịnh kéo cả đơn vị ra đồng trống để đóng quân đêm, vì vị trí ban ngày đã bị lộ. Đêm đó chúng tôi không ngủ được gì cả, vì lũ chuột đồng ở đâu kéo tới, chúng bò ngang dọc, lùng sục chỗ đóng quân của chúng tôi, lại còn chui tọt vào mùng gặm nhắm chân tay của chúng tôi nữa chứ. Tờ mờ sáng hôm sau, có 1 đoàn xe bò đông đảo khoảng mười mấy chiếc kéo ngang chỗ đóng quân. Lính tráng hỏi họ đi đâu, họ nói họ kéo nhau đi tát đìa, trời đất, tát đìa mà kéo một đoàn xe bò như thế này ư! Chiều đến, không biết họ đi đến đâu, mà khi kéo xe về, xe nào cũng đầy ắp cá, họ chứa lủ khủ trong thùng trong chậu lớn, sau đó họ kéo ra bờ sông giao cho ghe hàng chờ sẵn, chở cá về Hồng Ngự
Hôm sau chúng tôi kéo vào xóm nhà cất dọc theo bờ rạch, có tên là Rạch Cái Cái. Khi vào đến nơi tôi lại đứng trố mắt ra nhìn, nhà gì mà kỳ dị như thế này. Người dân họ cất nhà cao lêu nghêu theo kiểu nhà sàn, tôi biết ngay là họ phải cất nhà như thế để sống cùng với lũ. Nơi đây đúng là cùng trời cuối đất, tiếng bình dân gọi là hóc-bà-tó. Đây cũng là vùng đất tranh chấp giữa hai bên, chiến trận nổ ra liên miên, nên người dân họ sống rất là tạm bợ. Cả xã có vài ngàn người mà chỉ có vài người biết đọc biết viết. Họ thông thương với bên ngoài bằng các ghe hàng tạp hóa, hay ghe hàng bông (rau quả), được chở tới từ Hồng Ngự. Nhà nào cũng có một lu mắm cá, có nhà còn có lu mắm chuột đồng, đó là thức ăn phòng hờ cho mùa nước nổi. Ghé vào nhà chơi, chủ nhà rất hiếu khách và xởi lởi, bưng ngay ra một chai rượi đế, rồi hối người nhà xé mắm sống trộn giấm tỏi ớt đường, bưng ra mời chúng tôi ăn với khoai lang hay bắp luộc.
Lúc đầu tôi thấy sợ lắm không dám ăn, sau vì nhiều người ép quá nên tôi cũng nếm được. Còn mắm chuột đồng thì cho tôi xá, nhìn thấy đã hãi nói chi tới ăn. Đám lính chúng tôi đang lội sình mệt nghỉ, được đưa về một nơi khô ráo, lại đầy ắp thức ăn, thiệt là đã đời, chúng tôi hành quân mà như đi picnic. Nhưng trong tôi linh cảm điều gì đó không ổn, đơn vị chúng tôi luôn luôn được tung vào những nơi hiểm địa, chớ đâu phải đi chơi như thế này.
Sau một thời gian hoạt động đơn độc, chúng tôi được tăng cường 1 Chi đoàn thiết giáp, có khoảng 12 xe bọc sắt M113. Với sự phối hợp này vùng hoạt động của chúng tôi rộng lớn hơn. Hằng ngày, chúng tôi ngồi trên xe thiết giáp hành quân lục soát nơi này nơi nọ, vẫn yên bình, không hề có tiếng súng. Rồi cái ngày giông bão đó đã đến. Hôm đó, bình thường như mọi ngày, chúng tôi lên xe đi hành quân. Đi đến các điểm đã được chỉ định sẵn trên bản đồ, đi đến chỗ này lục soát, không có gì lại đi đến chỗ khác. Cuối cùng đoàn xe đến 1 điểm, bất chợt đoàn xe dàn hàng ngang ngoài ruộng, hướng về mục tiêu là một bờ vườn rậm rạp. Lính Trinh Sát tụi tôi được lịnh xuống xe, tiến vào bờ vườn. Trung đội tôi tiến về phía bên trái của đội hình Đại đội. Đang đi tôi bỗng lên tiếng: ”Tất cả tản ra mau, đi túm tụm như vầy dễ ăn đạn lắm!” Không ngờ lời nói của tôi “linh như miễu”. Đạn phát nổ vang trời dậy đất, tôi bị trúng đạn, bật người ngã xuống đất, máu ở đâu chảy xuống mặt tôi thành dòng, tôi ra lịnh bắn trả xối xả, nếu không phía bên kia họ thừa thắng xông lên thì thật là nguy khốn. Súng nổ một chập thì im lặng, lúc đó tôi mới rảnh rờ rẩm khắp người xem mình bị thương nơi đâu. Tôi giật mình kinh ngạc và cảm thấy hết sức lạ lùng, bởi vì tôi bị bắn trúng một lượt 2 viên đạn súng tiểu liên AK, một viên bắn trúng vào đầu mũi súng ngắn tôi nhét trước bụng, viên đạn bể ra văng tứ tán lên mặt lên cánh tay, nên máu tuôn ra thành dòng là vì thế, song phần còn lại của viên đạn chui tọt vào đùi, máu tuôn ra khá nhiều nhưng không nguy hiểm. Viên đạn thứ 2, mới thật là ghê rợn, viên đạn bắn trúng vào cái bóp tôi để trên túi áo trái, ở phía trước trái tim, viên đạn quậy nát cái bóp, tôi để rất nhiều tiền vì mới lãnh lương, tiền và giấy tờ đã cuốn viên đạn lại, nằm yên trong đó, có lẽ viên đạn được bắn ra trong khoảng cách quá gần, làm viên đạn không đủ sức xuyên phá. Lúc đó tôi sợ lắm, bởi vì tôi nghĩ phải có một phép lạ thiêng liêng nào đó đã che chở cho tôi, chứ trên đời này hiếm có ai bị bắn trúng một lượt 2 viên đạn mà còn sống như tôi vậy
Cũng ngay lúc ấy, tôi chợt nghe một tiếng rên yếu ớt của người lính đệ tử của tôi: ”Thiếu Úy ơi! cứu em! “ Tôi nghe xong mà sợ điếng hồn, té ra nãy giờ đệ tử của tôi bị trúng đạn mà tôi không hay biết, bởi vì cỏ cao che khuất nên tôi không thấy anh ta nằm trước mặt, cách tôi chừng dăm ba thước. Thông thường các Sĩ quan Trung đội Trưởng có 2 người lính đệ tử, 2 người này có nhiệm vụ lo chỗ ăn chỗ ngủ và lo mang vác đồ đạc cho ông Thầy. Những người lính đệ tử của tôi thường đối với tôi rất chí tình, họ sẵn sàng sống chết vì tôi mà không hề so đo tính toán. Khi tôi dẫn Trung đội xung trận, 2 người lính này theo sát để bảo vệ cho tôi. Hôm nay, một trong hai người đệ tử đã hứng đạn cho tôi, khi ngã xuống đã kêu lên lời cầu cứu đến tôi. Ít lâu sau thì anh ta chết, tiếng kêu thảm sầu của anh ta đã xoáy vào lòng tôi, và ở yên trong đó từ ngày ấy cho đến bây giờ. Vậy mà 37 năm đã trôi qua, tôi chưa có một lần nào về đứng trước mộ anh, để đốt một nén nhang nói lời cảm tạ. Anh ta là Hạ sĩ Nguyễn Văn Đồng, một cái tên vừa bình thường vừa vô danh, nằm lẫn khuất đâu đó trong một triệu người đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh tức tưởi này.
Sau khi tôi bị thương, tôi giao Trung đội lại cho Trung đội phó là Chuẩn Úy Nguyễn Thọ Tường. Tôi ra ngoài, leo lên xe Thiết giáp ngồi nghĩ và ngó vào trận địa, tôi chợt thấy Chuẩn Úy Tường dàn đội hình hàng ngang xung phong vô mục tiêu, tôi kêu lên thảng thốt: ”Đừng làm thế, Tường ơi! “. Sau đó, Trung đội tôi bị bắn tan tác, Chuẩn Úy Tường bị trúng đạn chết tại mặt trận, mắt vẫn mở thao láo, có lẽ anh ta không biết sao mình lại chết như vầy. Trung đội tôi coi như tan hàng xóa sổ. “Tường ơi! Vĩnh Biệt!”
Không biết sao đại đội tôi đóng quân bên bờ Rạch Cái Cái rất lâu. Rồi tới ngày Mùa Nước Nổi kéo về, nước chảy ào ào một chiều duy nhất, không có cảnh nước ròng nước lớn gì nữa hết. Nước mỗi ngày dâng cao cả gang tay, đến lúc này đây mới thấy lúa sạ là một loại lúa kỳ diệu, nước dâng tới đâu thì lúa dâng tới đó, nước sâu 5-6 mét thì cây lúa cũng dài nhằng ra 5-6 mét, tôi chưa thấy nơi nào cây lúa lại kỳ dị như vậy. Rồi đến lượt cá Linh tràn về, cá nhiều đến nỗi không biết cơ man nào kể cho xiết, có khi tôi thấy cá Linh nổi lềnh lên cả một khúc sông, và kỳ lạ một điều nữa là người dân ở đây thà ăn mắm ăn muối chớ họ không ăn cá linh, họ nói họ thấy cá Linh cả đời nên tự nhiên họ đâm ngán tới cổ. Ô! nước cứ dâng lên mãi, khiến chúng tôi kiếm chổ đóng quân khá vất vả, chúng tôi rút lên gò thì rắn với chuột cũng kéo lên gò, ban đêm chúng cứ bò xục xạo trong mùng chúng tôi trông thật ghê khiếp. Cả đơn vị phải chẻ nhỏ ra thành từng toán. Vào hôm đó toán của thầy trò chúng tôi đi tới một cái gò còn khô ráo.
Đêm đó như thường lệ tôi ngủ dưới một mái lều, tới nửa đêm tôi đang ngủ mê mệt, thì cảm thấy có ai đang khều khều đầu mình. Ở chốn trận tiền ai ngủ cũng phải thật nhạy thức, tôi cũng vậy, tôi tưởng lính gác báo động nên vội ngồi dậy ngay. Tôi ngó ra ngoài lều thì thấy dưới bóng trăng sáng vắng vặc một em bé gái khoảng 13-14 tuổi đứng nhìn tôi và mỉm cười thật tươi tắn. Tôi trố mắt nhìn ngẩn ngơ một hồi rồi mới biết đó là hồn ma, tôi sợ quá vội vàng nằm xuống kéo mền trùm kín đầu. Sáng hôm sau, tôi thấy chỗ tôi ngủ nằm kề bên 1 cái bàn thờ bằng gỗ xiêu vẹo mục nát. Tôi bèn rảo bước vào xóm để hỏi thăm về cái gò này, được người dân cho biết, trước kia có một em bé nhà nghèo lắm, hàng ngày chèo xuồng ra đồng nhổ bông súng, đem vô xóm bán dạo. Một hôm em cũng chèo ghe ra đồng như hàng ngày, sau đó súng đạn nổ ran, em bị đạn lạc chết trên gò, em chết trẻ hồn thiêng không siêu thoát, đêm đêm hiện về khóc lóc thảm thiết, dân làng thấy vậy bèn làm cho em một cái bàn thờ gỗ để nhang khói cho em. Câu chuyện thật tội nghiệp. Ở nơi chốn tên bay đạn lạc này, đời sống người dân khốn khổ không sao kể xiết, nếu họ muốn đi đến một nơi chốn an lành khác, họ cũng không biết đi đâu, mà nếu có đi cũng không biết lấy gì mà sống.
Trong đời lính của tôi, tôi sợ nhất là phải đi báo tin tử trận hoặc thăm viếng những gia đình có người thân chết trận, vậy mà có một lần tôi đã phải làm chuyện này một cách bất đắc dĩ. Chuẩn Úy Nguyễn Mạnh Hà ra trường sau tôi khoảng một năm, lúc đó anh ta mới 19 tuổi, còn đặc sệt nét con nít. Tôi nhớ hồi tôi mới ra trường trông đã rất chán, anh chàng này trông còn chán hơn tôi nữa. Mặt của Hà còn đầy mụn trứng cá, suốt ngày chỉ thích ngậm kẹo, có ai rủ nhậu, nể lắm anh ta mới uống, vừa uống vừa chắc lưỡi hít hà như uống thuốc độc. Điều đặc biệt nhất của Hà là anh ta rất sợ tiếng nổ, khi nghe súng nổ anh ta nhắm chặt mắt, bịt kín lỗ tai, và mặt mày thì tái mét. Anh ta về làm Phó cho tôi, làm giọng “chảnh”, tôi hỏi anh ta một cách xách mé: “Sao ông nhát như vậy mà xin về Trinh Sát”. Anh ta bèn phân trần, anh ta đâu có xin xỏ gì đâu. Ban Quân số thấy không có ai tình nguyện nên chỉ định bừa, dè đâu trúng ngay anh ta. Khi đụng trận tôi lo cuống cuồng đủ mọi chuyện, còn phải để ý đến anh ta nữa chứ, anh ta có biết gì đâu, thiệt khổ. Càng về sau các Sĩ quan rơi rụng dần dần, C/U Hà cũng được đưa lên làm Trung đội trưởng. Cái ngày định mệnh dành cho Hà là tại mặt trận Mộc Hóa. Cả đại đội được lịnh tấn công vào mục tiêu. Trung đội của Hà và một trung đội nữa vỗ vào mặt chính diện, trung đội tôi thọc vào bên cạnh sườn. Hà dẫn tổ đại liên chạy đến ẩn nấp vào một gò mả bằng đá ong, ngay lúc ấy phía bên kia phóng ra 1 trái hỏa tiển B40, trúng ngay gò mả, viên đạn nổ tạt ra trúng ngay vào người Hà. Tội nghiệp Hà chết không toàn thây. Lúc Hà còn sống, mỗi khi tôi về phép, Hà thường nhờ tôi ghé qua nhà Hà ở Sài gòn, để mang dùm quà của gia đình xuống cho Hà, vì thế tôi khá thân thuộc với gia đình của anh ta.
Hà mất được chừng một tháng, thì tôi xin được cái phép 6 ngày về thăm gia đình. Tôi bèn ghé qua nhà Hà nhằm nói lời chia buồn với gia đính anh ta. Tôi vừa tới, Ba Má của Hà chạy ùa ra nắm lấy tay tôi, rồi hỏi dồn dập:
– Sao cái hôm em Hà nó chết, mà cháu lại không về đưa đám tang em?.
Tôi lúng túng trả lời:
– Thưa, lúc đó chúng cháu đánh nhau tưng bừng, làm sao cháu bỏ đơn vị mà về cho được.
Thế là vừa ngồi xuống ghế, hai ông bà khóc ngất ngất, lúc đầu ông bà còn lấy tay lau nước mắt, lúc sau thì để mặc, nước mắt tuôn ra xối xả làm ướt đầm cả ngực áo. Tôi kinh hoàng ngồi chết điếng, tôi chưa bao giờ gặp phải một trường hợp bi thương tột độ đến như vậy. Ông bà vừa khóc vừa kể lể tiếc thương cho đứa con không sao kể xiết. Cha mẹ nào có con ra mặt trận, coi như đã chết nửa linh hồn, đêm ngày sống trong hốt hoảng lo âu, mong ngóng con mình, mãi về sau tôi mới nghiệm ra được điều này. Nghe ông bà than khóc một hồi, tôi không chịu đựng nổi nữa và tôi cũng không nói một lời phân ưu gì nữa hết, bởi vì lời nói nào cho đủ trước một mất mát quá lớn lao này. Rồi tôi nghĩ đến tôi, đến Ba Mẹ tôi, trong lòng tôi bỗng xộc lên một nỗi buồn khủng khiếp. Tôi lảo đảo đứng dậy từ giã hai ông bà để ra về. Trên đường về tôi ghé vào một quán cóc, ngồi uống rượu một mình, tôi buồn lắm. Tối hôm đó tôi về đến nhà khá muộn, cả nhà chờ cơm tôi quá lâu nên đã dùng trước. Tôi ngồi vào bàn, Mẹ tôi bày thức ăn la liệt trên bàn cho tôi ăn. Vừa ăn tôi vừa nghĩ, mai kia nếu mình có chết, Mẹ cũng bày đồ cúng cho mình như thế này đây. Tôi chợt nhớ đến khuôn mặt đầm đìa nước mắt của cha mẹ Hà, lúc đó bỗng nhiên tôi thương Ba Mẹ tôi vô cùng. Tôi vừa ăn vừa lặng lẽ chảy nước mắt.
Cuối cùng vào tháng 2 năm 75, tôi bị thương một lần nữa tại mặt trận Mộc Hóa. Tôi được đưa về điều trị tại Bịnh xá Tiểu đoàn 9 Quân Y tại Vĩnh Long. Tại Bịnh xá, tôi theo dõi tình hình chiến sự trên cả nước, khi mất Ban Mê Thuột, tôi linh cảm có điều gì đó không lành. Đến ngày 30-4-75, khi nghe lịnh buông súng đầu hàng, trong lòng tôi nát bấy. Sáng ngày 1-5, tôi bước ra khỏi Bịnh xá, đứng trên Quốc lộ 4, tôi nhìn về hướng Cần Thơ, thấy mặt trời lên đỏ rực, báo hiệu một ngày mới. Lúc đó tôi không hề biết rằng, đó là cái ngày đầu tiên của một hành trình bi thảm khác, có tên gọi là “Mạt Lộ”.
Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật, cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng.