Showing posts with label Sưu Tầm Thơ. Show all posts
Showing posts with label Sưu Tầm Thơ. Show all posts

Friday, 24 April 2026

TRƯỜNG CA : TƯỞNG NIỆM NGƯỜI LÍNH MỘT THỜI

 

Dâng Người Lính Vô Danh

Trăng cuối bãi soi hàng bia lạnh,
Gió đầu đèo lay áo chiến chinh.
Bao năm bụi phủ bóng hình,
Tên anh thắp sáng nghĩa tình núi sông.

Đường năm cũ mịt mùng khói súng,
Dấu chân người in cứng đất sâu.
Hòa bình trả lại nhịp cầu,
Mà bao ký ức bạc đầu gió xưa.

Anh nằm lại giữa mùa mưa nắng,
Gửi quê nhà lời vắng vô thanh.
Thác rồi mà vẫn hiền lành,
Giữ biên cương, giữ ngọn xanh trong hồn.

Người ở lại cúi đầu thương nhớ,
Khói thương đau che đỏ hoàng hôn.
Nguyện lòng gìn giữ giang sơn—
Ơn người lính đã không còn trở lui.

-----

Trường Ca Tưởng Niệm Người Lính Một Thời**

Sương xuống trắng triền đồi phong hóa,
Gió mịt mù gọi những bóng xưa.
Một thời lửa đạn đong đưa,
Một thời tuổi trẻ sớm trưa chiến trường.

Tên chẳng đủ ghi trong trang sử,
Mộ vô danh trải khắp núi đồi.
Bao lần súng nổ bên trời,
Bao lần nước mắt rơi nơi chiến hào.

Dưới bóng tối, ánh sao còn thức,
Trên quê nhà còn những mẹ mong.
Đêm nghe tiếng gió ru đồng,
Thấy như bước lính còn vòng quanh đây.

Người đã khuất vùi thân vào đất,
Giữ quê nhà từng thước núi sông.
Có người tóc rối bụi hồng,
Mắt chưa kịp ngắm trời đông cuối mùa.

Nơi đá lạnh, gió mưa phủ lối,
Nơi đồi hoang còn tiếng thở chiều.
Dù đời đổi khác bao nhiêu,
Lòng người tri ngộ vẫn yêu bóng hình.

Một nén khói gửi linh phách cũ,
Một lời thầm tạ những hy sinh.
Ngày nay đất thắm thanh bình,
Nhờ bao người đã quên mình năm xưa.

Ai trở lại, chiều mưa nghiêng ngã,
Thấy trong lòng còn quá nhiều thương.
Đường xưa, cỏ mượt ven đường,
Mà bao kỷ niệm đau buồn chẳng phai.

Dẫu không nhắc tên ai trong gió,
Cũng xin lòng tưởng nhớ thật sâu.
Ơn người giữ đất từ lâu,
Ơn người nằm lại giữa màu thời gian.

 ---

BÓNG NGƯỜI TRÊN DÒNG SÔNG CŨ

Chiều xuống bến, nước sông lờ đờ chảy,
Gió bồi hồi như kể chuyện xưa.
Bập bùng khói bếp quanh mùa,
Nhớ người lính trẻ sớm trưa một thời.

Tên không nhắc mà trời mây vẫn nhớ,
Bước chân người còn ở đâu đây.
Cánh đồng lúa rộ gió lay,
Nghe như tiếng gọi vọng ngày chưa quên.

Bao dốc núi từng in hình bóng,
Một thời anh theo sóng chiến chinh.
Những đêm trăng xứ sở mình,
Anh nhìn mái tóc mẹ gìn nỗi đau.

Ruộng đồng vắng, bờ lau bị gió,
Nhắc câu hò ai đó sang ngang.
Đò xưa buộc sợi dây vàng,
Sông còn chở bóng, mà làng vắng anh.

Đêm mưa đổ, ngọn đèn chao chát gió,
Bàn tay gầy vuốt tấm hình xưa.
Mẹ già héo hắt trăng thưa,
Chờ con ở cõi không chừa lối ra.

Đời chiến cuộc bôn ba mấy độ,
Khói đạn mù quấn cổ đôi vai.
Anh đi thủ thỉ gió cài,
Để thương để nhớ trải dài ruộng đồng.

Khi nằm xuống giữa dòng đất mẹ,
Anh vẫn còn nghe nhẹ tiếng ru.
Câu hò vọng cổ xa mù,
Trăng treo lửng lặng bên bờ lau xanh.

Bao năm nữa, nỗi thành xưa cũ,
Vẫn còn người đau khổ nhìn theo.
Cho dù mây bạc phủ đèo,
Vẫn nghe tiếng bước anh trèo lên non.

Nơi gió thổi ngọn hồn lặng lẽ,
Nơi Sài Gòn còn lẻ bóng đêm.
Tưởng chừng đâu đó bên thềm,
Anh về đứng tựa mà thêm chút buồn.

Dù không nói mà hồn quê gọi,
Giọt sương rơi nhức nhói hoài công.
Ai rồi cũng tắt trong lòng—
Chỉ còn nghĩa cũ theo dòng sông trôi.

 

Vietlondon@Music 

Friday, 19 May 2023

Mother Days: Mẹ ơi, sương điểm trắng mái đầu

 

Mẹ ơi, sương điểm trắng mái đầu 


Ảnh: jake-thacker-unsplash

Thay đồ xong, tôi bước ra thì mẹ tôi cũng đã hâm xong chén cơm độn với bo bo mà bà đã để dành cho tôi từ đêm hôm trước. Đưa nó cho tôi bà nói:

-Ăn cho đỡ đói, rồi đi học đi con!

Nuốt chén cơm độn được rưới chút nước mắm rẻ tiền pha với muối, tôi nghe nghẹn đắng cả lòng. Tôi biết phần cơm ấy là của mẹ tôi chiều hôm qua nhưng bà đã nhịn cho tôi có cái ăn sáng nay.

Ăn xong tôi ra khỏi nhà, lạch cạch đạp chiếc xe 650 cà tàng tới trường. Trên đường đi, đôi lúc tôi phải dừng lại, móc cục đá xanh to bằng nắm tay thủ sẵn trong balô đựng sách vở ra và dùng cạnh sắc của nó gõ mạnh vào cái líp xe bị trật “con chó” vài cái cho nó bình thường trở lại, rồi mới đạp tiếp được. Con chó đã “thôi sủa” từ lâu mà Hợp Tác Xã vẫn chưa có hàng về phân phối cho dân chúng.

Năm đó là cuối năm 1977, tôi đang học lớp 12 với muôn vàn khó khăn, đói khổ tràn lan. Một hôm, trong giờ học, trước sự ngỡ ngàng của chúng tôi, thầy Thích; dạy Văn và cũng là chủ nhiệm của lớp, cho biết thầy nhận lời với Ban Giám Hiệu trường là lớp sẽ chăm sóc mấy con heo trong phong trào thi đua “tăng gia sản xuất” mà trường vừa phát động sáng nay.


PRIVACY

Rồi trưa một bữa, chúng tôi đang học vật lý thì có tiếng heo kêu eng éc rùm trời ở dưới sân, thằng Phú là con của đạo diễn Lê Mộng Hoàng, ngồi cạnh tôi la lớn:

-Heo về! Heo của mình về rồi!

Nó vừa hô to, vừa cười khoái chí pha chút chế giễu, còn cô Tuyết đang giảng bài trên bục giảng thì ngẩn ngơ trước tình cảnh mà có lẽ trong đời đi dạy của cô chưa gặp bao giờ.

Sau khi thầy Thích phân công xong, tôi được xếp vào Tổ 4 gồm có năm đứa là tôi, với thằng Thảo; con của đại tá an ninh quân đội VNCH đang đi cải tạo ngoài Bắc, thằng Tài, thằng Phú và thằng Mạnh; bây giờ là bác sĩ. Mỗi chiều thứ tư trong tuần, chúng tôi sẽ vô trường rửa chuồng heo, tắm heo và cho heo ăn…

Chuồng heo được trường “phát huy sáng kiến” bằng cách ngăn khoảng sân xi măng trống khá rộng của căn tin (canteen) và cầu tiêu để nuôi năm, sáu con heo. Đối với bọn tôi, chuyện tắm heo, nuôi heo này là công việc mới mẻ, bởi từ nhỏ đến lớn chưa đứa nào biết việc này. Tuy nhiên vì là thiếu niên mới lớn, cả bọn đều còn trẻ, khỏe, nhanh nhẹn nên cũng không khó lắm. Và lúc tôi xịt nước cho thằng Phú xăng quần nhảy vào chuồng dùng bàn chải kỳ cọ cho con heo thì nó la “chí chóe” vì nhột, làm cả bọn khoái trá cười rú lên. Bên chuồng kia, thằng Thảo vừa rượt đuổi theo con heo vừa hò hét lúc nó bỏ chạy nom thật buồn cười. Thành thử giờ “lao động” buổi chiều của bọn tôi nhiều khi trở nên vui, do đó cũng đỡ bực bội hơn, mỗi khi phải đi làm chuyện “tào lao” nọ.

Chiều một hôm, khi từ trường trở về sau khi tắm và cho heo ăn xong, lúc bước vào nhà, tôi nghe mẹ nói:

-Thằng Tín mới tới kiếm con nữa đó.

-Vậy hả má? Tôi vừa hỏi vừa cởi chiếc áo ra máng lên mắc áo cho ráo mồ hôi để ngày mai đi học mặc tiếp, vì bây giờ tôi chỉ có hai cái áo thôi.

Mẹ tôi vói tay lấy tấm giấy đang để trên bàn đưa tôi rồi lên tiếng bằng giọng bực bội.

-Nó kêu con lên Ủy Ban Nhân Dân Phường họp vào 9 giờ sáng chủ nhật sắp tới này nè.


Tôi làu bàu:

-Gia tài có một ngày nghỉ mà cũng không được yên! Chắc cũng nói về ba cái chuyện đi “nghĩa vụ lao động” nữa chứ gì.

-Cái thằng quỷ này “chuyện nhà thì nhác mà chuyện chú bác” thì siêng!

Nhìn bà than phiền, mặt cau có, bực dọc mỗi khi nói tới thằng Tín làm tôi nhớ tới chuyện bà la nó lúc nó đi thu gom sách trong đợt “xóa bỏ văn hóa phẩm đồi trụy” trước đây. Ngày ấy nó lăng xăng theo “đóm ăn tàn,” hăng say đi gào thét mọi người nộp sách báo cho chúng đốt.

(Trái) Mẹ của tác giả; tác giả và mẹ (ảnh: tác giả gửi)

Khi vào nhà tôi, nó thấy mẹ tôi để riêng mấy quyển Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của giáo sư Dương Quảng Hàm do Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục vừa hiệu đính và xuất bản theo chương trình trung học cùng với những cuốn Luận Đề về Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh dùng trong các kỳ thi trung học, Luận Đề Trần Tế Xương, Tản Luận Đề của Nguyễn Khuyến dùng trong các kỳ thi trung học Đệ Nhất Cấp và Tú Tài… thì Tín kêu mẹ tôi đưa cho nó luôn, khiến bà giận dữ, trừng mắt nhìn Tín gằn giọng, làm nó hết hồn:

-Ba con và cô học từ mấy quyển sách này. Cũng nhờ nó mà ba con mới biết chữ dạy được con đó.

Theo lời mẹ tôi kể, ngày xưa nơi bà ở có ông Chín; bạn ông ngoại tôi, mở trường dạy học cho mấy đứa nhỏ trong vùng vì ông có bằng Thành Chung. Mẹ tôi được ông ngoại tôi đưa lại nhờ Thầy Chín dạy dỗ giùm. Tại đây mẹ tôi ngồi cạnh Năm Tèo là ba của Tín. Tuy nhỏ tuổi hơn mẹ tôi nhưng hồi nhỏ chị em học chung một lớp, vì trường làng của Thầy Chín chỉ có một phòng duy nhất. Lúc ấy bà cùng mấy đứa khác được Thầy Chín dạy bài thơ “Thu điếu” của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến mà giờ đây mỗi khi nhắc lại là bà vẫn thuộc làu làu và đọc ro roPRIVACY

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Tuy nhiên sau đó, mẹ tôi cũng chia những cuốn sách kia ra thành nhiều phần nhỏ, bỏ vào bọc nylon, gói lại cẩn thận và giấu nhiều nơi như trong chuồng gà hay nhà bếp v.v…

Thời gian này chính quyền cộng sản áp dụng nhiều chính sách hà khắc, nghiệt ngã nhằm triệt đường sống của những thành phần một thời bị chúng xem là kẻ thù. Chúng lừa quân, cán, chính của VNCH đi học tập cải tạo mười ngày hay một tháng nhưng thực chất là gom lại bỏ tù dài hạn; đánh tư sản mại bản; quốc hữu hóa nhà máy hãng xưởng của tư nhân; buộc dân chúng phải đi vùng kinh tế mới; hồi hương, giãn dân nhằm lấy tài sản; bắt thanh niên nam nữ từ mười tám tuổi trở lên đi nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động hoặc thanh niên xung phong… khiến cho dân tình điêu đứng, xã hội hỗn mang, người người hoảng loạn.

Trước tình cảnh ngặt nghèo ấy, mẹ tôi cũng như tất cả các bà mẹ khác ở miền Nam trong những năm tháng đầu “giải phóng,” đã thay thế những người đàn ông đứng “đầu sóng, ngọn gió” để chống lại cường quyền mới, nhằm bảo vệ gia đình, con cái khi các ông sa cơ thất thế, với bao khó khăn đôi lúc tưởng chừng như không thể vượt qua nổi. Những người phụ nữ chân yếu tay mềm thuở xưa đã mạnh mẽ đương đầu với mọi sự vận động từ chiêu dụ, ve vãn đến hăm he dọa nạt của chính quyền địa phương, công an, hội phụ nữ… nhằm gìn giữ nhà cửa, ruộng đất cũng như bảo vệ con cháu mình. Họ như các con gà mái xù cánh cho con ẩn náu và sẵn sàng đá lại khi con bị lâm nguy hoặc bị bắt bớ, tấn công bất ngờ!

Trải qua bao nguy nan, những thân phận liễu yếu đào tơ, những mệnh phụ phu nhân ấy đã bất chấp nắng mưa, lặn lội sớm khuya buôn thúng bán bưng, khổ cực kiếm tiền, hy sinh tuổi thanh xuân, hy sinh cuộc đời của riêng mình để thay chồng nuôi con khôn lớn lúc chồng lâm cảnh tù đày mà không hay tóc đã điểm sương, già theo năm tháng!

Thế cho nên ngày nay mỗi khi nói tới mẹ mình tôi đã không cầm được nước mắt hoặc khi tình cờ đọc mấy câu thơ của thi sĩ Lâm Hào Dũng:

Mẹ vẫn cứ mồ hôi trên áo vá

Đắp vồng khoai liếp cải nghĩ mênh mang

Chao ôi, chỉ cần nghe qua các câu thơ trên mà có người con hiếu thảo nào không chạnh lòng nhớ tới mẹ mình, nhớ nụ cười hiền từ, ánh mắt bao dung?

Mẹ! Tiếng kêu đầu đời của người con nghe sao thiết tha trìu mến. Tình mẹ thương con qua bao đời được ví như biển rộng, như tiếng sóng vỗ thì thầm ru con mỗi khi đêm về, như đồng lúa rì rào mênh mông xanh ngát những chiều ngoài nội. Ôi, mẹ là dòng suối mát, là con sông hiền hòa lặng lờ chảy mỗi khi chúng ta nghĩ về!

Mẹ, còn là tiếng kêu của nhọc nhằn cam chịu, của đợi mong, nhất là đối với các bà Mẹ Việt Nam; những bà mẹ của chiến tranh, của thời miền Nam sau năm 1975 khi bị cộng sản cưỡng chiếm!

Vì vậy, hằng năm cứ vào độ đông tàn xuân tới trên đất Mỹ này, mỗi cuối tháng tư đầu tháng năm, là lòng tôi lại buồn bã da diết khôn nguôi, những lúc nghĩ tới mẹ mình còn lại bên nhà.

Vào tuần lễ sắp tới “Mother’s day” khi người Mỹ tất bật mua sắm quà cáp hay tổ chức tiệc tùng tri ân người sinh ra mình là tôi lại bồi hồi. Nhớ tới đôi mắt ngóng trông buồn như mưa thu ở quê nhà của mẹ, nhớ tới cái dáng mẹ già đi đứng xiêu vẹo không còn mạnh mẽ như thuở nào là tôi lại cảm thấy như có ai lấy muôn ngàn dao nhọn đâm vào người mình. Cái cảm giác đau mà tôi cảm nhận được ở đây không phải là cái đau thể xác mà đó là cái đau ở tâm hồn.

Nhớ năm xưa khi tôi ra trại lao động với một hình hài đầy ghẻ chóc, mẹ tôi đã lặn lội thân cò lên tận núi rừng Đồng Phú để thăm tôi. Hôm ấy mọi tù nhân tất tả đi nhanh để mong sớm gặp người thân trong khi tôi lê từng bước chân đau nhói, cố lết theo sau. Và tôi đã nhìn thấy cái dáng dấp của mẹ trên đỉnh đồi, sốt ruột ngóng trông tôi. Rồi khi tôi lên đến nơi, mẹ tôi khóc hết nước mắt khi thấy thân hình quá bi thảm của tôi. Bà nghẹn ngào lúc tôi không cầm được cả cái muỗng khi hai lòng bàn tay lở lói, đầy máu mủ!Y

Mẹ đã lo lắng nuôi tôi lúc tôi tù tội thế mà giờ đây tôi chẳng phụng dưỡng được mẹ khi về già. Có lẽ chẳng có sự bất hạnh nào lớn hơn được cái đau của đứa con không chăm sóc được mẹ lúc bóng xế chiều tà, của đứa con xa không bới được bát cơm, rót được ly nước khi mẹ đói khát? Cái nỗi dằn vặt khốn khổ hơn ngàn lần dao đâm ấy lại càng to tát hơn khi nghĩ tới cảnh mẹ già đau yếu nằm chèo queo mà mình không mang cho mẹ được viên thuốc khiến cho tôi bần thần sớm tối đêm khuya!

Chẳng phải khi không mà nữ sĩ Nhã Ca đã thốt lên được:

Mẹ hiền ơi thành phố cũ chiều nay

Có tiếng chuông nào như lệ rơi trên tay

trong bài thơ Tiếng Chuông Thiên Mụ đó sao? Bởi chỉ có những người con khi muôn dặm xa mẹ rồi mới thấy được tình mẫu tử là thiêng liêng, mới thấy được rằng cái bóng tuy ốm yếu nhỏ nhoi kia của người mẹ lại là cả một bầu trời bao la để ta che nắng trú mưa không chỉ trong những ngày thơ dại mà cả suốt cuộc đời này dù đã lớn khôn.

Và chỉ với một mong muốn nhỏ nhoi như của Lâm Hào Dũng năm nào:

Con cũng muốn về thăm lại má

Thăm dòng sông Hậu nắng lưa thưa

Có cây dừa lão thân gầy quá

Đứng khóc theo mùa con nước đưa

Người mẹ của chúng ta, nhất là bà mẹ của những người con xa xứ cũng chính là bà Mẹ Việt Nam chung. Mẹ Việt Nam, bài tình ca của nỗi thống khổ! Bởi sau khi tàn cuộc chiến thì những tưởng mọi gia đình sẽ được đoàn viên sum họp, nhưng không! Bao chia ly đầy đau thương tang tóc vẫn xảy ra, thậm chí còn tàn bạo hơn cả thời chiến trên khắp mọi miền đất nước. Đâu đâu người ta cũng thấy nhà tù, trại giam. Tiếng rên rỉ, oán than nhan nhản khắp nơi, màu đen của chết chóc phủ trùm xã hội.

Trong hoàn cảnh lịch sử oan nghiệt này, người vợ, người mẹ Việt Nam đã gạt nước mắt, nuốt niềm đau để đứng lên trên đôi chân run rẩy yếu mềm của chính mình để nuôi chồng, lo con, lo cho sự tồn vong của gia đình nhỏ bé trước cơn giông bão. Họ phải tiễn chồng lên đường đi cải tạo, phải dứt núm ruột để ngậm ngùi đưa con ra biển tìm tự do mà trong đó cái rủi nhiều hơn cái may. Chín phần chết chỉ có một phần sống!

Rồi giờ đây bà mẹ Việt Nam lại tơi tả, rách nát. Rừng đã hết vàng! Biển đã sạch bạc! Vì đâu nên nỗi?

Những quyển sách mà mẹ tôi cất giấu (ảnh: tác giả gửi)

Năm 2016, tôi trở về Việt Nam chịu tang mẹ. Trong những ngày ở nhà, tình cờ tôi tìm lại được những cuốn sách văn học quý giá mà ngày xưa mẹ tôi đã cố gắng giấu. Tôi vô cùng xúc động, vì nhờ mẹ đã can đảm gìn giữ chúng như gìn giữ cái nền văn hóa của dân tộc, của Việt Nam Cộng Hòa để tôi còn có chúng cho đến hôm nay. Và khi trở lại Hoa Kỳ tôi đã trân quý, nâng niu mang các quyển này theo. Tôi đã cất những cuốn thi ca này trong giỏ xách cá nhân và ôm kè kè theo lên máy bay mà quyết không để chúng mất lần nào nữa. Tôi mang chúng ra đi như mang theo cái hồn của dân tộc, vì văn học Việt Nam trước 1975 còn thì đất nước Việt Nam còn!

Cám ơn mẹ đã một đời vất vả vì con như thi sĩ Hồ Dzếnh đã từng thiết tha rên rỉ:

Cô gái Việt Nam ơi!

Nếu chữ “hy sinh” có ở đời

Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực

Cho lòng cô gái Việt Nam tươi

_______

Ohio, mùa Mother’s Day 2023

Nguồn: https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/ben-tach-tra/me-oi-suong-diem-trang-mai-dau/

MỘT CHUYẾN THĂM MẸ VÀ CHA


Sau khi cả trăm người ngồi yên trên 2 xe bus lớn, linh mục Nguyễn Văn Công, thuộc giòng Xiteau, cha linh hướng của chuyến hành hương, bước lên từng xe một, đọc kinh cầu nguyện, ban bình an cho chuyến đi, giảng cho mọi người cần chuẩn bị tinh thần, xin Đức Mẹ soi sáng tâm hồn mình, để tự xét mình, ăn năn hối cải, và đọc kinh sám hối. Cùng xe với vợ chồng chúng tôi có những cụ ông cụ bà và các anh chị thuộc các ca đoàn thay phiên nhau vừa đọc kinh, vừa lần chuỗi, vừa hát những bản thánh ca từ tập nhạc Hành Hương Hiệp Nhất – Yêu Thương / La Vang 2007. Tiếng ca vang tỏa đồng nhất, tạo nên một niềm tin vững mạnh. Tại các nơi tạm dừng trong chuyến đi đường dài, tôi nhìn thấy có khá nhiều người lớn tuổi đi đứng khó khăn, chống gậy hay ngồi xe lăn. 

Trên xe, anh Phước, người tổ chức chuyến hành hương, trình bày chi tiết và mục đích hàng đầu của chuyến hành hương: viếng tượng Đức Mẹ Nhỏ Nước Mắt tại nhà thờ Our Lady of Guadalupe, nằm ở thị  xã Hobbs, tiểu bang New Mexico. Ngôi tượng Virgin Mary được đúc chế từ nước Mễ Tây Cơ theo đơn đặt hàng của một nhà thờ tại New York. Trong khi di chuyển, bức tượng bằng đồng bị bể một miếng nhỏ bên hông, do đó nhà thờ đầu tiên không chịu nhận. Với sự chấp thuận của linh mục José Segura, cha sở nhà thờ Our Lady of Guadalupe, ngôi tượng được đưa về nơi đây và đặt tạm trong phòng khánh tiết của nhà thờ trong khi chờ đợi sửa sang và tìm người mua. Dù cha José cảm thấy mê thích ngôi tượng ngay từ phút đầu mới gặp và muốn giữ lại cho nhà thờ mình, nhưng cha biết không thể kham nổi vì ngay chính nhà thờ của cha cũng đang túng thiếu vì phải trùng tu nhiều thứ khác. Mấy tháng trải qua nhưng không có nhà thờ nào lên tiếng mua ngôi tượng vì giá vẫn còn quá cao. Cho đến gần ngày hãng làm tượng quyết định chuyên chở bức tượng về lại Mễ Tây Cơ, bấy giờ cộng đồng con chiên cùng cha xứ họ đạo Our Lady of Guadaloupe ở Hobbs hiệp lòng với nhau mua lại bức tượng, dù chưa được sửa, bằng cách tổ chức gây quỹ trong nhiều tháng. Cuối cùng, với lòng ký thác vào đức tin, họ đạo đã mua được ngôi tượng nói trên vào tháng 3, năm 2018. Kể từ giờ phút đó, ngôi tượng Virgin of Guadalupe chính thức ở lại tại nhà thờ Our Lady of Guadalupe, thị xã Hobbs này.

Lễ Hiện Xuống (Feast of Pentecost) trong ngày Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2018, được tổ chức tại phòng khánh tiết của giáo xứ thay vì làm tại nhà thờ quá nhỏ so với số đông tín hữu tham dự. Chính trong buổi lễ hôm đó, nhiều người trông thấy hiện tượng lạ trên bức tượng: nước chảy từ mắt Đức Mẹ, lúc đầu tiên ở khóe mắt, từ từ rơi xuống mũi, má và vào gần cuối lễ, trên cả vai. Sau khi lễ vừa xong, Cha José Segura mới được giáo dân chỉ cho thấy hiện tượng trên. Cha hỏi: các ông bà đã làm gì vậy. Họ bèn trả lời: Thưa cha, in tuồng như Đức Mẹ khóc. Vừa ngạc nhiên vừa cảm xúc, cha José vội vàng lấy khăn lau nước trên khuôn mặt và trên vai bức tượng, những giọt nước vẫn tiếp tục đổ xuống từ mắt Mẹ. Cha José điện thoại và báo cáo sự kiện với Đức Cha Giám Mục Oscar Nantú của giáo phận Las Cruces. Trong khi giáo dân xúc động, khóc và đọc kinh cầu nguyện vang lớn cả phòng khánh tiết, nước mắt vẫn tiếp tục chảy xuống cổ rồi tận dưới chân bức tượng. Cha José lại dùng khăn thấm ướt vũng nước và cảm giác như có dầu hòa trong nước và thoáng mùi thơm hoa hồng. (Hình bên trái: lúc nước mới chảy/ Hình bên phải:2 giờ sau, nước xuống tận má, môi và cổ).

Trong xế cùng ngày, tin loan truyền nhanh, rất nhiều giáo dân của các giáo xứ lân cận đã đến cầu nguyện và cũng chứng nhận hiện tượng trên. Riêng 2 cha xứ gần đó, là linh mục Luis López và linh mục Antonio Gutiérrez, cũng tự tay lau chùi nước rơi từ mắt ngôi tượng Đức Mẹ. Đức Giám Mục Oscar Nantú cũng cử một phái đoàn đến tận nơi điều tra, phỏng vấn các giáo dân nhân chứng sự kiện cùng xét lại ngôi tượng từ bên trong ra bên ngoài và gởi khảo nghiệm khăn lau nước mắt.

IMG_3244Thông tin nói trên làm chúng tôi rất phấn khởi, lòng tràn đầy cảm xúc. Mãi đến chiều cùng ngày 29 tháng 11, 2018, đoàn hành hương mới đến được nhà thờ Our Lady of Guadanalupe, là nơi có tượng Đức Mẹ Nhỏ Nước Mắt – Weeping Virgin Mother. Đoàn người ngỡ ngàng nhìn thấy kiến trúc nhà thờ là một hangar cỡ trung, mái nhà bằng tôn, hơi xưa  cũ , nằm xen kẻ với những cơ sở thương mại của thị . Trong thời gian cha linh hướng  Nguyễn Văn Công chuẩn bị làm lễ, từng nhóm nhỏ, từng gia đình, chen nhau, quên hẳn mệt mỏi sau một ngày dài trên xe, kẻ đứng người quỳ, trước chân tượng Đức Mẹ, nằm ở góc bên trái bàn thờ. Vợ chồng chúng tôi quỳ ở một góc hơi xa đám đông. Ngước nhìn Đức Mẹ trang trọng trong chiếc áo khoác màu lục, tôi cúi đầu ăn năn sám hối, xin Đức Mẹ tha thứ mọi tội lỗi. Chúng tôi cùng đọc chung 1 kinh Lạy Cha, 3 kinh Kính Mừng và 1 kinh Sáng Danh. Sau đó mỗi chúng tôi chìm đắm trong cầu nguyện riêng tư với Đức Mẹ. Xin Đức Mẹ cho vợ chồng chúng con sức khỏe và bình an để chung sức chăm sóc cho Bồ Câu. Cho thánh giá trên vai chúng con trong 37 năm qua sẽ tiếp tục được vác trọn vẹn theo thánh ý trong thời gian tới. Cầu xin Mẹ che chở và phù hộ cho Bồ Câu được sống an vui, mãi mãi là một thiên thần trong tình yêu thương của cha mẹ. Xin cám ơn Mẹ đã gìn giữ gia đình và con cái chúng con được tốt đẹp, êm ấm. Và xin Mẹ luôn nắm tay dẫn dắt chúng con trên con đường chúng con đi…

Sau thời gian cầu nguyện riêng tư, đoàn hành hương nhập lại với nhau, chịu lễ do cha linh hướng Nguyễn Văn Công cử hành một cách trang nghiêm, trong sự cảm xúc của mọi người. Nhà thờ vang dội những lời đọc kinh, những bản nhạc thánh kinh tiếng Việt. Cha linh hướng giảng ý nghĩa Đức Mẹ từng hiện ra nhiều nơi trên thế giới, mang theo sứ điệp thế giới cần phải cầu nguyện, sám hối ăn năn. Tôi nhận Mình Thánh Chúa với một cảm xúc khác hẳn so với bao lần trước.

Sau lễ, nhiều người, trong đó có cả vợ chồng chúng tôi, tiến lại gần dưới chân tượng Đức Mẹ Nhỏ Nước Mắt, cầu nguyện thêm nữa, cho đến giờ xe bus phải rời khuôn viên nhà thờ, đưa đoàn người hành hương về ngủ qua đêm tại thành phố Roswell, cách thị trấn nhỏ Hobbs không quá xa. Thị xã Roswell nổi tiếng từ năm 1947, sau khi một cư dân tìm thấy những mảnh vụn được xem như của một đĩa bay ngoài hành tinh rớt trên mặt đất, và về sau Roswell trở thành một nơi hội họp hàng năm của những người từng là nhân chứng hay tò mò muốn biết thêm về UFO (Unidentified Flying Object – Vật Thể Bay Không Xác Định).

Trong đêm, tôi cảm thấy khó ngủ, nhớ lại trong thời niên thiếu, mình cùng  gia đình từng đi hành hương 2-3 lần mỗi năm tại Thánh Đường Mẹ La Vang, đặc biệt trong các lễ lớn hay đi kiệu. Tôi cũng được nghe Măng tôi kể nhiều lần một câu chuyện nghe ra cảm nhận như phép lạ đã xẩy ra cho Măng. Bấy giờ, tuy Măng tôi dạy học ở trường tiểu học công giáo Việt Hương, nằm bên kia đường nhà thờ Đức Mẹ của Dòng Chúa Cứu Thế ở Huế, nhưng hoàn cảnh vật chất vẫn thiếu thốn, lương tiền khó đủ để nuôi 6 con sau khi chồng mất ở tuổi 32. Một buổi chiều sau khi xong dạy học, Măng tôi bước qua nhà thờ Đức Mẹ, quỳ cầu nguyện đặc biệt xin Đức Mẹ đoái hoài giúp đỡ vì bấy giờ trong nhà không còn tiền mua gạo mắm cho con mình. Khi ra về, cha Laroche, một linh mục người Canada và có phần quen biết Măng tôi, đến gần nói với Măng tôi, cho biết “Có một người vừa dâng tặng nhà thờ 5 ngàn đồng, Cha nghĩ con đang cần, Cha đưa hết cho con đây”- thời bấy giờ, lương dạy học của Măng tôi mỗi tháng là 400 đồng. Măng tôi cho biết bà thật quá bất ngờ và quá cảm động đến chảy nước mắt vì biết đây là ân sủng Đức Mẹ ban cho. Chính nhờ vào cầu nguyện với Đức Mẹ, Măng tôi có đức tin, hy vọng và sức mạnh tinh thần để vượt qua bao khổ cực, thử thách sau khi chồng chết, cho dù trước đây Măng tôi trở lại đạo khi lấy Ba tôi.

Tôi cũng trải nghiệm sự nhiệm mầu của đức tin – nhớ lời Măng tôi dạy bảo từ trước - qua việc thầm lặng đọc mỗi đêm 1 kinh Lạy Cha, 3 kinh Kính Mừng và 1 kinh Sáng Danh trong suốt thời gian tù cải tạo CS hay trên con thuyền vượt biên đến bến bờ tự do. Và mãi về sau này.

IMG_3251Qua sáng ngày mai, đoàn hành hương tiếp tục lên đường. Trên xe, chúng tôi được nghe lời tâm sự của anh tài xế gốc người Mễ “Hôm qua, sau khi anh thôi khóc vì xúc động, anh ngước lên bức tượng, mơ hồ thấy Đức Mẹ mỉm cười vui mừng vì nhận thấy các con của mình biết ăn năn sám hối”. Sau lời anh tài xế, một bà chừng trên 50 tuổi chia sẻ tin mừng là chồng bà cho vợ mình biết tối hôm qua ông ta sẽ trở lại đạo sau khi cảm nhận ơn kêu gọi, dù khi thành vợ chồng từ 16 năm trước đây cả hai đều giữ riêng đạo của mình. Mọi người trên xe liên tục vỗ tay lớn, nhất là khi người chồng đứng lên tiếp lời nói của vợ với nước mắt lưng tròng. 

Chặng dừng đầu tiên là El Sanctuario de Chimayo, một nhà thờ công giáo xây dựng từ đầu thế kỷ 19, và bây giờ trở nên một thánh địa nổi tiếng với trên 6 trăm ngàn người đến cầu xin được chữa lành bệnh tật hằng năm, cả ngàn tấm hình và hàng trăm nạng gỗ để lại làm bằng chứng. Bên dưới của thánh đường xây dựng theo kiến trúc Mễ Tây Cơ, là một căn hầm nhỏ, giữa căn hầm là một miệng giếng rất nhỏ chứa một loại bột cát rất mịn, màu vàng gọi là Holy Dirt. Sau khi cầu nguyện tại thánh đường, người hành hương xuống hầm để múc bột cát mịn này đem về nhà, đắp vào những nơi đau nhức trong người hay chân tay. Chuyện lạ tôi tận mắt thấy là dù khá nhiều người trong đoàn hành hương tham lam xúc Holy Dirt với số lượng lớn bỏ đầy trong nhiều bao nylon, nhưng lượng bột cát trong miệng giếng không hề suy giảm, miệng giếng vẫn đầy, trước sau như một.

Rời Chimayo, đoàn xe tiếp chạy thẳng về thủ đô Santa Fe (tiếng Mỹ là Holy Faith). Phải sau 4 giờ chiều xe mới đến được nhà thờ Saint Joseph, nổi tiếng với cầu thang xoắn ốc, bây giờ mang tên Loretto Chapel sau khi trở thành một viện bảo tàng quốc gia. Theo tài liệu của nhà dòng nữ tu Loretto, nhà dòng không thể tìm được người thợ mộc nào có khả năng thiết kế cầu thang vì khoảng dành cho cầu thang quá hẹp. Các Sơ bèn cấm phòng cầu nguyện với Thánh GiuSe, là vị Thánh Cả, là chồng của Mẹ Maria, cha Nuôi ở trần thế của Chúa Giêsu và là vị Thánh của thợ mộc. Đến ngày thứ 9, có một người đàn ông xuất hiện và nhận làm cầu thang. Ông ta làm việc một mình trong khoảng gần 8 tháng, và sau khi hoàn tất công việc, ông bỏ đi không nhận tiền thù lao và cũng không cho biết lai IMG_3285IMG_3288lịch của mình.

 

`** Linh Mục Nguyễn Văn Công và Vĩnh Chánh

          Ngày nay, người đời vẫn còn khó khăn giải thích sư kiện độc đáo của cầu thang xoắn ốc nói trên vì không có một đinh ốc nào bằng kim loại hay chất keo được xử dụng và loại gỗ làm cầu thang không có trong tiểu bang New Mexico cùng các tiểu bang gần xa. Người người đều có những câu hỏi cho mình về hiện tượng xây dựng cầu thang xoắn ốc, nhưng khó có một lời giải đáp chính đáng – nếu không phải đó là một hiện tượng lạ, thiêng liêng, chỉ được giải thích qua đức tin. Do sự kém an toàn theo thời gian, cầu thang xoắn ốc bị cấm dùng trong thập niên 60 của thế kỷ trước.

          Chúng tôi nhanh chóng rời nhà thờ Thánh Guise để kịp dự thánh lễ 6 giờ chiều ngày Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2018 tại nhà thờ chính tòa Cathedral Basilica of St. Fransi of Assisi nằm bên kia đường với nhà thờ thánh Giu Se. Vài bông tuyết bắt đầu bay nhè nhẹ trong gió lạnh. Vào nhà thờ tôi cảm thấy lòng ấm áp giữa tiếng đọc kinh của giáo dân, và chúng tôi dâng sự mệt mỏi của ngày cho Thánh GiuSe.

          Lại thêm một ngày ngủ dọc đường. Trước khi ngủ, chúng tôi đọc kinh cầu nguyện, cảm tạ Ơn Trên cho chúng tôi thực hiện 1 chuyến hành hương tuyệt diệu, vừa thăm Mẹ lại vừa ghé thăm Cha.

Trong đêm, tuyết rơi nhiều hơn. Và dọc trên con đường trở về California, tuyết trắng bao phủ cây và các cánh đồng hai bên đường. Một màu trắng tinh khiết làm các tín đồ hành hương cảm thấy lòng mình được thêm thanh sạch, tràn ngập hồng ân của Thiên Chúa. 

Về lại nhà, tôi tìm đọc tài liệu về hiện tượng Đức Mẹ Nhỏ Nước Mắt tại nhà thờ Our Lady of Guadalupe ở thị xã Hobbs. Trong đó, có lá thư tháng 9, 2018 của Đức Giám Mục Oscar Nantú gởi cho tín đồ trong giáo phận New Mexico. Ngài viết lại các dữ kiện đã xẩy ra, y như phần trên của bài viết này. Tuy nhiên sau nhiều tháng nghiên cứu, lấy lời khai các nhân chứng, hỏi nơi làm tượng bên Mễ Tây Cơ, thử nghiệm mẫu nước mắt…Ngài cho biết mẫu nước mắt là một hổn hợp của dầu Olive được dùng trong nhà thờ cọng thêm với mùi hương chưa biết nguồn gốc. Ngài viết thêm: nhiều phép lạ từng xẩy ra trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo và mọi phép lạ đưa tín đồ về lại những căn bản quan trọng của Đức Tin: Giáo Hội, các Phép Bí Tích & Thánh Lễ, Cầu Nguyện và Xưng Tội. Con đường tuyên xưng và thánh hóa câu chuyện Tượng Đức Mẹ Nhỏ Nước Mắt còn đòi hỏi rất nhiều thời gian. Đồng thời Ngài cũng cảnh giác tín đồ, bên cạnh uy quyền của Thiên Chúa, đừng quên rằng ma quỷ cũng có sức mạnh đen tối quyến rũ được lòng người. Vì vậy trong thời gian này, tín đồ cần phải cầu nguyện nhiều hơn, để nhìn thấy chân lý của ánh sáng, khiêm tốn sống thật với tinh thần công giáo như thương yêu nhau, giúp đỡ kẻ tật nguyền, thăm viếng và an ủi người bệnh và tù nhân, chia sẻ hạnh phúc cho thế nhân, gìn giữ lòng bác ái và sự trong trắng trong tâm hồn…

https://www.lifesitenews.com/news/weeping-blessed-virgin-mary-statue-in-new-mexico-defies-explanation/

 

Bài này được viết để tưởng nhớ và vinh danh Đức Mẹ hiện ra lần đầu tiên tại Fatima, Bồ Đào Nha, ngày 13 tháng 5, 1917, trong bối cảnh loạn lạc của  chiến tranh Thế Giới Thứ Nhất và sự thành công của cách mạng vô sản tại nước Nga, báo động  một hiểm họa mới cho nhân loại. Sứ điệp Fatima cho chúng ta thấy được sự thật là con người có nguy cơ đi xa dần Thiên Chúa. Theo lời truyền dạy của Mẹ Fatima, chỉ có Cầu Nguyện, Ăn Năn Sám Hối, Lần Chuỗi Mân Côi và Sống Đạo mới làm cho chiến tranh thế giới chấm dứt và ngăn chận được cơn sóng đỏ lan tràn.

Trong vài ngày nữa, chúng ta sẽ ăn mừng lễ Mother’s Day – hay ngày Lễ Mẹ. Lịch sử Hoa Kỳ cho thấy ý nghĩa Mother’s Day bắt nguồn bởi những bà mẹ mất con trong cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ cầu nguyện và kêu gọi cho Hòa Bình. Đến ngày 8 tháng 5, 1914, tổng thống Woodrow Wilson chính thức tuyên bố Mother’s Day là một ngày lễ quốc gia.

Phải chăng sự trùng hợp của Mother’s Day được chính thức tổ chức vào Chủ Nhật thứ Hai mỗi tháng Năm và ngày Đức Mẹ Fatima được nhớ đến vào ngày 13 mỗi tháng Năm, nói lên tính cách thiêng liêng muôn thuở của tình Mẫu Tử luôn yêu thương che chở đàn con, hướng đến hòa bình cho nhân loại. Vậy khi chúng ta nhớ đến Mẹ, xin hãy thành khẩn cầu nguyện với Đức MẸ cho các loài quỷ dữ sớm bị tận diệt để nhân loại được sống trong hòa bình chân chính. Xin đừng quên cầu nguyện cho cuộc chiến tại Ukraine sớm chấm dứt và tội ác chiến tranh phải được ngăn chận. Đặc biệt cho quê hương Mẹ Việt Nam sớm được ấm no, hạnh phúc trong Tự Do, Công Bình và Bác Ái.

Nhân ngày Lễ Mẹ, mời quý bạn đọc thưởng thức bài thơ “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của thi sĩ Trần Trung Đạo, phổ nhạc do nhạc sĩ kiêm kinh tế gia Võ Tá Hân và do ca sĩ Thế Sơn trình bày.

https://www.youtube.com/watch?v=T0jEhzMdOiM

Cùng lúc, xin mời thưởng thức bài thơ nguyên thủy “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” qua giọng ngâm của chính tác giả.

Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười,Trần Trung Đạo, tác giả ngâm




 

Với lòng hiến dâng cho lễ Đức Mẹ Fatima, 13 tháng 5, 2023.

Với lòng thương nhớ Măng của tôi trong ngày Lễ Mẹ, 14 tháng 5, 2023

Hạnh phúc cho những ai còn có mẹ bên cạnh để săn sóc và yêu thương.

 

Vĩnh Chánh

Tháng 5, 2023

Wednesday, 3 May 2023

Tháng Tư, vết thương chưa thực sự lành

 

Tranh Ann Phong 

Có một dấu mốc trên con đường thời gian mà đối với người dân miền Nam Việt Nam đã thành một tượng đài đau thương. 30 tháng 4.1975. Và theo nhà văn Ngô Thế Vinh, đó là – vết thương chưa thực sự lành:

… Đã bao năm rồi, biết bao nhiêu nước chảy qua cầu, có quá nhiều điều để không thể nào quên. Ngay trong tù đày, những hình ảnh hồi tưởng chưa bao giờ là cuộc duyệt binh vĩ đại đầy màu sắc và ồn ào của ngày Quân Lực; mà luôn luôn là những bước chân diễn hành thầm lặng của một tiểu đội lính vô danh ở ngày giờ cuối cùng của một thành phố trước khi mất tên Sài Gòn. Người chuẩn úy ấy bây giờ ở đâu, trong một trại cải tạo nào, còn sống hay đã chết, số phận những người lính can đảm kỷ luật tới giờ phút chót ấy bây giờ ra sao, cũng không ai được biết. Liệu có thêm được một dòng chữ nào giữa những trang quân sử viết dở dang để nói về cuộc diễn binh kỳ lạ cấp tiểu đội mang biểu tượng hào hùng của quân lực ở ngày giờ cuối cùng trước khi cả toàn quân tan hàng rã ngũ… (Ngô Thế Vinh, trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn.)

Tháng Tư. Chúng ta thêm một lần nhắc lại, như một mặc niệm, ghi ơn, cả triệu người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã sống thời thanh xuân của mình trong khói lửa, đã bỏ mình ngoài chiến địa, tù đày, lưu vong. Trân trọng nhắc lại, để anh linh những người đã hy sinh được về sum vầy bên bếp lửa tình yêu đồng bào ruột thịt.

Ngậm ngùi đọc lại thơ của những người lính thời ấy, ai trong số họ còn sống sót? (Những bài thơ này trích từ https://buonvuidoilinh.wordpress.com/) – NTKM

… Hãy ngủ ngoan đừng kinh hoàng nghe con
dù đêm nay thật nhiều súng nổ
hãy ngủ yên đừng đợi chờ nghe em
dù đêm nay anh đi ra trận
dù đêm nay anh đi không về…

(Thơ Tô Nhược Châu – Lời Dặn Vợ Con Trước Giờ Hành Quân)

… thằng Vũ chết rồi trong trận Pleime đó em
khủng khiếp và khốc liệt
những lần về phép sau này em ra cửa đón anh
sẽ không bao giờ thấy nó
nó chết rồi
nó chết cho quê hương đó…
(Thơ Phan Huy Mộng – Người Chết Ở Pleime)

… Em yêu hãy hôn anh một lần trước khi anh đi lính
giữa thời đại chiến tranh cái gì cũng vội vã
phải không em
nhưng nhớ hôn anh một lần này thôi
vì không chừng anh sẽ ra đi
hoặc trong mười năm mười lăm năm
hay vĩnh viễn
bây giờ anh còn tay bây giờ anh còn chân
bây giờ anh còn mắt
bây giờ anh chưa đui mù
chưa câm điếc chưa què quặt
nhưng biết mai anh còn đủ không
và cả trái tim anh nữa
biết còn rung động hay im lìm ngừng đập
nhiều lúc anh tự hỏi chiến tranh để làm gì?
(thơ Trần Uyên Phương – Trước Khi Đi Lính)

… tao để tiểu đoàn 6 cho mày

trạm cứu thương
có thằng Khiên mù
có thằng Nhu ngọng
tao để Vũng Tàu lại cho mày
bãi trước bãi sau
gió biển ngây ngây mùi gái
hỡi thằng Y Sĩ Dù bé nhỏ của chúng tao ơi
đi chưa bao giờ biết mệt
chiến đấu chưa bao giờ biết nằm
Đêm Gio Linh xác địch chất bên miệng hầm
Chiều Cao Lãnh đạn ghìm sâu vào gối
và Dakto mảnh xước bờ vai
để một sớm mai buồn chúng tao thức dậy
lặng người đau đớn
nghe tin mày hy sinh…
(Thơ Trang Châu – Một Bài Thơ Cho Tuấn)

Ngày anh lên thiếu tá*
với chữ cố đứng đầu
em trở thành góa phụ
trầm mình trong vực sâu…

(Thơ Lê Xuân Hảo – Ngày Vinh Thăng của Anh)

… 10 năm chiến chinh vai đời pháo thủ
chồng tôi bây giờ nằm xuống cô đơn

25 tuổi đầu tôi làm góa phụ
má đỏ môi hồng còn gì nữa đâu
thu đến đông sang xuân qua hè lại
màu trắng khăn sô: tôi chít trên đầu
(Thơ Lê Xuân Hảo – Góa Phụ 25)

*Cố Thiếu Tá PB/VNCH Nguyễn Tấn Hưng, mất tích trong trận mùa hè đỏ lửa, bài thơ này của người vợ là Lê Xuân Hảo, được Phó Tổng Thống VNCH Trần Văn Hương trao tặng giải nhất trong cuộc thi thơ năm 1973.

… còn ba năm nữa anh sẽ về

anh biết chắc không còn quê hương để ở

em gắng sắm cho anh một cây đàn bầu
làm bằng nắp hòm người lính nghèo
chết ngoài mặt trận
anh sẽ đàn cho mọi người cùng nghe
mà không xin tiền
chỉ tìm lại …
những bước chân đi qua vỉa hè
với nụ cười
mà nhiều năm anh đã mất…

(Thơ Hà Nguyên Dũng – Khi Giải Ngũ)

… Nếu mai kia em có hỏi

Vì sao anh chưa về?

Tôi sẽ nói

Anh có đi đâu

Lòng anh chôn trên vạn đồi bom nổ

Tim anh về phố chợ

Và hồn anh

Nằm tại gốc đa xưa

(Thơ Nguyễn Hồi Thủ – Nói Chuyện Một Mình)

Sài Gòn thương nổi bềnh trong mộng/ Biết đến bao giờ hiểu được tên… (Nguyễn Hồi Thủ, 1969). Sài Gòn. Ôi. Sài Sòn. Cho chúng ta được cùng nhau gọi, Sài Gòn, thủ đô yêu dấu, và chúng ta chỉ thấm thía Sài Gòn, hiểu được tình tự Sài Gòn khi lồng nó vào thời gian những năm tháng thanh bình, cùng phận nổi trôi qua những sự kiện đau thương trong sử lịch, và qua nỗi nhớ của người Sài Gòn nay tản mác khắp các phương trời, qua thơ Du Tử Lê, Cao Đông Khánh, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Hồi Thủ, Nguyễn Quang Hiện, Nguyễn Văn Ngọc,Thái Bá Tân, Nguyễn thị Khánh Minh.

*

DU TỬ LÊ (1942-2019)

Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn

Đêm về theo vết xe lăn
Tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng
Tìm tôi đèn thắp hai hàng
Lạc nhau cuối phố sương quàng cỏ cây

Ngỡ hồn tu xứ mưa bay
Tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa
Đêm về theo bánh xe qua
Nhớ em xa lộ nhớ nhà Hàng Xanh

Nhớ em kim chỉ khíu tình
Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
Nắng Trương Minh Giản lá hè Tự Do

Nhớ nghĩa trang quê hương bạn bè
Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
Đêm về theo vết xe lăn
Tôi trăng viễn xứ sầu em bến nào?

(1978)

*

CAO ĐÔNG KHÁNH (1941-2000)

Uẩn tình kẻ xa xứ

tôi một bữa ngồi yên như bàn ghế
nắng giọi trong đầu những trắng bao la
còn đôi mắt tôi ở Nhà Bè Gia Định
ở ngã Tư Bảy Hiền ly nước mía, má, môi

em đạp xe mini trời gió mềm trong áo
thành phố bập bềnh trôi giữa nắng mênh mông
sợi tóc chẻ hai gần đường xích đạo
vạt áo sau lưng khép hở Saigon

tôi một bữa đợi em mòn con mắt
từ Suối Máu em về xanh như lá cây
những kẻ đã sống chết cho Độc Lập Tự Do bị xử tội phản quốc
anh bỏ đi rồi em ở với ai

phần hoa cúc dại nở trên ngọn gió
buổi chiều dưới thung lũng héo hon
tôi kể tôi đã chết mấy mươi năm về trước
bây giờ là thằng bù nhìn tơi tả thê lương

em hãy kể tôi như trái cây lột vỏ
để quá đêm ngày hôi gió thịt xương tôi
như gái tỉnh lẻ thất thân nơi thị trấn
lỡ một lần lỡ thêm nữa chẳng sao

em hãy kể tôi đã tới hồi mạt vận
tuyết phủ đầy đóng đá tay chân
hồn hải điểu bay ngày đêm qua biển
bay mãi có ngày rụng cánh bơ vơ

em rớt thăm thẳm xuống vực sâu thời cuộc
sương Saigon thấm lạnh áo mồ hôi
mưa lất phất ngoài ngã năm ngã bảy
gió lọt vào em từ ngã bảy ngã ba

em ở cư xá Thanh Đa em ở chung cư Minh Mạng
em ở khắp đất trời trong thế giới tôi
em ở với Việt Nam ở với ly cà phê đá
ở với chỗ em ngồi ấm uyên ủy tôi

tôi ngủ mấy ngày đêm vẫn chưa mộng mị
thử tưởng tượng một ngày cho đỡ thê lương
em với nắng với Saigon với tôi tập họp
nắng trên Saigon, Saigon trên nắng lô nhô

em đâu biết, tôi bây giờ, hầu như cây kiểng
bỏ phế trong nhà cũng mấy năm qua
tôi sống, cảm giác, ngọn dáo đâm trước ngực

*

NGUYỄN VĂN NGỌC

Nữa mai còn ai nhớ

Chàng chết trên rừng sâu

Nàng chết dưới biển sâu

Nữa mai còn ai nhớ

Chuyện hai người yêu nhau

Trong một thiên đường đỏ

(trích từ trang CaoViKhanh)

Sài Gòn xưa, những con đường, những chiều thứ bảy thơ mộng, một chút vui vội vã hậu phương, những cơn mưa buồn, thầm thì, bao giờ nữa: Sài Gòn ngày hai buổi/ gặp nhau trên xe lam/ nhìn nhau qua nắng bụi/ hẹn nhau khi tan trường/ chia tay đầu hẻm tối/ thế mà Sài Gòn đã là nơi chúng ta yêu nhau… (Nguyễn Hồi Thủ, 1972)

Chúng ta còn đủ mơ ước để hẹn hò không?

*

NGUYỄN HỒI THỦ

Sống không trí nhớ

(Trích đoạn)

Có những con đường mang những tên

… Độc Lập -Tự do – Công Lý – Duy Tân…

Mà tôi vẫn đi ngày hai buổi

… những công trường Lam Sơn, Diên Hồng, Hòa Bình, Chiến Sĩ…

Thế nào rồi chúng ta cũng sẽ quên đi

Quên mà nhớ những khoảng trời lưu lạc

Một nửa đời chắp vá vẫn so le,

chân càng đi lòng càng muốn trở về,

hết tuyệt vọng lại điên cuồng hy vọng,

hễ cời đến than lại bừng lửa sống

Nhớ mà quên rồi khóc cũng như cười

Thế nào rồi chúng ta cũng sẽ quên đi

Quên cả xa xôi đường đã rẽ, quên cả nắng,

quên cả mưa, quên cả mùa xuân trong tấc cỏ,

Quên tương lai hờ, quên đau buồn cũ.

Quên từng đêm giật mình trong giấc ngủ

Thế nào rồi chúng ta cũng sẽ quên đi

Như người không trí nhớ,

chẳng vùi lấp cho lòng thành nghĩa địa,

chẳng đào lên như kẻ quật mồ,

chẳng mời ai xem giờ những xác héo khô

Cứ để đấy cho thời gian gặm nhấm

Thế nào rồi chúng ta cũng sẽ quên đi

Người ơi quên mà sống!

(Trích từ tập thơ Vũng Nước Bùn Lầy, 1986)

*

NGUYỄN QUANG HIỆN

Gửi nhà văn John Steinbeck

(Trích đoạn)

hoan hô sự viếng thăm của John Steinbeck sang Việt Nam

hoan hô tác giả “Chùm Nho Của Sự Căm Phẫn”

tôi không được rõ lý do nào dẫn ông tới đây

nơi sức mạnh quyết chiếm ưu thế

nơi thuốc nổ lửa đỏ

nước mắt máu mồ hôi và âm mưu đan nhau dầy đặc

nơi cũng đầy những bản anh hùng ca

giữa ánh sáng ban ngày hay trong bóng tối

có thể ông sang đây do tính hiếu kỳ

muốn tìm thêm đề tài viết truyện

hay có thể ông tới Việt Nam

như một du khách thường

thừa thì giờ đi ngắm các kỳ quan trên thế giới

nhưng dù với lý do nào tôi không được biết

nhân danh tôi

một thanh niên Việt Nam bình thường

một người làm thơ

cho quê hương cho tình yêu cho cuộc đời

chào mừng ông, ông John Steinbeck sang Việt Nam

dù như một du khách đi ngắm các kỳ quan

tôi xin giới thiệu Việt Nam là một kỳ quan

của khổ đau và chịu đựng.

Tôi xin giới thiệu thêm một lần

Việt Nam là một kỳ quan

Của chịu đựng khổ đau

Và bất khuất

(Trích từ tập thơ Sài Gòn Nơi Tôi Đã Vui Chơi Và Nhỏ Lệ,1966)

*

NGUYỄN THỊ HOÀNG

Niềm vui nhỏ

Anh về với em một chiều thứ bảy
Cofetti vung vẩy lá me
Những đốm đèn xe chập chùng xa lộ
Hơi thở khuya nào gợn gió heo may
Anh bỏ em từ sáng thứ hai
Thành phố tha ma trải dài đại lộ
Từng hạt mưa bay cửa lòng bỡ ngỡ
Anh bỏ em từ trắc trở đầu tiên
Cho em xin một chiều vui thứ bảy
Có nhạc phòng trà có lá me bay

(1969)

*

NHÃ CA

Khi trở lại Sài Gòn

Khi trở lại Sài Gòn

Mùa mưa lũ với lời hứa của chàng
vết bẩn trên mũi giầy
bàn chân em yêu quý
lòng tủi hờn hay mặt tối tăm
linh hồn em một hòn đá nhỏ

Khi trở lại Sài Gòn
dĩ vãng giương mắt nhìn
vồ vập hỏi han
và nhớ lại
mỗi người thì quay, ngồi đứng hay nhìn
và sống lại
rồi trời mưa trời mưa
và tiếng cười
bàn chân trong vũng bùn hối tiếc

Bây giờ đứa con gái đã mù lòa
thân thể cùng tuổi trẻ
đã không bao giờ có
bây giờ đứa con gái đã đi qua
trên đầu mũi giầy anh
vết bẩn bàn chân yêu quý đó
một chân

Bây giờ đứa con gái không còn
không còn nữa

Lời hứa của chàng cùng với mùa mưa lũ
anh đã không quên em
chuyến xe đêm những bầy sao tình tự
trời mưa trời mưa vẫn trời mưa
má ơi má ơi
con còn sống

Ôi đáng thương và cám ơn anh
mùa mưa lũ Sài Gòn sắp dứt

(Thơ Nhã Ca, 1972)

*

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Mõ phố

Mõ phố rao buồn

Ngọng nghịu hồi chuông

Ù con gió chướng

Áy cỏ tai ương

Buồn rao mõ phố

Dựng mồ khói sương

Người ma nhí nhố

Cám cảnh âm dương

Vọng rao hồn phố

Tai nghe rất rõ

Nước mắt đang tan

Cười khan như vỡ

Chân người thấp cao

Rừng sâu hút bóng

Tượng đá chờ nhau

Buồn rao mõ vọng

Vọng phố lưu vong

Mất tên mất tuổi

Nhớ biển lưu thân

Hạt sông ngậm muối

Hạt buồn rao mưa

Phố kim phố cổ…

Chuyện kể. Đời xưa

Sài Gòn nức nở…

Nguyễn thị Khánh Minh

(4.2014)

*

THÁI BÁ TÂN

Tôi yêu Sài Gòn xưa trước 1975

Tôi là người Hà Nội
Hơn bốn chục năm nay.
Chính xác hơn – dân Nghệ.
Chính xác nữa – dân cày.

Giờ về hưu, rỗi rãi,
Thỉnh thoảng vào Sài Gòn.
Tôi nói Sài Gòn nhé
Vào Sài Gòn thăm con.

Sài Gòn, tên thật đẹp.

Con gái Sài Gòn xinh.
Tôi nói Sài Gòn nhé,
Không phải hồ chí minh.

Nếu cần, đảng cứ việc
Bỏ tiền ra mà xây
Một thành phố cực lớn,
Đặt tên cho ông này.

Còn Sài Gòn yêu quí,
Sài Gòn của muôn đời,
Thì làm ơn để đấy
Cho tôi và mọi người.

Nhớ xưa đảng có nói,
Thể nguyện theo ý dân
Mà đổi tên thành phố,
Rằng việc ấy rất cần.

Vì tôi không được hỏi,
Nên khi vào thăm con,
Ai gọi gì mặc kệ.
Tôi cứ gọi Sài Gòn.

Nhớ nhé, Sài Gòn nhé.
Chỉ cái tên này thôi.
Xin đừng gọi tên khác
Khi nói chuyện với tôi.

*

TRẦN HẠ VI


  • Nguyễn Thị Khánh Minh phụ trách
  • dòng sông cũ (wordpress.com)