"Mả Đáo Thành Công, Kỳ Khai Đắc Thắng"

Giáp Ngọ, ngựa hí rền vang
Toàn dân vùng dậy ngút ngàn uy linh
Tiến về dẩm nát Ba đình
Lăng tên đồ tể máu tanh gióng giòng.
Cờ vàng bay rợp non sông
Khải hoàn ca khúc khai dòng tự do
Đồng hương bốn bể hẹn hò
Ngày về cố quốc dưới cờ vinh quang@

Trúc Giang






Vùng lên giẫm nát loài cường khấu Đứng dậy đập tan lũ bạo quyền

'"STOP EXPANDING TRADE WITH VIETNAMESE STATE-OWNED COMPANIES AT THE EXPENSE OF HUMAN RIGHTS"

CỘNG SẢN CÒN THỐNG TRỊ QUÊ HƯƠNG, TA CÒN PHẢI ĐẤU TRANH

" The Vietnamese communist regime must stop the sex trafficking of women and children under the disguise of government plans of "Exporting Overseas Labour". "

Dân tộc còn ngồi yên, CS còn đè đầu cởi cổ. Khi nào dân tộc đứng lên ắt ngày đó CS phải sụp đổ.

"The Vietnamese communist regime must stop the religious oppression and persecution of the Hoa Hao, Cao Dai, Christian, Catholic and Buddhist faiths immediately."

VGCS chỉ thay đổi hình thức để bịp thế giới văn minh, nhưng bản chất tội ác của bạo quyền không hề thay đổi .

"The Vietnamese communist regime must release all prisoners of conscience as well as all political prisoners immediately."

NGƯỜI SỐNG VÌ LÝ TƯỞNG TỰ DO, DÂN CHỦ ,HẠNH PHÚC CỦA TỘC VIỆT

"STOP EXPANDING TRADE WITH VIETNAMESE STATE-OWNED COMPANIES AT THE EXPENSE OF HUMAN RIGHTS"

Ngày nào cộng sản còn nắm quyền cai trị đất nước, thì ngày ấy người Dân Việt còn thống khổ lầm than

"The Vietnamese communist regime must stop all forms of oppression and cease taking land from its people and trading it to foreign nations for its own financial gain."



1
Tưởng Niệm Quốc Hận 20 tháng 7 năm 1954!

Tuesday, 22 July 2014

Dân Muốn Biết : Kỷ niệm 60 năm di cư tị nạn cộng sản và công lao của các vị cha già

Kỷ niệm 60 năm di cư tị nạn cộng sản
và công lao của các vị cha già


Kỷ niệm 60 năm di cư tị nạn cộng sản và công lao của các vị cha già.
Sàigòn, Việt Nam (VietCatholic News 20-07-2014) - Các vị cha già là danh xưng vừa đầy lòng kính trọng vừa dạt dào tình cảm thương mến, biết ơn của đồng bào di cư Công Giáo tị nạn Cộng Sản 1954 dành cho các vị linh mục có công dẫn dắt họ đi mở xứ. Mặc dù là thế, nhưng trong bài này, chúng tôi xin gác sang một bên khía cạnh tôn giáo, chỉ thuần đứng trên phương diện đời, phương diện dân sự để đánh giá công lao của các vị cha già trong công cuộc di cư 1954 mà chúng tôi coi như là một cuộc di dân vĩ đại, đưa dân đi từ Bắc vô Nam để khai khai khẩn đất đai, tạo dựng đời sống ấm no, an cư lạc nghiệp cho hàng trăm ngàn đồng bào vào thời kì đặc biệt của đất nước sau Hiệp định Genève chia đôi lãnh thổ năm 1954.

Cuộc di cư tị nạn Cộng Sản năm 1954 đã đưa vào Miền Nam gần một triệu đồng bào miền Bắc.

Chúng tôi viết bài này vì gia đình chúng tôi cũng ở trong đoàn lưu dân ấy. Lúc đó tuy tuổi còn nhỏ, song chúng tôi vẫn còn nhớ tình cảnh đồng bào di cư đã phải trải qua tại các trại định cư lúc ban đầu đầy khó khăn. Chúng tôi đã nhìn thấy vai trò lãnh đạo của các vị linh mục cần thiết như thế nào trong việc ổn định cuộc sống mới cho đồng bào. Sau này lớn lên đi ra ngoài xã hội, mỗi khi có dịp trở về một trại định cư năm xưa, chúng tôi đều kinh ngạc về khả năng thay hình lột xác mau chóng và tốt đẹp trong đời sống mọi người. Công cuộc định cư đã thành công tốt đẹp, chẳng những là ơn ích cho chính những lưu dân mà còn là phúc lợi xét về nhiều mặt cho đất nước nữa.
Nhiều sách báo đã nói về cuộc di cư vĩ đại năm 1954, nhưng chưa có tác giả nào đề cập tới công lao của hàng trăm vị linh mục đã góp sức đáng kể vào sự thành công tốt đẹp cho công cuộc này. Hôm nay nhân là thời điểm kỉ niệm việc thành lập các trại định cư được đúng một nửa thế kỉ, chúng tôi cảm thấy cần phải nói lên tình cảm biết ơn đối với các vị cha già bằng cách tuyên dương công lao của các vị. Các vị linh mục năm xưa ấy hầu hết đã ra người thiên cổ, chỉ một số rất ít còn sót lại nay đã lên bậc đại thọ. Tuy là chậm trễ song vẫn hơn là không bao giờ.
Cuộc di cư tị nạn Cộng Sản năm 1954 đã đưa vào Miền Nam gần một triệu đồng bào miền Bắc. Trong số này, có khoảng 200 ngàn quân nhân, công chức và dân các thành thị, đã cung cấp cho Miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) nhiều người có tài năng, học thức, đóng góp xuất sắc trên các lãnh vực: chính trị, hành chánh, an ninh, quân sự, văn hóa, giáo dục, văn học, nghệ thuật, kinh tế, thương mại, khoa học kĩ thuật, v. v.. Nhưng thành phần ưu tú này không phải là đối tượng của bài này. Ở đây chúng tôi chỉ nói tới khối đa số đồng bào di cư thuộc thành phần thợ thuyền và nông dân Công Giáo. Họ là những người bình dân, là nông dân chưa bao giờ ra khỏi lũy tre làng, nay vì nạn Cộng Sản mà phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, trốn chạy vào Miền Nam xa xôi, tương lai không biết sẽ ra sao. Họ mới là thành phần cần có người lãnh đạo, hướng dẫn trong cuộc sống mới. Người hướng dẫn, lãnh đạo họ chính là các vị linh mục được sai tới.
Trong tình hình rối loan lúc đó, mỗi người, mỗi gia đình trốn thoát Cộng Sản một cách khác nhau. Chỉ có rất ít trường hợp vị linh mục ra đi cùng giáo dân, đa số là những cuộc vượt thoát cá nhân, không có tổ chức. Gia đình chúng tôi trốn khỏi làng bằng 3 đợt khác nhau. Cuối cùng chúng tôi được gặp lại nhau tại trường trung học Dũng Lạc cạnh nhà thờ lớn Hà Nội, trước khi được tổ chức đi máy bay Dakota vào Sài Gòn. Không biết vị linh mục chính xứ của chúng tôi ra đi cách nào, chỉ biết chắc là ông đã phải bí mật vượt thoát, bởi khi Cộng Sản về làng, chúng tôi còn thấy ông mặc bộ quần áo màu nâu, hằng ngày cuốc đất ngoài vườn, mặt lúc nào cũng đăm chiêu lo lắng. Cảnh ông linh mục cuốc đất chúng tôi chưa từng thấy xẩy ra trước đó.
Lúc ban đầu, hàng trăm linh mục di cư thuộc 10 giáo phận miền Bắc và Bắc Trung phần sống tập trung với nhau tại những địa điểm riêng của từng giáo phận di cư. Ðến khi các trại đinh cư được thành lập, các linh mục lần lượt được giáo quyền gửi đi theo với giáo dân. Ðồng bào Công Giáo chiếm tới 80% tổng số dân di cư và đa số họ là những nông dân, một số ít là ngư phủ, cho nên hầu hết các trại định cư cũng trờ thành các xứ đạo, họ có khuynh hướng chọn làm nghề cũ và ở rất nhiều nơi, những người đồng hương lại tìm về với nhau. Do đó mà có các địa danh như Hà Nội, Hà Ðông, Hải Dương, Tân Hà, Bắc Hà, Lạng Sơn, Bùi Chu, Tân Bùi, Bùi Môn, Phát Diệm, Tân Phát, Bùi Phát, Thanh Hóa, Tân Thanh, Tân Sa Châu, Kẻ Sặt, Xã Ðoài, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim Thượng, Bạch Lâm, Ngọc Ðồng, v.v.
Theo luật lệ thuở trước, các linh mục Công Giáo được huấn luyện kĩ lưỡng qua 7 năm Trung học (Tiểu chủng viện), rồi ít nhất là 2 năm Triết học, 1 năm đi thử và 4 năm Thần học, trước khi có thể trở thành linh mục. Do đó, vừa vì niềm tin tôn giáo của giáo dân vào thiên chức linh mục, vừa vì các linh mục, nói chung, có kiến thức cao hơn giáo dân cho nên giáo dân rất kính trọng các linh mục. Gặp thời buổi quốc biến, trong lúc nông dân Công Giáo di cư tị nạn Cộng Sản đang lâm cảnh biệt xứ, hoang mang, lạc lõng thì các linh mục được sai tới với họ tự khắc trở thành người lãnh đạo họ cả về tinh thần lẫn vật chất.
Về tinh thần, hàng ngày, sớm tối, các linh mục cùng với bổn đạo tụ họp để kinh sách, lễ hạt, giảng giải, đem đến nguồn an ủi vô biên, niềm tin kính tuyệt đối vào tình thương của Chúa Nhân Lành, giúp cho tín hữu cảm nhận đầy đủ nghị lực hầu có thể vượt qua mọi đau thương thử thách. Chúng tôi đã từng tham dự thánh lễ ở ngoài trời tại một vài trại định cư, vì cảnh chân ướt chân ráo trại chưa kịp dựng lên một nơi thờ phượng, dù là bằng cây lá thô sơ. Chính trong cảnh thiếu thốn vật chất ấy, dường như lại thấy giầu có hơn, sung mãn hơn về tin tưởng, sốt mến.

Người mẹ Việt Nam tay bế tay bồng di cư vào nam tỵ nạn cộng sản.

Lúc ban đầu này, vị linh mục không phải chỉ chăm lo phần tinh thần cho đồng bào mà còn đóng vai trò lãnh đạo phần đời lo đời sống vật chất cho đồng bào ở trại định cư nữa, bởi vì ông là người hiểu biết luật lệ thủ tục hơn, có uy tín hơn. Ở trại định cư nào chúng tôi cũng thấy chính vị linh mục, cùng với vài ba giáo dân thân tín, tương đối có trình độ và lòng chung hơn, đã đôn đáo, đi đi về về, lo tiếp nhận và phân phát những đồ viện trợ như quần áo, thực phẩm, máy may, nông cụ, v.v.. Có một số trại định cư vì một lí do nào đó xét thấy không thích hợp cho cuộc sống mới của đồng bào, vị linh mục đã 'nhổ' toàn trại ra đi tìm một nơi sinh sống thuận tiện hơn. Công việc này thật sự khó khăn, nhưng các vị linh mục ấy đã làm được, chẳng hạn như linh mục Phạm Bá Nha đã đưa đồng bào từ Ðốc Vàng, Châu Ðốc về tái định cư tại An Hiệp, Bến Tre; linh mục Nguyễn Duyên Mậu đưa đồng bào từ Hố Ðồn, Tây Ninh về tái định cư tại Ninh Phát, Long Khánh, v. v.. Tại một số trại, Phủ Tổng Ủy Di Cư đã làm nhà sẵn cho đồng bào, cách xếp đặt trang trại do Phủ Tổng Ủy quy hoặch có lớp lang thứ tự. Nhưng ở nhiều trại, nhà cửa do đồng bào tự làm lấy với sự trợ cấp từ Phủ Tổng Ủy. Trong những trường hợp này, vị linh mục cùng những người phụ tá đã cùng nhau vẽ phác sơ đồ toàn trại, sắp xếp vị trí thánh đường, trường học, nhà xứ, trạm y tế, chợ, đường xá, các dẫy nhà của đồng bào, nghĩa trang, v.v.. Ðã có nhà thờ bao giờ cũng có trường học kế bên. Nhiều nơi còn có trường trung học đệ nhất cấp và đệ nhị cấp (cấp ba ngày nay) nữa. Nhờ vậy, chỉ sau khoảng 10 năm, các trại định cư đã cung cấp cho quốc gia rất nhiều sinh viên, hạ sĩ quan, sĩ quan, công chức, giáo chức, v.v.. Cũng do vị trí đặc biệt của một vị lãnh đạo vừa tinh thần vừa vật chất, mà linh mục có thể đóng góp tích cực, hữu hiệu vào việc giáo dục thanh thiếu niên trong trại, góp phần giữ gìn an ninh trật tự. Những tội phạm như trộm cắp, vô luân, ẩu đả, v.v., là tối thiếu. Ðã có một thời, vị linh mục còn đóng được cả vai trò của một vị thẩm phán hòa giải cho những cặp vợ chồng bất hòa, bất trung, những vụ tranh chấp nhà cửa, đất đai, v.v..
Ngày nay ai xuôi Miền Hậu Giang - Rạch Giá, tất phải đi qua vùng định cư Cái Sắn trù mật bát ngát, sẽ thấy làng mạc, kinh rạch, ruộng nương và các cơ sở văn hoá giáo dục có lớp lang, ngoạn mục. Các bô lão kể lại trước khi đồng bào di cư tới đây khai phá từ năm 1956, toàn vùng này chỉ là cỏ lác cao ngút đầu và muỗi mòng thì dầy đặc như trấu. Nếu có ai lên xứ hoa đào qua quốc lộ 1, tiếp nối qua quốc lộ số 20, sẽ chứng kiến các thị trấn nhỏ sầm uất mọc lên như nấm, nhà cửa đan kín dọc hai bên đường, dân chúng đông vui tấp nập. Có ai ngờ trước năm 1955, vùng Hố Nai chỉ là vùng đất bạc mầu, hoang vu và khô chồi; còn vùng Gia Kiệm, Dốc Mơ, Túc Trưng, La Ngà, Phương Lâm chỉ là rừng tre già và mây gai ra tới tận lề đường; quốc lộ 20 hoàn toàn mất an ninh, xe cộ không thể lưu thông được. Rồi còn những Ðức Lập, những Ban Mê Thuột, những Bình Giả, những Bảo Lộc...
Song dù thế nào, cuối cùng linh mục vẫn chỉ là người có nhiệm vụ chuyên biệt lo phần thiêng liên tôn giáo chứ không có nhiệm vụ phần đời. Các vị ra gánh vác giúp đỡ đồng bào di cư, vì gặp hoàn cảnh đặc biệt ngoại lệ. Cho nên tới ngày 10 tháng 4 năm 1956, giám mục Phạm Ngọc Chi, phụ trách Ủy Ban Hộ Trợ Ðịnh Cư Công Giáo, đã yêu cầu các linh mục chuyển giao mọi việc thuộc hành chánh cho dân chúng để trở về thuần túy lo việc đạo. Từ nay, các linh mục có chăng chỉ còn là vị cố vấn giúp đỡ chính quyền xã, ấp địa phương mà thôi.
Trở lên, chúng ta đã thấy cuộc di cư tị nạn Cộng Sản năm 1954 của gần một triệu đồng bào Miền Bắc và Bắc Trung phần chẳng những có ý nghĩa chính trị, quân sự quan trọng mà còn là một cuộc di dân khổng lồ góp phần phát triển quốc gia. Cuộc di cư ấy đã được chính phủ và quốc tế giúp đỡ tích cực, đưa tới thành công tốt đẹp. Từ bàn tay trắng, vậy mà các trại định cư đã mau chóng ổn định cuộc sống.
Riêng về các trại định cư mà hầu hết là của đồng bào Công Giáo thì các vị linh mục đã góp công to lớn xây dựng cả về mặt tinh thần lẫn vật chất. Các vị ấy, nhà nước không mất công đào tạo, huấn luyện, nhưng đã trở thành một thứ 'cán bộ' đầy khả năng, giúp vào công tác có tầm vóc quốc gia, xem ra còn cách đắc lực hơn là các cán bộ nhà nước thứ thiệt.
Người ta hết sức cảm động chứng kiến lễ tang của mỗi vị cha già, tất cả đồng bào trong trại định cư xưa, không biệt tuổi tác, có gia đình gồm cả ba thế hệ, đều chít khăn tang để tỏ lòng kính trọng, nhớ ơn vị ân nhân có công khai sáng. Nhiều nơi đồng bào an táng vị cha già ngay cạnh giáo đường để hằng ngày khi tới giáo đường, đồng bào như còn được nhìn thấy, như là ngài vẫn còn đấy, chưa đi xa!
Ước mong các trại định cư xưa thu thập lại những tài liệu, hình ành, những con số thống kê trong lịch sử thành lập trại; thâu thập tiểu sử và điếu văn của cha già khai sáng để lưu truyền cho con cháu hoặc là tập trung về tàng trữ tại một trung tâm Công Giáo nào đó để trở thành tài liệu lịch sử.
Cuộc đời dâu bể. Sáu mươi năm trôi mau như bóng câu vút qua song. Năm theo mẹ di cư vào Nam chúng tôi là cậu bé 9 tuổi thế mà nay đã vừa gần 7 bó! Hồi tưởng lại cuộc di cư, đối với số phận mỗi cá nhân, mỗi gia đình, việc ra đi hay ở lại, có thể có cái hay cái dở, nhưng nói chung cái hay là vượt trội. Song đối với quốc gia, cuộc di cư ấy hoàn toàn là một cuộc di dân chỉ đem lại lợi ích to lớn mà thôi. Các vị cha già đã đóng góp tích cực, làm cho cuộc di cư ấy thành công tốt đẹp, tức là đã đóng góp đắc lực vào cuộc di dân phát triển quốc gia.

Tham khảo:
* Văn Phòng Tổng Thư Ký Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam. Giáo Hội Công Giáo Việt Nam Niên Giám 2004. Nhà xb Tôn giáo. Hà Nội, 2004.
* Trường Cao Ðẳng Sư Phạm Thành phố Sàigòn & Cục Ðo Ðạc Và Bản Ðồ Nhà Nước. Việt Nam Tập Bản Ðồ Hành Chính Và Du Lịch. 1989.
* Phan Phát Huồn. Việt Nam Giáo Sử. Quyển II. Cứu Thế Tùng Thư. Sài Gòn, Việt Nam. 1962.
* Ðoàn Thêm. Hai Mươi Năm Qua 1945 - 1964 Việc Từng Ngày. Xuân Thu.
* Ðoàn Thêm. 1969 Việc Từng Ngày. Xuân Thu.
* Lâm Thanh Liêm & Gustave D. Meillon. Từ Sàigòn Tới Thành phố Sàigòn. Nam Á.
* Ðỗ Hữu Nghiêm. Giáo Hội Và Các Ðồng Bào Thiểu Số Ở Việt Nam. Ðịnh Hướng 26.
* Tôn Thất Trình. Khảo Luận về Công Cuộc Phát Triển Vùng Hậu Giang Việt Nam. Ðịnh Hướng. Số 45.

Trần Vinh

 http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/14news/14news0590.htm

Saturday, 19 July 2014

Tưởng niệm Quốc Hận: 20-7-1954!

1“Đây phương Nam, đây ruộng Cà Mâu no lành, với tiếng hát êm đềm trong suốt đêm thanh…”. Dẫu cung đàn đã xưa, lời nhạc đã cũ; nhưng sẽ không bao giờ trở thành xưa cũ, khi chúng ta, những người dân của nước Việt Nam Cộng Hòa đã một thời được sống trong cảnh thanh bình, tự do, no ấm; vì thế, hôm nay, chúng ta, dù mái tóc đã phai mầu, nhưng mỗi lần lướt đôi tay trên chiếc dương cầm, hay trên những cây đàn tuyệt hảo của đầu thế kỷ 21, thì có lẽ trong chúng ta, dễ mấy ai quên đi những chiếc phím ngà xưa cũ của những cây đàn Mandoline của thế kỷ trước, với bài hát Trăng Phương Nam, để rồi có thể có nhiều người sẽ rưng rưng, khi vọng tưởng về những năm tháng thanh bình xưa đã mất, và không bao giờ tìm thấy lại, dù một lần nào nữa!
Hôm nay, ngày 20 tháng 7 năm 2012; để tưởng nhớ đến một ngày đất nước đã bị chia cắt, phân ly!  Người viết muốn nhắc lại một bài đã viết trước đây:  Kể từ khi nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay cộng sản, thì người Việt tỵ nạn chúng ta chỉ còn biết và tưởng niệm ngày 30/4/1975, là ngày Quốc Hận. Nhưng ngược thời gian trở về cuối thập niên 1950, và đầu thập niên 1960. Khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Người đã khai sinh ra Thể chế Cộng Hòa Việt Nam, thì người dân miền Nam đã từng tưởng niệm Ngày Quốc Hận là ngày 20/7/1954. Ngày ấy, theo hiệp định Genève, đất nước đã bị Cộng sản Bắc Việt và Pháp chia cắt thành hai miền bởi giòng sông Bến Hải. Miền Bắc do Hồ Chí Minh cai trị, với những cuộc “cách mạng” máu đổ đầu rơi, con tố cha mẹ, vợ tố chồng. Rồi “cách mạng văn hóa” làm cho không biết bao nhiêu người đã phải chết thảm, hoặc bị tù đày, tàn hại đến cả một đời người, mà đến cả sóng nước của giòng sông Bến Hải cũng phải khóc hờn ai oán:
 “Con sông Bến Hải từ độ chia hai,
 Đêm đêm nó khóc than hoài
Hờn căm cộng sản chia hai nhịp cầu
Lớn lên từng đợt u sầu
Bao giờ Nam-Bắc nhịp cầu sang ngang
Bên đây đời sống thênh thang
Bên kia kiếp sống điêu tàn xác xơ
Ruộng đồng lúa mọc lơ thơ
Máu pha nước mắt ngập bờ tre xanh!”
Trong khi đó, tại miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đầy lòng nhân ái, Người đã sống một cuộc đời thanh bần, liêm khiết, quên mình, để tận hiến cho Quốc Gia và Dân tộc. Như mọi người đã biết, vào thời kỳ ấy, Nền Cộng Hòa Việt Nam còn non trẻ, lại còn thêm loạn sứ quân cát cứ, và không được đồng minh và quốc tế viện trợ như Việt Nam Cộng sản hiện nay. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã xây dựng được một nước Việt Nam Cộng Hòa tự do, phồn thịnh. Từ thành thị cho đến thôn quê, nơi đâu cũng được sống trong cảnh thanh bình, no ấm.
“Tiên thiên hạ vi ưu, vi ưu - Hậu thiên hạ vi lạc, vi lạc”; đó là, cách Sống của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Bởi vậy, cho nên chính vì xót đau cho những cảnh đời lầm than, đau khổ của đồng bào đang ở bên kia Vĩ tuyến, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm và là vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã có chủ trương Bắc Tiến. Nhưng tiếc rằng, con đường Bắc Tiến chỉ mới ở bước đầu, thì vị Tổng Thống đã có công nghiệp khai sáng Nền Cộng Hòa Việt Nam đã đi vào lịch sử.
Những điều ấy, đã được Thi sĩ Vũ Hoàng Chương viết thành những vần thơ, vì cứ ngỡ rằng “Từ nay trăm họ câu an lạc-Đàn khúc đầm Dao, rượu chén Quỳnh”, và với ước mơ Bắc tiến, để có một ngày “trở lại Cố đô- Đại định Thăng Long, một bóng Cờ”. Người viết xin chép lại những vần thơ của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, để mọi người cùng “chiêm nghiệm” như sau đây:
  
“Lò phiếu trưng cầu, một hiển linh
Đốt lò hương, gửi mộng bình sinh
Từ nay trăm họ câu an lạc
Đàn khúc đầm Dao, rượu chén Quỳnh!
 
Có một ngày ta trở lại cố đô
Lưỡi lê no máu rửa Tây Hồ
Trên tầng Chí Sĩ bàn tay vẫy
Đại định thăng Long, một bóng cờ”.
 
Nhưng không riêng Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, mà Nhạc sĩ Lam Phương cũng đã viết thành một ca khúc Chuyến đò Vĩ tuyến, và đã đi vào Nhạc sử:
 
“Đêm nay trăng sáng quá anh ơi
Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu
Lênh đênh trên sóng nước mông mênh
Bao đêm lạnh lẽo em chờ mong gặp bóng chàng
Vượt rừng vượt núi đến đầu làng
Đò em trong đêm thâu sẽ đưa chàng sang vĩ tuyến
Phương Nam ta sống trong thanh bình
Tình ngát hương nồng thắm
bên lúa vàng ngào ngạt dâng
Ơ... ai... hò ...
Giòng sông mơ màng và đẹp lắm
Anh ơi ai nỡ chia đôi bờ
để tình ta ngày tháng phải mong chờ
Hò... hớ .... hò .... hơ ...
Em và cùng anh xây một nhịp cầu
Để mai đây quân Nam về Thăng Long
Đem thanh bình sưởi ấm muôn lòng !

Sương khuya rơi thấm ướt đôi mi
Tim em lạnh lẽo như chiều đông ngoài biên thùy
Ai gieo chi khúc hát lâm ly
Như khơi niềm nhớ cuộc từ ly lòng não nùng
Bùi ngùi nhìn cách xa ngàn trùng
Giờ đây em điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm
Bao đêm thổn thức dưới trăng ngà
Hồn đắm say chờ đón ngày anh về sưởi lòng nhau”.
 
Nhưng than ôi! Những hoài bão, những ước mơ, mà chắc của rất nhiều người; đặc biệt nhất, là những đồng bào của Miền Bắc đã đành phải nuốt nước mắt khi quyết định phải vào miền Nam để tỵ nạn Cộng sản. Và chỉ có chính họ, mới thấu được những nỗi đau thương khi phải rời bỏ nhà cửa,  ruộng vườn, có nhiều gia đình đã phải lạc mất người thân, khiến cho gia đình của họ đành phải đôi bờ bên giòng sông Bến Hải và cầu Hiền Lương, với ước mơ: “Bao giờ Nam-Bắc nhịp cầu sang ngang”, và “anh cùng em xây một nhịp cầu, Để mai đây quân Nam về Thăng Long, Đem thanh bình về sưởi ấm muôn lòng”.

Những nỗi đau thương của đồng bào miền Bắc, vào thời điểm sau ngày 20/7/1954 ấy, tại miền Nam ít ai hiểu thấu; nhưng cho đến sau ngày 30/4/1975, thì những người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản thực sự, và khi bước xuống những con thuyền mong manh để vượt biển, hoặc chạy trốn khỏi đất nước trên những con đường rừng; chỉ đến lúc đó, khi ngoái nhìn về nơi cố quốc, thì họ mới thấy lòng quặn thắt, mới thấu được những nỗi đau của đồng bào miền Bắc ngày xưa, khi không còn con đường nào để chọn bằng con đường phải ra đi!

Ôi! Những dòng nước mắt nào đã rơi rơi trên suốt con đường từ Bắc vào Nam, và những dòng nước mắt nào đã rơi xuống những bãi biển, rơi trên những con thuyền đã đưa người ra khơi, để đi tìm sự sống trong cái chết, và đã có biết bao nhiêu người đã phải bị vùi chôn dưới đáy nước, hay đã vĩnh viễn bỏ mình ở các trại tỵ nạn xa xôi!

Làm sao nói hết được nỗi đau; bởi vì tất cả những ngôn từ của nhân loại không làm sao diễn đạt cho vừa với những vết thương, những nỗi đau đớn quá kinh hoàng, và những mất mát, mà không có bất cứ một thứ vật chất nào có thể bù đắp, mà mãi mãi sẽ không bao giờ quên được, và trong số người ấy, đã có rất nhiều người là đồng bào miền Bắc đã từng đứt ruột rời bỏ tất cả, để vào Nam tỵ nạn Cộng sản, những tưởng rằng đã chạy thoát; đâu có ngờ rằng, mình sẽ phải chạy giặc tới hai lần, và trong số ấy, cũng có nhiều người đã vĩnh viễn không bao giờ còn nhìn thấy lại  chốn cũ, làng xưa!

Giờ đây, kể từ ngày Quốc Hận: 20/7/1954; 58 năm dài đã trôi qua, với bao nhiêu những biến cố tang thương, dâu bể, dù là người miền Bắc hay người miền Nam, và dù một lần, hay hai lần bỏ xứ ra đi, sống đời tỵ nạn trên những đất nước tạm dung, hoặc ngay cả những đồng bào tại quốc nội; nhưng hôm nay, với hệ thống thông tin toàn cầu, với những hình ảnh, và những thước phim tài liệu hoàn toàn trung thực, thì có lẽ đa số đồng bào đã biết được cuộc sống tương đối tự do, no ấm, thanh bình của đồng bào tại miền Nam dưới  thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa: 1954-1963; thì chắc chắn sẽ thấy được công nghiệp của Người đã khai sáng Thể chế Cộng Hòa Việt Nam, và rồi sẽ bồi hồi thương tiếc cho tất cả những gì đáng phải trân-quý, đáng phải gìn giữ; nhưng bây giờ đã mất, để rồi mãi mãi chỉ còn biết tìm lại qua dư âm của những lời ca, tiếng nhạc và những vần thơ năm cũ:
Đẹp thay Chính Thể Cộng Hòa,
Vui thay tiếng hát câu ca thanh bình.
Cộng Hòa như ánh Bình Minh,
Như giòng nước mát như tình lúa xanh.
 
Pháp quốc, 20/7/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 http://hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_TuongNiemQuocHan20Thang7.htm

Friday, 18 July 2014

Mỹ-TQ Cưa Đôi Biển Đông?

Mỹ-TQ Cưa Đôi Biển Đông?




Tại sao Ngoại Trưởng John Kerry tới Bắc Kinh, bắt tay bắt chân các quan chức đỏ Hoa Lục... thê rồi Trung Quốc tuyên bố rút giàn khoan 981 về đảo Hải Nam, vì nhiệm vụ khoan dầu đã xong, và rồi trả tự do 13 ngư dân Việt về lại Việt Nam?

Hẳn nhiên không phảỉ vì Trung Quốc sợ Mỹ. Hãy nhớ rằng, Bắc Hàn còn không sợ Mỹ, hở ra là lãnh tụ Kim Jong-Un bắn phi đạn và đại bác liên tục sang biển Nam Hàn và biển Nhật Bản để ồn ào chống Mỹ... huống gì là đàn anh Bắc Kinh của họ Kim.

Có phải vì lý do bão lớn, nên phải rút giàn khoan về Tàu? Hẳn cũng không phải. Mà nếu có phải tránh bão, thì sau bão lại đưa vào mấy hồi...

Hay chỉ đơn giản là Mỹ với Trung Quốc đã có thỏa hiệp cưa đôi Biển Đông?

Theo một kiểu y hệt như giang hồ chia vùng làm ăn: Mafia Hà Nội sẽ không lấn đất của Mafia Hải Phòng... Nếu thế, Việt Nam sẽ muôn đời u ám.

Hãy hình dung rằng, Kerry nói rằng hai nước Mỹ-TQ phải sống chung với nhau, nghĩa là Mỹ sẽ bảo kê cho Philippines, Nhật Bản và Nam Hàn... còn Mỹ sẽ nhường Việt Nam cho Tàu bảo kê?

Nghĩa là, chuyện nhà ai nấy xử. Nghĩa là, nếu đàn em Hà Nội hỗn láo, đàn anh Bắc Kinh có quyền bộp tai, rồi sẽ không ai thấy cần can thiệp?

Mà thưc tế, Hà Nội chưa từng gửi văn bản chính thức nào để yêu cầu Mỹ giúp can thiệp.

Ngay cả bản Nghị Quyết của Thượng viện Mỹ yêu cầu Tàu Cộng trả nguyên trạng Biển Đông trước ngày 1 tháng 5-2014 vẫn nói rõ Việt Nam không phải đồng minh của Mỹ, chỉ nói rõ rằng đồng minh của Mỹ là Úc, Nhật, Nam Hàn và Philippines...

Nhưng cưa đôi Biển Đông để làm gì, và thế nào? Chúng ta không rõ, nhưng có vẻ thỏa hiệp đã có.

Một lý do thấy rõ, chính phủ Mỹ không bao giờ tin chính phủ Hà Nôi, một chính phủ thâm hiểm, tráo trở, gian xảo...

Mỹ cũng biết rõ rằng, đại đa số dân Việt Nam cũng không tin gì vào nhà nước Hà Nội, và Mỹ sẽ suy nghĩ... rằng tại sao Mỹ phải quan tâm về dân chủ hóa VN chớ, vì cứ để cho Đảng CSVN trở thành một kiêu Kim Jong-Unở Việt Nam sẽ có lợi cho hòa bình thế giới hơn.

Đơn giản vì, hình ảnh Kim Jong-Un sẽ làm toàn dân Nam Hàn kinh hoàng, và sẽ mang ơn quân lực Mỹ đã, đang và sẽ gìn giữ phòng tuyến dân chủ này.

Chẳng ai ngu gì chơi trò dân chủ hóa Bắc Hàn, vì Mỹ lo sợ làn sóng tỵ nạn và thảm sát sẽ xảy ra nếu có biến động ở Bắc Hàn. Chuyện đã thế, thì cứ để yên như thế, an toàn hơn. Thêm nữa, tự thân Bắc Hàn đã là một chốt chặn sự bành trướng của Tàu.

Vì nếu Bắc Hàn sụp đổ, kiểu hào hiệp như Mỹ sẽ phải đưa USAID vào bơm tiền cứu đói, mở trại tỵ nan...

Mỹ cũng suy nghĩ y hệt như thế về Việt?Nam: tại sao phải dân chủ hóa VN, nơi Đảng CSVN cũng tráo trở và tàn bạo như Kim Jong-Un.

Ngay cả khi CSVN tuyên bố rời bỏ chủ nghĩa CS,, chưa chắc toàn dân VN và cả chính phủ Mỹ đã tin được.

Vì Đảng CSVN đã từng chứng tỏ rằng họ không xem mạng người là cái gì cần tôn trọng. họ đã đấu tố cải cách ruộng đất, đấu tô các nhà văn trong nhân văn Giai Phẩm, tàn sát người quóc gia như việt Nam Quôc Dân Đảng, bắn đaị bác vào Chợ Cai Lậy, thảm sát Mậu Thân...

CSVN ác tới như thế, mà bây giờ bỗng nhiên nói dân chủ thì may ra, chỉ có Cộng sản Tàu mới tin nổi...

Câu hỏi nơi đây là, có phải nhà nước Hà Nội đã có thỏa ước mật nào với Băc Kinh để 13 ngư dân được trả về nước?

Không lẽ vì sợ bão, mà Tàu Cộng trả tự do cho 13 ngư dân Việt?

Phải chăng, trong khi Mỹ-TQ đồng ý cưa đôi Biển Đông, CSVN biết phận mình nên đã chịu triều cống Phương?Bắc, chấp nhận làm hàng thần lơ láo để bảo vệ quyền lực và tài sản cho toàn đảng?

Mỹ sẽ nghĩ đơn giản: Hãy để Việt Nam dưới chiếc dù của Tàu, vì VN như thế cũng là một điểm chặn bành trướng của Tàu.

Và sẽ là bài học cho các nước chung quanh: đó, thấy chưa, không cộng sản nào tin nổi... hãy xem cộng sản Tàu-Việt chúng nó cấu xé nhau, rồi ban đêm lại lên giường đi đêm.

Tự nhiên, các nước ASEAN khác sẽ rùng mình... suy nghĩ: chơi với Mỹ tử tế hơn, vì hãy xem kìa: VN được TQ trao tặng toàn giàn khoan, ốc bươu vàng... thế mà vẫn gỡ không nổi.


 Trần Khải

Malaysia Airlines MH17: Chân dung một số nạn nhân xấu số

Chân dung một số nạn nhân xấu số trên chuyến bay MH17 trước khi lên đường

Sau đay là một số hình ảnh chân dung về các nạn nhân có mặt trên chuyến bay MH17 của hãng hàng không Malaysia Airlines:


3 anh em Mo Maslin, 12 tuổi, (trái), em trai Otis, 6 tuổi, (giữa) và Evie Maslin, 10 tuổi, (phải) đã thiệt mạng trên chuyến bay MH17.

Helena Sidelik di chuyển từ châu Âu trở về quê hương Australia sau khi dự đám cưới một người bạn thân, chuyến bay MH17 đáng lẽ đã đưa bà tới nơi an toàn.

Nhà nghiên cứu sinh học, giáo sư Roger Guard là một người Australia khác xuất hiện trong danh sách hành khách trên MH17.

Giáo sư Jill Guard (vợ của Roger Guard) cũng có mặt trên chuyến bay MH17 khi di chuyển cùng chồng mình.

Sơ Philomene Tiernan (giữa), di chuyển trên chuyến bay mang mã hiệu MH17 sau khóa truyền đạo dài ngày ở châu Âu.

Cặp vợ chồng Albert Rizk (ngoài cùng bên trái) và Marie (thứ 3 từ trái sang) di chuyển từ châu Âu về Australia trên MH17.

Elaine Teoh, 27 tuổi, sinh viên của trường Đại học Melbourne là một trong số những người Úc đầu tiên được xác định có mặt trên chuyến bay MH17.
Emiel Mahler, bạn trai của Elaine Toeh cũng đồng thời di chuyển trên chuyến bay MH17.

Thủy thủ lâu năm Nick Norris cùng 3 người cháu của mình cũng được xác định đã di chuyển trên MH17.

Danh sách các thành viên trong tổ bay lần này cũng được công bố, trong chuyến bay MH17, phi hành đoàn phần lớn mang quốc tịch Malaysia này gồm 15 người, trẻ nhất 27 tuổi và già nhất 54 tuổi.


Angeline Premila, một tiếp viên của phi hành đoàn trên chuyến bay MH17.


Shazana Salleh, tiếp viên của hãng hàng không Malaysia Airlines vừa trở về sau khi theo dõi World Cup 2014 tại Brazil.

Azrina Jacob, 41 tuổi, một tiếp viên khác trên chuyến bay tử thần.

Sanjid Singh, người Malaysia cũng là một thành viên tổ bay có mặt trên MH17.

Trong chuyến bay này còn có sự góp mặt của rất nhiều chuyên gia y tế, những người di chuyển tới Úc để dự hội thảo về cách phòng ngừa căn bệnh AIDS.


Glenn Thomas, công tác tại tổ chức WHO di chuyển trên MH17 tới Úc để tham gia hội thảo về căn bệnh AIDS.

Nhà phát động chống AIDS, Pim de Juiker cũng tới dự hội thảo AIDS lần này.

Joep Lange, nhà nghiên cứu đi đầu trong việc tìm hiểu về nguyên nhân cũng như cách thức phòng ngừa virus HIV.

Neeltje Tol (trái) cùng Cor Pan (người đăng tải hình ảnh máy bay MH17 trước khi cất cánh) cũng được xác nhận có mặt trên chuyến bay này.


--------------------
 

MH17 bị bắn rơi : Thế giới bàng hoàng, đòi phải được tự do điều tra

Giá cổ phiếu của Malaysia Airlines sụt gần 20% sau tai nạn xảy ra. Bên cạnh là bảng thông báo kêu gọi cầu nguyện cho các nạn nhân MH17.
Giá cổ phiếu của Malaysia Airlines sụt gần 20% sau tai nạn xảy ra. Bên cạnh là bảng thông báo kêu gọi cầu nguyện cho các nạn nhân MH17.
REUTERS/Edgar Su

Vụ máy bay của Malaysia Airlines bị rơi ở miền Đông Ukraina ngày 17/07/2014 đã khiến cả thế giới bàng hoàng, một số nước kêu gọi phải được tự do điều tra về nguyên nhân tai nạn.

Trong cuộc điện đàm với Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte hôm qua, tổng thống Barack Obama đã yêu cầu điều tra” nhanh chóng “ và “không gặp cản trở” về vụ máy bay rơi. Ông Obama tuyên bố là Washington sẳn sàng hỗ trợ ngay cho một cuộc điều tra quốc tế “nhanh chóng, toàn diện, đáng tin cậy và không gặp cản trở” tại miền Đông Ukraina.
Về phần phát ngôn viên Nhà Trắng, Josh Earnest nhấn mạnh tai nạn này xảy ra trong bối cảnh khủng hoảng ở Ukraina do sự yểm trợ của Nga cho phe ly khai, kể cả bằng việc trang bị vũ khí, thiết bị và huấn luyện.
Thủ tướng Canada Stephen Harper ra thông cáo, thẳng thừng lên án nước Nga đã xâm lăng quân sự và chiếm đóng trái phép Ukraina, và đây chính là mầm mống gây xung đột trong khu vực. Tại Hà Lan, quốc gia có nhiều nạn nhân nhất (154 người), báo chí hôm nay đồng loạt lên án “ một vụ sát nhân ghê tởm”.
Riêng Thủ tướng Ukraina Arseni Iatseniouk hôm nay tuyên bố những kẻ bắn rơi máy bay của Malaysia Airlines phải được đưa ra xét xử trước Tòa án Hình sự Quốc tế La Haye. Ông cáo buộc Nga đã phạm “tội ác quốc tế này”.
Trước những phản ứng mạnh mẽ nói trên, phe ly khai thân Nga hôm nay đã hứa sẽ để cho các nhà điều tra của quốc tế được tiếp cận hiện trường một cách an toàn, theo tin từ Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu OSCE.
OSCE hiện đang thảo luận với phe ly khai về việc thiết lập một "hành lang” để các nhà điều tra quốc tế có thể đến nơi máy bay rơi. Trong khi đó, thủ tướng Arseni Iatseniuok hôm nay tố cáo phe ly khai thân Nga không cho các nhà điều tra Ukraina đi vào khu vực này.
Để tạo điều kiện cho việc điều tra, Hoa Kỳ kêu gọi các bên có liên quan - Nga, phe ly khai thân Nga và Ukraina - ngưng bắn ngay lập tức. Nhưng một lãnh đạo phe ly khai đã tuyên bố không chấp nhận ngưng bắn.
Các thị trường chứng khoán Châu Âu và Hoa Kỳ hôm qua đã đồng loạt sụt điểm sau khi nghe tin về tai nạn máy bay Malaysia Airlines. Các nhà đầu tư sợ rằng căng thẳng leo thang ở Ukraina sẽ gây tác hại đến việc kinh doanh của họ và đến kinh tế toàn cầu. Hôm nay, đến lượt các thị trường chứng khoán Châu Á sụt điểm mạnh. Đặc biệt tại thị trường chứng khoán Kuala Lumpur, giá cổ phiếu của Malaysia Airlines sụt gần 20%. Đây là máy bay thứ hai của hãng này gặp nạn, sau vụ chiếc phi cơ của chuyến bay MH370 mất tích một cách bí ẩn ngày 08/03/2014 trên đường bay đến Bắc Kinh.

Máy bay Malaysia trúng tên lửa ở Ukraina, toàn bộ 298 người chết

Nơi máy bay của Malaysia Airlines bị bắn rơi ngày 17/07/2014 ở miền Đông Ukraina.
Nơi máy bay của Malaysia Airlines bị bắn rơi ngày 17/07/2014 ở miền Đông Ukraina.
REUTERS

Một máy bay của hãng hàng không Malaysia Airlines, bay từ Amsterdam đến Kuala Lumpur, đã bị trúng một tên lửa và rơi xuống miền Đông Ukraina ngày 17/07/2014, tại một vùng do phe ly khai thân Nga kiểm soát, khiến toàn bộ 298 người thiệt mạng, trong đó hơn phân nửa là hành khách Hà Lan.

Theo lời một quan chức Hoa Kỳ, xin được miễn nêu tên, các chuyên gia của cơ quan tình báo Mỹ cho rằng chiếc Boeing 777 đã bị trúng một tên lửa địa đối không, nhưng họ đang nghiên cứu các dữ liệu để xác định xem tên lửa này có phải là do phiến quân thân Nga bắn lên hay không.
Ngay sau vụ rơi máy bay, chính quyền Kiev và phiến quân thân Nga tố cáo lẫn nhau đã gây ra tai nạn này, nhưng hiện giờ chưa có yếu tố nào giúp xác định trách nhiệm của ai.
Tuy nhiên, các thông tin, mà một số sau đó được nhanh chóng gỡ đi, trên các trang mạng của phiến quân thân Nga, cũng như các cuộc đàm thoại do cơ quan tình báo Ukraina ghi được cho thấy rất có thể là phiến quân đã bắn nhầm, vì tưởng máy bay của Malaysia Airlines là một phi cơ quân sự của Ukraina.
Có một chi tiết rất đáng ghi nhận: một tư lệnh của phiến quân thân Nga hôm qua 17/07/2014 đã viết trên trang Facebook của ông rằng họ vừa bắn rơi một phi cơ vận tải quân sự Ukraina vào đúng thời điểm và ở đúng địa điểm máy bay của Malaysia Airlines bị bắn rơi.
Ngoài ra, Igor Strelkov, người tự phong là “ bộ trưởng Quốc phòng” của cái gọi là “ Cộng hòa nhân dân Donetsk”, hôm qua đã phổ biến trên Internet một đoạn video chiếu cảnh một cột khói đen bốc lên từ nơi máy bay rơi và đoạn video này rất giống với những hình ảnh nơi máy bay của Malaysia Airlines được chiếu trên YouTube.
Tên lửa địa đối không có tầm bắn xa đến 42 km và có thể được bắn lên đến độ cao 25km. Trước khi xảy ra tai nạn, một phát ngôn viên quân sự Ukraina đã khẳng định là các tên lửa như vậy đã được giao cho phiến quân thân Nga.
Nếu thật sự giả thuyết này là đúng, phiến quân thân Nga và đồng minh của họ là tổng thống Vladimir Putin sẽ bị cả thế giới lên án. Thế nhưng đối với tổng thống Nga, chính Ukraina phải chịu toàn bộ trách nhiệm về tai nạn hôm qua.
Sáng nay, đội cứu hộ loan báo đã tìm thấy hộp đen của máy bay, nhưng hiện chưa biết đây là hộp đen ghi các cuộc trao đổi của phi hành đoàn, hay hộp đen ghi các thông số kỹ thuật của chuyến bay. Nhưng dù là hộp đen nào thì cũng sẽ rất khó mà từ đó xác định được phe nào đã bắn tên lửa trúng máy bay.
Theo trạm không lưu Ukraina, phi hành đoàn chiếc Boeing 777 đã không hề báo có vấn đề gì khi họ bay ngang qua không phận Ukraina.
Tại hiện trường, các phóng viên hãng tin AFP đến tận nơi tối qua đã nhìn thấy nhiều thi thể nằm vương vãi chung quanh nơi máy bay rơi. Những mảnh máy bay, trong đó có phần đuôi với logo của hãng Malaysia Airlines, đã văng xa trên một vùng rất rộng ở làng Grabove, trong vùng Donetsk.
Trong số 298 người trên máy bay bị rơi, hiện nay có thể thống kê: 154 người Hà Lan, 27 người Úc, 23 người Malaysia, 11 người Indonesia, 3 người Anh, 4 người Đức, 4 người Bỉ, 3 người Philippines, và 1 người Canada.
Nhiều hành khách trên máy bay bị bắn rơi là những người đi dự hội nghị quốc tế về SIDA, sẽ khai mại ngày 20/07 tại Melbourne, Úc. Trong số này, có nhà nghiên cứu người Hà Lan, Joep Lange, nổi tiếng thế giới về hoạt động phòng chống SIDA. 
Đặc phái viên RFI Damien Simonart có mặt tại hiện trường cho biết đến sáng nay, khu vực chung quanh xác máy bay vẫn chưa được phong tỏa. Phóng viên hay bất kỳ ai cũng có thể đến gần và thậm chí là mang đi các mảnh vỡ của chiếc Boeing 777:
 « Vào lúc này tôi đang đạp lên trên các mảnh vỡ của máy bay. Xác máy bay ngay trước mặt. Ở phía bên phải là một động cơ hoàn toàn cháy rụi. Ở bên trái, tôi trông thấy một phần của bộ phận hạ cánh máy bay. Tôi phải hết sức thận trọng vì xác người ngổn ngang. Có mùi xăng cháy khét. Cách chỗ tôi đang đứng khoảng 100 mét có gần một chục người cầm súng thuộc phe nổi dậy thân Nga. Họ đang thảo luận với nhau, nhưng không hề để ý tôi đang làm gì chung quanh xác máy bay.
 Thực tình mà nói, nếu tôi có đánh cắp một mảnh vỡ cũng không ai biết. Tuy nhiên một cổng rào được dựng lên ở phía ngoài, không phải ai cũng vào được gần khu vực này. Chỉ có nhà báo mới được vào tận nơi và phải có giấy phép của các nhà chức trách thuộc nước tự phong là Cộng hòa Donetsk.
 Dân cư chung quanh không ai tò mò muốn đến gần chỗ máy bay bị nạn. Đó cũng là điều kỳ lạ. Các toán cứu hộ bắt đầu công việc trên một diện tích rộng vài hecta và họ đánh dấu mỗi khi phát hiện một mảnh vỡ của máy bay hay vết tích các nạn nhân. Có rất nhiều dấu vết như vậy đã được tìm thấy trên mảnh ruộng, chỗ máy bay Malaysia bị bắn hạ ». 

Loại tên lửa nào đã bắn hạ máy bay Malaysia ?

Giàn phóng tên lửa địa đối không BUK.
Giàn phóng tên lửa địa đối không BUK.
@wikimedia

Tin chiếc Boeing 777 của Malaysia Airlines bị trúng tên lửa đã được xác nhận. Hai câu hỏi được đặt ra : loại tên lửa nào có thể bắn trúng mục tiêu ở độ cao 10.000 mét và tên lửa cướp đi sinh mạng của gần 300 con người ngày hôm qua được bắn đi từ đâu ?
 

Trước mắt chưa thể trả lời câu hỏi thứ nhì. Còn về câu hỏi thứ nhất, hiện tại các nhà quan sát phương Tây đều chú trọng vào hệ thống tên lửa BUK do Nga và Liên Xô cũ phát triển. BUK là hệ thống bắn tên lửa địa đối không tầm trung. Theo các chuyên gia quân sự, phe nổi dậy không đủ khả năng để sử dụng hệ thống này nếu không có sự hỗ trợ của các chuyên viên biết rất tận tường hệ tên lửa phòng không BUK. Sử dụng hệ thống này không đơn giản, vì giàn phóng của hệ BUK bao gồm một xe chỉ huy, 1 trạm trinh sát/bắt bám và điều khiển, 6 xe phóng mỗi xe mang 4 quả tên lửa và 4 quả dự trữ, 3 xe tiếp đạn.
Mỗi vụ phóng tên lửa như vậy cần huy động nhiều chuyên gia. Do vậy theo giới quân sự, rất khó có thể tin rằng tên lửa bắn hạ chiếc máy bay của hãng Malaysia Airlines do phe nổi dậy ở miền Đông Ukraina tiến hành mà không có sự cố vấn của các quân sư giàu kinh nghiệm.
Theo lời ông Pierre Servent một nhà tư vấn về quốc phòng của Pháp, cả quân đội Ukraina không có trong tay loại tên lửa địa đối không có tầm bắn ở độ cao hơn 10.000 mét. Phía quân nổi dậy ở miền đông nước này cũng vậy, nếu không có sự trợ giúp của Nga. Bởi vì theo lời ông Servent, trên nguyên tắc chỉ có Nga mới có tên lửa với tầm bắn lên tới độ cao 45.000 mét.

Ukraina, vùng không phận nguy hiểm

Mảnh vỡ của chiếc máy bay MH 17 thuộc hãng Malaysia Airlines sau khi bị trúng tên lửa trên không phận Ukraina.
Mảnh vỡ của chiếc máy bay MH 17 thuộc hãng Malaysia Airlines sau khi bị trúng tên lửa trên không phận Ukraina.
REUTERS/Maxim Zmeyev

Vì vấn đề an toàn, nhiều hãng hàng không Châu Á đã tránh bay qua không phận Ukraina. Cơ quan kiểm soát cơ quan không lưu Châu Âu, Eurocontrol, cấm các hành trình bay qua miền Đông Ukraina. Kiev đóng cửa không phận sau vụ máy bay Malaysia trúng tên lửa.

Chỉ vài giờ sau khi hay tin chiếc máy bay của hãng Malaysia Airlines bị bán trúng tên lửa, nhiều tập đoàn hàng không Châu Á đã tìm cách trấn an khách hàng. Hai hãng hàng không lớn nhất của Hàn Quốc là Korean Air và Asiana, hãng Qantas của Úc, tập đoàn China Airlines của Đài Loan lập tức thông báo, từ sau khi Nga sáp nhập vùng Crimée của Ukraina, hồi đầu tháng 3/2014, các tập đoàn này đã chuyển hành trình, tránh bay ngang qua lãnh thổ Ukraina.
Korean Air nói với AFP, những bất ổn chính trị trong vùng, khiến hãng hàng không Hàn Quốc dời hành lang bay 250 cây số về phía nam Ukraina kể từ ngày 03/03/2014. Tập đoàn Qantas của Úc cũng đưa ra thông tin tương tự. Cụ thể là chuyến bay nối liền thủ đô Luân Đôn với Dubai đã được dời hẳn lên phía bắc Ukraina. Quyết định thay đổi hành lang bay của hãng hàng không Đài Loan, China Airlines đã có hiệu lực từ hồi đầu tháng 4/2014.
Singapore Airlines, và Cathay Pacific của Hồng Kông cũng cho biết không còn sử dụng hành lang bay ngang qua miền Đông Ukraina.
Riêng các hãng hàng không Thai Airways, hay của Vietnam Airlines và hai hãng Trung Quốc Chine Eastern và Air China thì chỉ mới dời hành hang bay khỏi khu vực nguy hiểm từ sau vụ máy bay Malaysia bị trúng tên lửa hôm qua.
Về phần hai hãng hàng không Nhật Bản là Japan Airlines và All Nippon Airways thì cho biết không sử dụng tuyến đường bay qua Ukraina. Đây cũng là sự chọn lựa từ đầu của hãng hàng không Indonesia Garuda.
Việc thay đổi đường bay trên các tuyến Á-Âu đương nhiên đã gây thêm tốn kém cho các tập đoàn hàng không dân dụng. Lộ trình thường dài hơn so với trước.
Về câu hỏi tại sao hãng hàng không Malaysia Airlines lại không tránh né hàng lang bay nguy hiểm này, thủ tướng Malaysia Najib Razak nhắc lại là cho tới ngày hôm qua (17/07/2014) Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế vẫn xem đó là một hành trình « an toàn ».
Về phía Châu Âu, hãng Air France – KLM của Pháp cho biết đã không bay qua miền Đông Ukraina từ đầu tháng 4/2014. Hôm nay, Air France và Lufthansa của Đức, Delta của Mỹ cho biết vừa quyết định không bay qua toàn lãnh thổ Ukraina.

Rớt máy bay lần hai : Malaysia họa vô đơn chí

Đây là lần thứ hai trong năm (2014) máy bay của hãng hàng không Malaysia Airlines gặp tai nạn.
Đây là lần thứ hai trong năm (2014) máy bay của hãng hàng không Malaysia Airlines gặp tai nạn.
REUTERS/Olivia Harris

Vụ chiếc máy bay MH17 chở theo 298 người bị rơi hôm qua 17/07/2014 đã làm sững sờ một đất nước Malaysia, cách đây bốn tháng đã phải gánh chịu một tai nạn hàng không khác - khi chuyến bay MH370 của Malaysia Airlines mất tích một cách hoàn toàn bí mật.

Lần thứ hai trong năm, các nhật báo Malaysia dành trang nhất cho thảm họa hàng không gây tang tóc cho đất nước. G.Subramaniam, có con trai đi trên chuyến bay MH370 bị biến mất không để lại dấu vết hôm 8/3 đau buồn nói : « Tại sao không thể nào sống yên tĩnh được trên đất nước chúng ta ? Hết thảm kịch này lại đến ngay thảm kịch khác ».
Trên chiếc Boeing 777 bị rơi tại miền đông Ukraina hôm qua, có 298 người trong số đó phân nửa là người Hà Lan, và 43 người Malaysia trong đó có 15 thành viên phi hành đoàn.
Các chuyên gia tình báo Mỹ nói rằng chiếc máy bay bị một hỏa tiễn bắn trúng. Thủ phạm là phe nào trong vùng đất đang xảy ra xung đột giữa quân nổi dậy thân Nga và quân đội Ukraina, thì còn phải xác định. Nhưng cho dù kẻ đã bắn ra chiếc tên lửa định mệnh thuộc phe nào đi nữa, cuộc khủng hoảng này đã khơi dậy những vết thương của thảm họa MH370 lên tâm tưởng người Malaysia.
Nữ vô địch cầu lông nổi tiếng Lee Chong Wei viết : « Tôi vừa mới nghe cái tin khủng khiếp ấy. Tôi không nghĩ rằng chúng ta sẵn sàng chấp nhận một sự kiện như thế, chỉ ít lâu sau thảm kịch MH370 ».
Sự mất tích của chuyến bay MH370 bay từ Kualar Lumpur tới Bắc Kinh cùng với 239 người đã gây ra một trận bão chỉ trích chính quyền cũng như công ty Malaysia Airlines, bị cho là vô tổ chức và nghiệp dư. Chiếc máy bay đã đổi hướng không rõ lý do một tiếng đồng hồ sau khi cất cánh, có thể đã bị rớt xuống phía nam Ấn Độ Dương, theo các dấu hiệu vệ tinh nhận được. Nhưng không có mảnh vỡ nào được tìm thấy, cho dù đã huy động nhân vật lực hết sức quy mô để tìm kiếm.
Hai thảm họa liên tiếp đã khiến người Malaysia hoang mang về đất nước đa văn hóa, được cho là thành trì ổn định trong một khu vực đầy xáo động. Ibrahim Suffian, lãnh đạo viện thăm dò chính yếu của nước này nhận định như trên. Ông nói : « Người Malaysia luôn thoát được các thảm họa. Bão tố, động đất, chiến tranh, không phải dành cho chúng ta mà là Indonesia, Miến Điện hay Philippines phải chịu đựng. Nhưng nay thì cảm giác an toàn đã không còn nữa ».
Nhiều câu hỏi gây bối rối cho chính quyền Malaysia đã được đặt ra. Nhất là vì sao công ty hàng không quốc gia tiếp tục cho bay qua vùng chiến sự, trong khi các công ty hàng không Châu Á khác đã thay đổi đường bay từ nhiều tuần qua vì lý do an ninh ?
Thủ tướng Najib Razak đã bênh vực Malaysia Airlines, cho rằng năm 2014 là « một năm bi kịch » cho đất nước. Ông nhấn mạnh, đường bay trên đã được Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế cho là « chắc chắn ». Và « Hiệp hội Hàng không Quốc tế nói rằng không phận mà chiếc MH17 bay qua không chịu một hạn chế gì cả ». 
Bay tránh các không phận thường lệ trên các đường bay nối liền châu Âu và châu Á thường khiến thời gian bay kéo dài thêm và làm tăng chi phí nhiên liệu. 
Nếu phe đối lập kêu gọi người dân Malaysia đoàn kết đứng sau Thủ tướng trong thời kỳ khủng hoảng bản sắc này, một số khác nghĩ rằng thảm họa vừa rồi sẽ làm ảnh hưởng lâu dài đến hình ảnh của Malaysia đối với người nước ngoài cũng như công dân trong nước.
K.S.Narendran, một công dân Ấn Độ có người vợ đi trên chuyến bay MH370 bị mất tích hồi tháng Ba dự báo : « Tình cảm tự hào và thoải mái của người Malaysia đã bị rơi rụng ít nhiều bởi cách thức mà chính phủ và công ty hàng không điều hành trong tai nạn MH370, nên sẽ rất khó vượt qua vụ mới này. Họ sẽ cảm thấy bị kết tội, phải chịu trách nhiệm một cách bất công ».
----------
Loading...