"Mả Đáo Thành Công, Kỳ Khai Đắc Thắng"

Giáp Ngọ, ngựa hí rền vang
Toàn dân vùng dậy ngút ngàn uy linh
Tiến về dẩm nát Ba đình
Lăng tên đồ tể máu tanh gióng giòng.
Cờ vàng bay rợp non sông
Khải hoàn ca khúc khai dòng tự do
Đồng hương bốn bể hẹn hò
Ngày về cố quốc dưới cờ vinh quang@

Trúc Giang






Vùng lên giẫm nát loài cường khấu Đứng dậy đập tan lũ bạo quyền

'"STOP EXPANDING TRADE WITH VIETNAMESE STATE-OWNED COMPANIES AT THE EXPENSE OF HUMAN RIGHTS"

CỘNG SẢN CÒN THỐNG TRỊ QUÊ HƯƠNG, TA CÒN PHẢI ĐẤU TRANH

" The Vietnamese communist regime must stop the sex trafficking of women and children under the disguise of government plans of "Exporting Overseas Labour". "

Dân tộc còn ngồi yên, CS còn đè đầu cởi cổ. Khi nào dân tộc đứng lên ắt ngày đó CS phải sụp đổ.

"The Vietnamese communist regime must stop the religious oppression and persecution of the Hoa Hao, Cao Dai, Christian, Catholic and Buddhist faiths immediately."

VGCS chỉ thay đổi hình thức để bịp thế giới văn minh, nhưng bản chất tội ác của bạo quyền không hề thay đổi .

"The Vietnamese communist regime must release all prisoners of conscience as well as all political prisoners immediately."

NGƯỜI SỐNG VÌ LÝ TƯỞNG TỰ DO, DÂN CHỦ ,HẠNH PHÚC CỦA TỘC VIỆT

"STOP EXPANDING TRADE WITH VIETNAMESE STATE-OWNED COMPANIES AT THE EXPENSE OF HUMAN RIGHTS"

Ngày nào cộng sản còn nắm quyền cai trị đất nước, thì ngày ấy người Dân Việt còn thống khổ lầm than

"The Vietnamese communist regime must stop all forms of oppression and cease taking land from its people and trading it to foreign nations for its own financial gain."



1
Tưởng Niệm Quốc Hận 20 tháng 7 năm 1954!

Saturday, 26 July 2014

Chuyện 60 năm vẫn còn xạo! : Đảng cử dân bầu

Chuyện 60 năm vẫn còn xạo!



Ngày 20.7.2014, để ghi nhớ 60 năm ngày ký Hiệp Định Genève 1954, báo chí trong và ngoài nước đã viết khá nhiều về biến cố này. Nhưng mặc dầu các tài liệu bí mật đã được công bố gần hết rồi, phịa sử vẫn còn được tiếp tục xử dụng!
Tôi nhớ có lần tôi nói chuyện trên đài truyền hình Little Saigon TV 57.7 với một tiến sĩ ở Úc sang. Chúng tôi nói về việc tranh chấp chủ quyền đối với các đảo trên Biển Đông, về Hiệp Định Genève 1954, vế công hàm 1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng… Bổng ông ta nói đến cuộc bầu cử thống nhất đất nước được ấn định trong Hiệp Định Genève vào tháng 7 năm 1956, nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm không thi hành… Tôi rất ngạc nhiên và lưu ý ông rằng trong Hiệp Định Genève 1954 không có điều khoản nào quy định ngày bầu cử thống nhất đất nước như vậy, nhưng ông vẫn trương gân cổ ra cãi!
Có những người không biết chính xác về lịch sử vì không đọc tài liệu, cứ nói theo cảm tính hay theo tin đồn, nhưng cũng có người lợi dụng sự thiếu hiểu biết của đa số, dùng phịa sử để đánh lừa dư luận. Hai nhóm tiêu biểu nhất là Đảng CSVN và Phật Giáo Ấn Quang.
Chúng tôi đã viết nhiều bài về Hiệp Định Genève năm 1954 và cuộc di cư vĩ đại lúc đó. Hôm nay chúng tôi chỉ xin nhắc lại hai điểm căn bản thường bị giải thích sai lạc:
(1) Hai bên Việt Nam lâm chiến là quốc gia và cộng sản, không bên nào có quyền gì về những quy định chính trong Hiệp Định Genève 1954. Những quy định này đều do Pháp và Trung Quốc quyết định.
(2) Trong Hiệp Định Genève 1954 không có điều khoản nào quy định rằng một cuộc bầu cử thống nhất đất nước sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956.
Phải làm sáng tỏ hai điểm chính này để phá tan những trò xuyên tạc lịch sử của những tên bất chánh.
PHÁP VÀ TRUNG CỘNG NẮM QUYỀN QUYẾT ĐỊNH
Hiệp định Genève vừa được ký ngày 21.7.1954 thì ngày 22.7.1954 Hồ Chí Minh đưa ra “Lời kêu gọi sau khi hội nghị Genevơ thành công”, trong đó tuyên bố rằng “Ngoại giao ta đã thắng lợi to lớn”!
Nhưng năm 1979, sau khi bị Trung Quốc “dạy cho Việt Nam một bài học”, Đảng CSVN đã cho xuất bản cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua” do Nhà xuất bản Sự Thật phát hành ngày 4.10.1979, tố cáo Trung Quốc đã phản bội Việt Nam. Dưới đầu đề “HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ NĂM 1954 VỀ ĐÔNG DƯƠNG VÀ SỰ PHẢN BỘI CỦA NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO TRUNG QUỐC”, cuốn Bạch Thư đã cho biết như sau:
Trung Quốc là nước cung cấp nhiều vũ khí nhất cho Việt Nam vào cuối cuộc kháng chiến của nhân dân Việt nam chống thực dân Pháp. Những người lãnh đạo Trung Quốc đã lợi dụng tình hình đó để đứng ra làm người thương lượng chủ yếu đối với đế quốc Pháp, câu kết với chúng và cùng nhau thoả hiệp về một giải pháp có lợi cho Trung Quốc và Pháp, không có lợi cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia…
Họ đã hy sinh lợi ích của nhân dân ba nước ở Đông Dương để bảo đảm an ninh cho Trung Quốc ở phía nam, để thực hiện mưu đồ nắm Việt Nam và Đông Dương, đồng thời để có vai trò là một nước lớn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, trước hết là ở châu Á…

Lợi dụng vị trí là một nước viện trợ quân sự chủ yếu và nắm con đường vận chuyển duy nhất chi viện cho Việt Nam, đồng thời lợi dụng việc Pháp không muốn nói chuyện trên thế yếu với Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc đã tự cho phép mình đàm phán trực tiếp với Pháp để thoả thuận về những điểm cơ bản của một giải pháp về vấn đề Đông Dương…”
Rõ ràng Việt Minh công nhận rằng Hiệp Định Genève được ký kết vì quyền lợi của Pháp và Trung Quốc chứ không phải vì quyền lợi của Việt Nam. Câu chuyện đã diễn ra đại khái như sau:
Lúc đó Việt Nam có hai phái đoàn: Phái đoàn Việt Minh do Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Ngoại Giao cầm đầu. Phái đoàn chính phủ Quốc Trưởng Bảo Đại lúc đầu do ông Nguyễn Quốc Định, Tổng̣ trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Bảo Lộc. Từ 7.7.1954 do Bác sĩ Trần Văn Đỗ, Bộ trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Ngô Đình Diệm.
Ngày 14.6.1954, chính phủ Joseph Laniel của Pháp sụp đổ. Mendès France lên thay. Mendès France tuyên bố trước Quốc Hội Pháp rằng trong vòng một tháng ông phải thực hiện được cuộc ngưng bắn. Nếu đến ngày 20.7.1954 ông không thực hiện được điều đó, ông sẽ từ chức.

Ngày 24.6.1954, Thủ Tướng Mendès France họp với Tướng Ély, Guy la Chambre, Chauvel và Parodi, sau đó ra chỉ thị cho phái đoàn Pháp ở Genève đề nghị chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 18, (ngang sông Gianh, phía bắc Quảng Bình).
Trước đề nghị của Pháp, ngày 28.6.1954, Tạ Quang Bửu, đại diện phái đoàn Việt Minh, đòi chia ở vĩ tuyến 13 (ngang sông Đà Rằng, ở phía nam Tuy Hòa).
Trong hai ngày 11 và 12.7.1954, Thủ Tướng Mendès France họp mật liên tục với Molotov, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng về những điểm căn bản cần được thỏa thuận. Ngày 12.7.1954, Chu Ân Lai và Mendès France đã thỏa thuận lấy vĩ tuyến 17 (ngang sông Bến Hải, phía bắc Quảng Trị) để chia đôi Việt Nam. Phạm Văn Đồng đồng ý chia đôi Việt Nam, nhưng đòi chia ở vĩ tuyến 16.
Ngày 20.7.1954 họp tại biệt thự Le Bocage, tư dinh của Molocov tại Genève, có Mendès France, Eden, Châu Ân Lai, Molotov và Phạn Văn Đồng.
Về vĩ tuyến được chọn: Chu Ân Lai và Mendès France tuyên bố chọn vĩ tuyến 17. Molotov cũng đồng ý như vậy. Cuối cùng, Phạm Văn Đồng cũng phải đồng ý.
Về giải pháp chính trị: Phạm Văn Đồng đòi tuyển cử trong vòng 6 tháng, còn Molotov nói 2 năm sau. Trong khi đó, Pháp và Trung Quốc đòi trung lập hóa Đông Dương. Buổi trưa, Pháp và Trung Quốc rút lại đề nghị đòi trung lập hóa Đông Dương. Nga và Việt Minh cũng đồng ý bỏ thời hạn tuyển cử ra ngoài Hiệp Định.
Sáng 21.7.1954, Hiệp Định đã được Ngoại Trưởng William Price Rogers của Pháp và Ngoại Trưởng Nguyễn Duy Trinh của Việt Minh ký, nhưng lại đề ngày 20.7.1954 cho phù hợp với thời hạn chót mà Thủ Tướng Mendès France đã ấn định.
Tại Sài Gòn, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên tiếng phản đối việc đặt một nửa phần đất nước dưới chế độ cộng sản và ra lệnh treo cờ rủ trên toàn quốc, vi thế phái đoàn Sài Gòn không ký tên vào Hiệp Định.
HIỆP ĐỊNH KHÔNG ẤN ĐỊNH NGÀY BẦU CỬ
Cuộc họp ngày 21.7.1954 cũng đã bàn về giải pháp chính trị, nhưng phái đoàn của chính phủ Ngô Đình Diệm không tham gia vì không công nhận Hiệp Định Genève. Trước khi bế mạc cuộc họp, ông Anthony Eden, Bộ trưởng Ngoại Giao Anh Quốc, đồng chủ tịch Hội Nghị Genève với ông Vyacheslav Molotov, Bộ trưởng Ngoại Giao của Liên Sô, đã đọc Lời Tuyên Bố Cuối Cùng (Final declaration) của hội nghị, nhưng rồi không ai ký tên vì có sự phản đối của Hoa Kỳ và chính phủ Sài Gòn. Lời tuyên bố này gồm 13 điều, trong đó điều 7 có quy định như sau (theo chính bản):
Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị, thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín.  Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7 năm 1956 dưới sự kiểm soát của một ban quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự.  Kể từ ngày 20 tháng 7 năm 1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.”

Trong bài “Hiệp Định Genève 1954: bài học gì cho Bộ Chính Trị ĐCSVN ngày nay?” đăng trên RFI ngày 21.7.2014, Luật sư Lưu Tường Quang ở Úc có nhận xét như sau:
“Lời Tuyên Bố Sau Cùng là một văn kiện chính trị, bày tỏ ý muốn của phe cộng sản (Liên Xô, Trung Quốc và VNDCCH) và được Anh và Pháp đồng ý, nhưng ước muốn tự nó không thể có hiệu lực cưỡng hành như một hiệp ước. Phe cộng sản và một số tác giả phương Tây bằng vào các lời cam kết tôn trọng Hiệp Định Genève mà kết luận rằng Lời Tuyên Bố Sau Cùng là một phần của Hiệp Định và có tính cách ràng buộc. VNCH, thể chế chính trị kế thừa QGVN, không đồng ý với quan điểm nầy.”
Nói rõ hơn, một lời tuyên bố không được toàn thể đồng ý và ký tên, không thể có giá trị pháp lý. Mọi chuyện rõ ràng như vậy, không hiểu một số “học giả”, “sử gia” hay “tiến sĩ” đã dựa vào đâu để quả quyết Hiệp Định Genève quy định tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956?
ĐI VỚI VIỆT CỘNG ĐƯỢC HÍT CÁI GÌ?
Riêng nhóm tăng sĩ trong Phật Giáo Ấn Quang, con đẻ của hai cán bộ cao cấp của Đảng CSVN là Thích Trí Độ và Cư Sĩ Lê Đình Thám trong tổ chức An Nam Phật Học ở Huế, cứ thấy Việt Cộng nhổ ra là liếm lại.
Sau khi Hiệp Đình Genève được ký kết, ở Sài Gòn Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thành lập Phong Trào Hòa Bình để yểm trợ cho Việt Minh, đòi quân đội Pháp rút khỏi miền Nam và tổ chức tổng tuyển cử. Tại Huế, Thích Trí Quang, đệ tử của hai cán bộ cộng sản là Thích Trí Độ và Lê Đình Thám, đứng ra phát động phong trào nầy ở Huế với sự tham dự của một số trí thức Phật Giáo thời đó ở Huế như Bác sĩ Lê Khắc Quyến, Bác sĩ Thú Y Phạm Văn Huyến, Dược Sĩ Nguyễn Cao Thăng, ông Nguyễn Văn Đảng, Giáo Sư Tôn Thất Dương Kỵ, v.v. Trước tình thế này, ngày 7.11.1954 chính phủ Ngô Đình Diệm đã ra lệnh bắt tất cả những người liên hệ đến Phong Trào Hòa Bình thân cộng. Ông Ngô Đình Cẩn thấy Thích Trí Quang là người đồng hương nên quyết định chiêu hồi cả nhóm này. Trước cái thế chẳng đặng đừng Thích Trí Quang và cả nhóm đã chấp nhận hợp tác và ông Cẩn đã dùng nhóm này để nắm chính quyền và Phật Giáo ở Huế.
Trước phong trào đòi tổng tuyển cử của Việt Cộng và tay sai, năm 1960 chính phủ Ngô Đình Diệm cũng đã cho phổ biến một tập tài liệu có tên là “The Unification of Vietnam” in lại 12 bản tuyên bố của chính phủ được công bố từ 1954 đến 1960 liên quan đến Hiệp Định Genève 1954, giải thích rằng không thể có bầu cử tự do dưới chế độ cộng sản, nên không thể tổ chức tổng tuyển cử, đồng thời xác định lập trường của chính phủ về thống nhất đất nước (xem Viet-Nam Bulletin số 16/1960).
Ra hải ngoại, nhóm Giao Điểm Phật Giáo và vệ tinh của nhóm này cứ nhai đi nhai lại các luận điệu cũ của Việt Cộng, lên án chính phủ Ngô Đình Diệm không thi hành Hiệp Định Genève, tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước vì sợ thua Cộng Sản, do đó Cộng Sản phải đánh chiếm miền Nam. Một thí dụ cụ thể là trong bài “Các cuộc chiến thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam” đăng trên Sách Hiếm, Nguyễn Mạnh Quang cho rằng “nếu có tổng tuyển cử đúng như Hiệp Định Genève 1954 đã quy định, ông Ngô Đình Diệm và chính quyền miền Nam chắc chắn là sẽ bị thảm bại trước hào quang kháng chiến chống xâm lăng với chiến thắng Điện Biên Phủ của ông Hồ Chí Minh và chính quyền miền Bắc...”
Điều khoản nào của Hiệp Định Genève quy định tổ chức tổng tuyển cử? Nếu tổ chức tổng tuyển cử lúc đó, Hồ Chí Minh có thể thắng với 99.9% tổng số phiếu và nếu muốn có thể thắng với 120%, nhưng không phải vì “hào quang kháng chiến” mà vì tổ chức bầu cử gian lận. Đã 60 năm rồi mà hiện nay Đảng CSVN vẫn còn áp dụng chủ trương “Đảng cử dân bầu” và bầu cử gian lận. Lúc đó làm sao có tự do bầu cử được?
Giáo Hội Ấn Quang vì đi theo Cộng Sản và có tham vọng thành lập một chính phủ Phật Giáo do giáo quyền lãnh đạo, xử dụng lòng hận thù Thiên Chúa Giáo và vọng ngữ như động lực đấu tranh, đưa tới những biến loạn liên tục nên đã bị Mỹ, Cộng Sản và luật nhân quả của Phật giáo nghiền nát ra từng mãnh.
Ngày 24.7.2014
Lữ Giang

Hồi Giáo và biến động lịch sử




Trong khi đa số người Việt đấu tranh đang tập trung mọi nỗ lực vào việc chống Trung Quốc xâm lược, coi đó là mục tiêu tối hậu và mong rằng chính sách “xoay trục” của Hoa Kỳ sẽ giúp đẩy lui cuộc xâm lăng này, thì Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương gần như ít quan tâm đến biến cố đó, một phần vì biến cố đó không đưa tới một mối đe dọa quan trọng nào rõ rệt đối với Hoa Kỳ, phần khác, khả năng quậy phá của Trung Quốc trong hiện tại cũng chỉ có giới hạn. Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương đang tập trung mọi nỗ lực vào việc chận đứng sự trỗi dậy của các phong trào Hồi Giáo quá khích vì nó có thể gây tai họa bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Trung Quốc được xếp vào hạng thứ yếu và đang được “bán cái” cho Nhật Bản.
Điều này cũng dễ hiểu vì kể từ sau khi giáo chủ Muhammad qua đời (632), nhiều nhà lãnh đạo Hồi Giáo đầy tham vọng đã dùng Hồi Giáo làm công cụ để tranh giành quyền lực và làm bá chủ nhiều vùng rộng lớn trên thế giới, gây thảm họa cho nhân loại và ngay cả cho Hồi Giáo. Thế lực này đã bị các quốc gia Tây phương đánh bại sau khi Thế Chiến thứ I chấm dứt, nhưng một số lãnh tụ và tín đồ Hồi Giáo quá khích lúc nào cũng nghĩ rằng họ phải phục hồi lại những thời vàng son của Hồi Giáo và sẵn sàng xử dụng bất cứ phương thức nào để đạt mục tiêu đó, bất chấp những hậu quả.
Nhìn lại lịch sử sẽ giúp chúng ta hiểu được các biến cố đẫm máu mà các nhóm Hồi Giáo quá khích đã và đang gây ra, và phương thức mà Hoa Kỳ và các quốc gia Tây Phương đang xử dụng để đối phó.
SỰ LAN RỘNG NHANH CHỐNG CỦA HỒI GIÁO
Từ khi có nhân loại đến nay, trên thế giới đã xuất hiện nhiều tôn giáo gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của nhiều người như Do Thái Giáo, Bàlamôn và Ấn Giáo, Nho Giáo, Phật Giáo, Kitô Giáo..., nhưng chưa có tôn giáo nào phát triển nhanh và gây nhiều sóng gió trên thế giới bằng Hồi Giáo.
Sau khi giáo chủ Muhammad qua đời, bốn người kế vị đã nối tiếp nhau mở rộng đế quốc Hồi Giáo và gây ra nhiều biến loạn, đó là Abu Bakr (632-634), Umar Khattab (634-644), Uthman (644-656) và Ali Talib (656-662). Sau đó là triều đại Umayyad kéo dài đến 1250.
Tiếp theo, ba đế quốc khác của Hồi Giáo đã được thiết lập và mở rộng, đó là Đế Quốc Mughul (1162-1831), Đế quốc Ottoman (1289-1924) rồi Đế quốc Safavids của giáo phái Shiite (1501-1779). Ba đế quốc này đã phát triển song hành với nhau.
Abu Bakr (632-634), người kế vị thứ nhất lên nắm quyền đã ban hành ngay hai Sắc Lệnh: (1) Cấm không ai được tự xưng là tiên tri, vì Muhammad là vị tiên tri cuối cùng được Thiên Chúa sai đến trên trần gian và (2) Cấm các tín đồ Hồi Giáo không được rời bỏ cộng đồng Hồi Giáo (Islamic confederacy). Họ gọi đạo Hồi là "đức tin của bạo lực" (a violent faith), một "tôn giáo quân phiệt" (a militaristic religion).
Trong vòng 10 năm, quân Hồi Giáo đã chiếm trọn bán đảo Arabia (gồm Saudi Arabia, Yemen, Quatar, Omar và Emerite), Iraq, Syria, Palestine, Ai Cập và phía tây Iran.
Umar Khattab (634-644) kế vị tự xưng là "Tư lệnh của các tín đồ" (Commander of the faithful), đem quân chiếm Iran (Sassanian), thánh địa Jerusalem và các nước Bắc Phi gồm Ai Cập, Algeria, Tunisa và Maroc. Nhưng khi Umar đang cầu nguyện trong đền thờ tại Medina thì bị một tù binh người Iran đâm chết.
Uthman (644-656) kế vị thực hiện những chiến công oanh liệt, đem quân chiếm Hy Lạp và nhiều nước phía đông Địa Trung Hải, rồi tiến về phía Tây chiếm Libya và đi về phía đông chiếm Armenia ở Âu Châu, tiến vào miền Caucase của Nga. Một cánh quân khác tràn xuống phía nam đánh chiếm Bắc Ấn Độ (tức Afghanistan và Pakistan ngày nay). Đến đây Hồi Giáo đã thành một đế quốc kéo dài từ Âu sang Á và Bắc Phi. Nhưng Uthman lại bị một nhóm chiến binh bất mãn giết và đưa Ali Talib (656-662) lên làm Caliph thứ tư của Hồi Giáo.
Ali Talib (656-662) vừa lên ngôi thì bị Muawiyah là người nhà của Uthman chỉ trích là đã không trừng phạt kẻ sát hại Uthman. Ali mang quân đến đánh Muawiyah nhưng hai bên đánh nhau khá lâu không phân thắng bại nên phải ngưng chiến. Năm 662 Ali và con trai cả của ông là Hassan cũng đã bị ám sát.
Muawiyah (661-680) và triều đại Umayyad. Muawiyah là anh rễ của Muhammad lên cầm quyền tuyên bố mình là Caliph đầu tiên của triều đại Umayyad (661-750). Ông dời thủ đô từ Mecca đến Damascus của Syria, mở đầu cho một triều đại Hồi Giáo kéo dài tới 6 thế kỷ, đó là Triều Đại Umayyad (Umayyad Dynasty) gồm những vị vua cai trị các nước Hồi Giáo dưới danh xưng là Caliph (661-1250).
Ông chủ trương cai trị dân bằng giai cấp quân sự (military aristocracy), đó là giai cấp thống trị (a ruling class). Ông chết vì bệnh năm 680, cai trị được 19 năm.
THẢM HỌA TỪ THẾ KỶ 13 ĐẾN THẾ KỶ 20
Khi triều đại Umayyad sắp chấm dứt, ba đế quốc Hồi Giáo khác đã nổi lên chia nhau thống trị thế giới.
1.- Đế Quốc Mughul: Mughul là tiếng để gọi người Mông Cổ (Mongol). Đế quốc này do Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan 1162-1227) lãnh đạo, lần lượt đánh chiếm nhiều nước từ Á sang Âu tới tận Trung Đông và Phi Châu. Năm 1295, hoàng đế Mông Cổ Ghazan Khan theo đạo Hồi thuộc giáo phái Sunni nên từ đó về sau các hoàng đế Mông Cổ đều theo đạo Hồi. Năm 1404, Timur kéo quân ngược về phía Trung Á, tiến đánh Trung Quốc. Năm 1478 chiếm Indonesia và biến nước này thành nước Hồi Giáo. Năm 1747 chiếm Afghanistan và cai trị nước này 100 năm. Cho đến năm 1831, khi người Anh chiếm Ấn Độ, đế quốc Mughul mới chấm dứt trên lục địa Châu Á.
2.- Đế quốc Ottoman (1289-1924) phát xuất từ bộ lạc Osman ở Thổ nhĩ Kỳ năm 1280. Chỉ trong 9 năm, họ chiếm một vùng lãnh thổ rộng lớn gồm có Tây Nam Á Châu, Đông Nam Âu Châu và Đông Bắc Phi Châu. Tháng 4 năm 1453, quân Hồi Giáo Ottoman chiếm thủ đô của đế quốc Byzantine, một đế quốc Ki Tô Giáo Đông Phương, là thành phố Constantinople và xóa sổ đế quốc này. Sau đó, mở cuộc thánh chiến với giáo phái Shiite, chiếm Syria, Ai Cập, Bắc Phi và toàn bán đảo Arabia. Qua thế kỷ 16 chiếm Nam Tư và một phần Âu Châu tới thủ đô Vienne của Áo, Romania, Hungaria, Ba Lan và Tiệp Khắc. Từ đó đế quốc Ottoman trở thành cơ quan quyền lực của thế giới (world power).
3. Đế quốc Safavids (1501-1779): Đây là một nhánh của giáo phái Shiite do Esmail lãnh đạo, xuất phát từ miền tây nam biển Caspian, khởi binh chiếm luôn cả nước Azerbaizan và xưng là "Vua Hồi Giáo" (Sha hay Sultan). Ông ra lệnh cho toàn dân phải theo đạo Hồi thuộc giáo phái Shiite. Sau đó quân Safavids tấn công thành phố Anatolia của đế quốc Ottoman theo giáo phái Sunni, chiếm Iran và ra lệnh cho cả nước Iran phải theo Shiite, ai bất tuân đều bị giết. Các học sĩ (Ulamas) lãnh đạo giáo phái Sunni đều bị chém đầu. Từ đó, các vua Hồi Giáo Iran được gọi là Sha hay Sultan.
SỰ VÙNG DẬY CỦA TÂY PHƯƠNG
Đến thế kỷ 18, các nước Âu Châu trở nên hùng mạnh và bắt đầu đẩy lùi các đế quốc Hồi Giáo. Nga đánh tan quân Ottoman ở vùng Biển Đen năm 1774, chiếm lại Armenia và vùng núi Caucase. Năm 1792, Nga chiếm Georgia và Romania từ tay Ottoman. Đầu thế kỷ 19, Nga chiếm lại toàn bộ miền Trung Á gồm nhiều nước theo đạo Hồi thuộc đế quốc Mughul.
Cũng trong đầu thế kỷ 19, Hòa Lan chiếm Indonesia và Mã Lai. Anh chiếm Ấn Độ bao gồm cả một tiểu lục địa (sau 1947, Ấn Độ bị chia thành nhiều nước: Pakistan, Bangladesh, Tích Lan và Ấn Độ).
Cuối thế kỷ 19, Anh chiếm Ai Cập và Sudan. Pháp chiếm Algeria, Tunisia và Maroc.
Đầu thế kỷ 20, Ý chiếm Lybia, Anh và Pháp chiếm Palestine, Jordan, Iraq, Syria và Liban.
Từ tháng 11/1915 đến tháng 3/1916, Anh và Pháp đã bí mật thảo luận về một kế hoạch kiểm soát Vùng Trung Đông và tiến tới đánh bại đế quốc Ottoman. Nga chỉ tham gia một phần nhỏ. Một hiệp ước đã được đại diện của Pháp là François Georges-Picot và Anh là Sir Mark Sykes ký kết ngày 16.5.1916 nên được gọi là Hiệp Ước Sykes-Picot, nhưng tên chính chức là Hiệp Ước Tiểu Á (Asia Minor Agreement). Hiệp ước này dành cho Anh kiểm soát vùng đất giữa biển Địa Trung Hải và sông Jordan (nay là nơi tranh chấp giữa Do Thái và Palestine), nước Jordan, nam Iraq và hai cửa biển Haifa và Acre để đi ra Địa Trung Hải. Pháp kiểm soát đông nam Thổ Nhỉ Kỳ, bắc Iraq, Syria và Lebanon. Nga được dành cho Istanbul, Dãi Thổ Nhĩ Kỳ và khu vực thuộc Vương Quốc Ottoman (Ottoman Armenian vilayets).
Qua nhiều cuộc vận động ráo riết của người Do Thái lưu vong, ngày 2.11.1917 Ngoại Trưởng Anh là Arthur James Balfour tuyên bố sẽ cho lập một nước Do Thái tại vùng đất nơi người Palestine đang cư ngụ. Đây là vùng ngày xưa người Do Thái cư ngụ, nhưng bị quân Hồi Giáo đánh chiếm và đuổi người Do Thái đi, đó là vùng phía tây sông Jordan. Năm 1922, chính phủ Anh đã chia vùng này ra làm 2 vùng: Vùng phía tây sông Jordan kéo ngang qua tới Địa Trung Hải được giao cho người Do Thái. Vùng phía đông sông Jordan, thành lập một quốc gia A-rập mới lấy tên là Transjordan. Đó là phần đất dành cho người Palestines, được gọi là nước Palestine-A-rập. Đây là nguyên nhân đưa tới cuộc tranh chấp không bao giờ giải quyết được giữa người Do Thái và người Palestine từ 1947 đến nay.
SỐ PHẬN CỦA HỒI GIÁO
Ngoài cuộc tranh chấp giữa người Palestine và người Do Thái, từ sau Thế Chiến II đến nay, có rất nhiều lãnh tụ tôn giáo cũng như chính trị Hồi Giáo vẫn nuôi mộng tái lập lại một đế quốc Hồi Giáo gióng như Đế Quốc Ottoman ngày xưa, chẳng hạn như Ruhollah Khomeini và Ayatollah Khomeini của Iran, Saddam Hussein của Iraq, Gamal Abdel Nasser Hussein và Hosni Mubarak của Ai-cập, Muammar Gaddafi của Libya hay Bashar al-Assad của Syria, v.v. Al-Baghdadi là một biểu tượng mới nhất. Để đối phó với những tham vọng này, Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để khống chế hay loại bỏ. Israel được coi là một công cụ hữu hiệu. Một phương thức khác là phân chia khối Hồi Giáo ra thành từng mãnh nhỏ dựa trên hai yếu tố chính là giáo phái và sắc tộc, để làm giảm thiểu sức mạnh. Libya, Iraq, Syria và Afghanistan rồi sẽ được phân chia thành nhiều khu tự trị, không còn là những quốc gia thống nhất nữa.
Có hai lực lượng của Hồi Giáo được coi là nguy hiểm nhất hiện nay, đó là tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo (HĐHG) và Al-Qaeda. Al-Quaeda chủ trương dùng bạo lực, còn HĐHG dùng diễn biến hòa bình.
Chủ nghĩa khủng bố của al-Qaeda chỉ là một hình thái phản ứng của kẻ yếu đối với kẻ mạnh khi không còn phương thức nào khác. Nhưng nó chỉ có thể tạo ra những tình trạng bất ổn chứ không thể xây dựng một thế đứng vững mạnh. Tổ chức HĐHG không đi con đường đó mà dùng phương thức Mỹ thường dùng để làm thay đổi những chính quyền không theo họ, đó là đòi thực hiện dân chủ tự do và công bằng xã hội. Các nhà quan sát nói rằng nếu có bầu cử tự do, HĐHG sẽ thắng. Nhưng việc Mỹ lật đổ Mubarak không phải là để thực hiện tự do dân chủ mà để thay thế bằng một Mubarak khác có khả năng bảo vệ quyền lợi của Mỹ hơn. Rốt cuộc, dù dùng phương thức khủng bố hay diễn biến hòa bình, các phong trào Hồi Giáo cực đoan vẫn chưa nắm được chính quyền ở bất cứ quốc gia nào.
Thời đại có thể thiết lập một đế quốc Hồi Giáo như Đế quốc Ottoman, thời đại dùng giáo quyền để xây dựng thế quyền, sẽ không bao giờ trở lại nữa. Nền văn hóa của Hồi Giáo đã quá lỗi thời, nếu không được cải tiến thì không thể vươn lên để có thể theo kịp đà tiến của nhân loại được.
Ngày 10.7.2014
Lữ Giang


Friday, 25 July 2014

Chỉ Có Việt "Hán" xem Kẻ Thù Cướp Nước Là Bạn !!!



Chưa Thấy Có Quốc Gia Nào Xem Kẻ Thù Cướp Nước 
Là Bạn Tốt Cả



Kiện China


1* Mở bài

Chưa thấy có quốc gia nào xem kẻ thù cướp nước là bạn tốt cả, chỉ có bọn tay sai bán nước mới tôn vinh kẻ thù như thế.

Người Việt Nam nổi giận và lên án bọn Tàu khựa nhưng đa số quên rằng chính kẻ thù ở ngay trước mắt, chính là những kẻ cỏng rắn về cắn gà nhà, rước voi về vầy mả tổ. Đó là những Trần Ích Tắc, những Lê Chiêu Thống của thời đại ngày nay. Cụ thể là những Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười…và các lãnh đạo tiếp nối sự nghiệp bán nước của đảng CSVN.

Vì sao nên nổi? Vì sao dân tộc VN có thảm cảnh như ngày hôm nay? Đảng đã cắt đất dâng biển và trơ trẻn nhất là luôn miệng ca tụng kẻ thù bằng những từ ngữ vô cùng tốt đẹp. Trong khi bọn giặc vào nhà giết hại ngư dân, chiếm biển đảo thì người đứng đầu “quân đội nhân dân anh hùng” lại tuyên bố là quan hệ chủ tớ vẫn tốt đẹp, việc tranh chấp thuộc về nội bộ giữa anh em trong một gia đình.

Mãi quốc cầu vinh đã bị lịch sử dân tộc nguyền rũa muôn đời. Đảng CSVN đã làm hoen ố trang sử của dân tộc.

2* Giàn khoan rút đi là do bão

Cây đinh và chiếc búa

Sau khi giàn khoan HD-981 rút đi thì có ý kiến nêu nhiều lý do khác nhau. Một trong những nguyên nhân được thấy rõ là giàn khoan tránh bão.

2.1. Cơn bão Rammasun

Rammasun tiếng Thái là “thần sấm sét”. Tên Phi là Glenda và Việt Nam gọi là cơn bão số 2. Đó là cơn bão mạnh nhất trong năm nay (2014). Sức gió được duy trì và phát triển từ 165km/g, 240km/g và 250km/g.

Rammasun đánh vào Phi Luật Tân ngày 15-7-2014, làm cho 400,000 người phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của cơn bão. Sau bão là ngập lụt, nhà trốc mái, cây ngã, tình trạng mất điện xảy ra trên bình diện rộng lớn.

Cơn bão đã đánh vào Việt Nam. Đến ngày 22-7-2014 đã có 27 người chết, 2 người mất tích, 2 người bị thương. Đã làm hư hại 7,200 căn nhà và 4,200 hecta lúa và hoa màu. Thiệt hại vật chất lên tới 4.4 triệu euro.

2.2. Giàn khoan tránh bão

Tháng 7 được coi là mùa mưa bão ở Biển Đông, với sức gió từ cấp 13, 14 đến 15, 16, tốc độ cao nhất 250km/g nên sức mạnh thật là khủng khiếp.

Giàn khoan HD-9 với trên 150 tàu bè bảo vệ, sẽ vô cùng nguy hiểm nếu đối diện với cơn bão. Vì thế phải di dời vị trí để tránh bão sớm hơn thời gian tuyên bố rút lui là ngày 15-8-2014.

2.3. Việc rút giàn khoan có ảnh hưởng gì đến nghị quyết của Thượng viện Mỹ hay không?

Trả lời câu hỏi nầy, GS Carlyle Alan Thayer cho biết “Việc Trung Quốc rút giàn khoan không có liên hệ gì đến Nghị quyết S.RES-412 ngày 10-7-2014 của Thượng Viện Hoa Kỳ cả. Trung Quốc có thể đã có quyết định di dời gian khoan vì mục đích thu thập các dữ liệu cần thiết đã thực hiện xong. Họ không có gì để mất sau khi kết thúc cuộc thăm dò. Điều chắc chắn là họ di dời giàn khoan và hàng trăm tàu thuyền bảo vệ là để tránh bão”.

Việc tránh bão cũng rất phức tạp vì không có thể xác định được hướng di chuyển của cơn bão. Nó thay đổi không theo một quy luật nào cả.

blank
Từ giàn khoan tới cướp nước.

3* Việt Cộng lên gân sau khi giàn khoan Trung Cộng rút đi
Chủ trương bám biển của đảng

Sau khi Trung Cộng rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam thì mấy cha nội Việt Cộng gáy to, nổ lớn hơn pháo Gò Vấp theo cái luận điệu tuyên truyền cũ mèm như trước kia.

- Ông Lê Quế Lâm, cựu chuẩn đô đốc lớn tiếng cho rằng: “Sự đấu tranh kiên cường quyết liệt của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo kiên cường của Đảng và nhà nước ta”. Ông Lâm còn ví von: “Việc Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép khiến cho trời không dung, đất không tha”.

- Ông Lê Mã Lương, cựu tướng một sao: “Đây là sự thành công về cuộc chiến về pháp lý và ngoại giao của Nhà nước và nhân dân ta”.

- Ông Lê Hà, Cục Phó Kiểm ngư: “Trung Quốc di chuyển giàn khoan vì sức ép đấu tranh của lực lượng chấp pháp Việt Nam trên biển”.

Mấy tay tổ nầy nổ lớn hơn pháo Gò Vấp mà không biết mắc cở miệng.

Trích: “Trận thư hùng oanh liệt giữa tàu Việt Nam và tàu lạ diễn ra sáng ngày 5-5-2014 tại một điểm cách giàn khoan HD-981 3 hải lý. Đoàn tàu 29 chiếc lãnh nhiệm vụ lên đường bảo vệ chủ quyền biển của VN.

Đoàn tàu đã anh dũng, bất chấp những loạt súng bắn bổng cảnh cáo của tàu lạ, hiên ngang tiến ra phía trước với khí thế sôi sục quyết chiến, quyết thắng. Nhưng tàu lạ ỷ thế đông, to lớn, tốc độ nhanh và mạnh, đã dùng vòi rồng và súng bắn nước áp suất cao, ngăn chặn không cho tàu VN đến gần. Đồng thời tàu lạ đâm vào hông tàu chấp pháp VN, làm hư hỏng máy móc và trang thiết bị.

Vì có lịnh tuyệt đối cấm nổ súng, nên tàu VN đưa hông ra cho tàu lạ đâm vào mà không cần đâm trả. Kết cuộc có 25 tàu VN bị bể sườn và 9 chiến sĩ bị thương”.

Đó là thành tích mà các đồng nổ to như đã nêu trên.

4* Việt Cộng bị Trung Cộng chửi tơi bời

Dưới đây là một bài báo đăng trên trang www.cnweapon.com bằng tiếng Trung do ông Vũ Cao Đàm dịch.

“Sát Việt khấu vi Nam Sa chi chiến tế kỳ” có nghĩa là “Giết bọn giặc Việt Nam để làm lễ tế cờ trong trận chiến Nam Sa”.

Tục lệ của người Tàu, trước khi xuất quân đánh trận họ thường làm lễ tế cờ bằng máu thú vật hay máu của kẻ thù đang bị họ giam giữ.

Trong khi VC khom lưng cúi đầu vâng vâng, dạ dạ thốt ra những lời tâng bốc, bợ đít thì Trung Cộng chửi tơi bời tàu xà lúp chở không hết.

Trích nguyên văn bài viết có tựa đề “Sát Việt khấu vi Nam Sa chi chiến tế kỳ” như sau:

Trích.

“Quần đảo Nam Sa (Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa nhưng lại bị kẻ trộm cắp muốn chiếm đoạt, giành giật, việc nầy làm phân tán ánh hào quang của chuỗi ngọc trai. Trong số các đảo bị chiếm đoạt, Việt Nam kiêu ngạo, vong ân bội nghĩa, ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.

Nam Sa là một trong những vùng biển hiểm yếu mà Trung Quốc quyết không ngần ngại thu hồi Nam Sa.

Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán. Không chiến đấu thì không thu hồi biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không tránh khỏi.

Đánh muộn không bằng đánh sớm. Bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công. Không đánh thì thôi, đã đánh thì phải thắng nhanh.

Trên lĩnh vực kinh tế, để sống chung hòa bình cần phải thực hiện chiến lược “Dùng đất đổi lấy hòa bình”. Để được phát triển thì phải thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì phải thực hiện phương châm “Chủ quyền thuộc về tôi. Cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình chia sẻ lợi ích. Thiết lập một khu vực cùng phát triển ở giáp giới với các nước ASEAN, gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, MalaysiaBrunei.

Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam. Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa.

Lấy gương Việt Nam để răn đe các nước khác, buộc chúng phải tự mình rút lui”.(hết trích)

blank
Từ giàn khoan tới cướp nước.

5* Thêm những bằng chứng làm tay sai bán nước của Việt Cộng

5.1. Tổ chức long trọng chào mừng Quốc khánh của Trung Cộng ngày 1 tháng 10

Đại lễ 1,000 năm Thăng Long được tổ chức vào ngày quốc khánh của Trung Cộng, ngày 1 tháng 10 (1-10-1949). Đại lễ vô cùng long trọng tốn phí 300 tỷ đồng kéo dài 10 ngày. Nội dung là việc vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La rồi đổi tên Đại La thành Thăng Long.

5.2. Lý Công Uẩn là người Tàu

Đảng CSVN muốn cho quan thầy Tàu khựa tin tưởng rằng người Việt Nam là một sắc tộc thuộc đại gia đình của Trung Quốc như nguyện vọng của lãnh đạo CSVN ở Thành Đô ngày 3-9-1990. Lý Công Uẩn là hình ảnh của một ông vua Trung Hoa trong bộ phim 19 tập mang tên “Lý Công Uẩn: Đường tới thành Thăng Long”.

Một em bé thường xem phim bộ phải thốt lên rằng “Tần Thủy Hoàng” khi thấy Lý Thái Tổ xuất hiện trong phim. Lý Công Uẩn giống y chang như một ông vua Tàu vì toàn bộ khung cảnh là hình ảnh của nước Trung Hoa. Phong cảnh, ngoại cảnh, trang phục, diễn xuất, đối thoại hoàn toàn Trung Hoa. Bộ phim tốn phí 100 tỷ đồng do đạo diễn nổi tiếng Trung Hoa là Cận Đức Mậu cùng với các diễn viên người Việt Nam.

5.3. “Một sự kiện điện ảnh ngu dốt đến như vậy!”

Đó là kết luận đánh giá bộ phim của một nhà phê bình văn hóa trong nước. “Đây là một sự lệ thuộc văn hoá vào Trung Quốc và cũng là một sự phá hoại nhân dịp kỷ niệm. Cần cho bộ phim vào nhà kho để đánh dấu rằng trong lịch sử điện ảnh Việt Nam đã từng có một sự kiện ngu dốt đến như vậy”.

5.4. Chứng tỏ đã lệ thuộc vào Trung Cộng

Một nhận xét cho rằng Việt Nam có những trang sử chống ngoại xâm lẫy lừng, oanh liệt thế mà Đảng lại chọn một giai đoạn nội chiến, tranh giành quyền lực tàn sát lẫn nhau, đó là Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân rồi lên làm vua, nhưng không được bao lâu thì anh em nhà họ Đinh giết nhau để tranh giành ngôi báu tạo ra biến loạn. Tướng quân Lê Hoàn dẹp loạn lên làn vua tạo ra nhà Tiền Lê. (Nhà hậu Lê là Lê Lợi). Cảnh huynh đệ tương tàn, Lê Long Đĩnh (Lê Ngoạ Triều) giết anh đoạt ngôi. Lê Long Đĩnh cai trị tàn ác, đam mê dâm dục nên bị Lý Công Uẩn đoạt ngôi xưng là Lý Thái Tổ, lập ra nhà Lý.

5.5. Lý Thái Tổ được nhà Tống phong vương

Lịch sử ghi lại như sau: “Lúc bấy giờ nhà Tống bận nhiều việc nên không sinh sự lôi thôi với Đại Việt. Bởi vậy khi Lý Thái Tổ lên ngôi, sai sứ sang cầu phong, hoàng đế nhà Tống cho làm Giao chỉ Quận vương. Sau lại phong Nam Bình Vương (năm 1017).

Ăn tiền là ở chỗ nầy.

Đảng CSVN muốn ám chỉ họ như Lý Thái Tổ, và lễ 1,000 năm Thăng Long là để ăn mừng quốc khánh của Trung Cộng. (1-10-1949)

Sự thật thì vua Lý Thái Tổ không có ngày giờ nào dính líu tới ngày 1 tháng 10 cả.

Lý Công Uẩn sinh ngày 8-3-974. Mất ngày 31-3-1028. Thọ 54 tuổi.

Lên ngôi năm 1009. Qua đời ngày 31-3-1028.Trị vì 19 năm. Như vậy thời gian về mọi việc của Lý Thái Tổ không có ăn nhậu gì tới ngày quốc khánh 1 tháng 10 của Trung Cộng cả.

Tóm lại, tổ chức đại lễ 1,000 Thăng Long chỉ gián tiếp lệ thuộc, thần phục, và mừng ngày quốc khánh của Trung Cộng mà thôi. Đó là sắc tộc Việt vẫn còn nằm trong đại gia đình Trung Quốc, và mong muốn được cầu phong mà thôi.

Mấy tay tiến sĩ tốt nghiệp các đại học nước ngoài trong Ban chấp hành TW Đảng CSVN cũng có cao kiến lương lẹo tinh vi, đã lừa được quần chúng nhân dân vô tình, vô cảm hiện nay trong nước.

blank
Từ giàn khoan tới cướp nước.

6* Trung ương đảng Cộng Sản Trung Hoa đào tạo cán bộ cho “Chi Bộ đảng Việt Nam”

Trong khi tàu lạ đâm bể hông, nát sườn tàu chấp pháp, bắn chìm tàu cá và bắt giữ ngư dân Việt Nam thì lãnh đạo “Chi Bộ Việt Nam” vẫn tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo Hán ngụy làm tay sai cho chính quyền trung ương ở Bắc Kinh. Đó là một đoàn cán bộ cấp “Vụ” do đồng chí Quản Minh Cường hướng dẫn sang thụ huấn ở Bắc Kinh từ ngày 15-6 đến 24-6-2014.

Đoàn của Chi Bộ Việt Nam được đào tạo về hai chủ đề: một là công tác quản lý đảng, hai là công tác quản lý xã hội.

6.1. Về mặt đảng

Chủ yếu nhấn mạnh đến công tác phát triển đảng bao gồm: kinh nghiệm về tuyên truyền, giáo dục, đánh giá, tuyển chọn, bồi dưỡng đào tạo đảng viên có khả năng, có quan điểm chính trị đúng theo đường lối của trung ương đảng ở Bắc Kinh. Tuyệt đối trung thành với lãnh đạo Chi Bộ Việt Nam và lãnh đạo TW ở Bắc Kinh.

6.2. Thụ huấn về công tác quản lý xã hội

Đoàn của Chi Bộ Việt Nam được đưa đi tham quan thực tế ở tỉnh Triết Giang. Được hướng dẫn và làm việc cụ thể với các đồng chí lãnh đạo các ban ngành để học tập kinh nghiệm quản lý về kinh tế, thông qua các doanh nghiệp quốc doanh, tư doanh, về đầu tư nước ngoài …Chương trình tập huấn nằm trong chiến lược hợp tác toàn diện của khu tự trị với chính quyền TW Bắc Kinh.

Tóm lại, đó là chủ trương “ăn đời ở kiếp” của Nguyễn Phú Trọng và quan điểm mâu thuẩn nội bộ trong gia đình đã được tướng Phùng Quang Thanh tuyên bố ở hội nghị Singapore.

Trong khi Tây Tạng và Tân Cương cố sức “thoát Trung”, thì lãnh đạo Việt Nam tiếp tục đẩy dân tộc đút đầu vào cái thòng lọng của quan thầy Trung Cộng. 

Mặc dù bị đánh đập, bị chửi bới tơi bời nhưng Chi Bộ Việt Nam vẫn cúi đầu khom lưng xin làm chư hầu cho Tàu khựa. Bán nước!

Những lời tuyên bố “linh tinh vô tổ chức” về chủ quyền dân tộc, về việc bảo vệ lãnh thổ quốc gia, chỉ là những lời đầu môi chót lưỡi nhằm lừa bịp nhân dân mà thôi. Đừng tin những gì mấy ảnh nói, hãy nhìn kỹ vào những gì bọn họ đã làm và đang làm. Việc cử người sang thụ huấn chương trình đào tạo cán bộ phục vụ cho Bắc Kinh là bằng chứng cụ thể. Trung Cộng nó có ngu dại gì mà bỏ tiền ra đài thọ nơi ăn chỗ ở, chi phí di chuyển và công trình giáo dục nầy. Bótay.com!

7* Nói về Ủy Ban Chỉ đạo hợp tác song phương toàn diện của Việt Nam.

7.1. Tổng quát về Ủy Ban chỉ đạo

Ủy Ban chỉ đạo hợp tác song phương (Guiding Committeee for China-Vietnam Bilateral Cooperation), thành lập ngày 11-11-2006 tại Hà Nội. Phía Trung Cộng: Đường Gia Triều, Ủy viên Quốc vụ, chủ tịch.

Phía Việt Nam: Phạm Gia Khiêm, Phó TT, Bộ trưởng Ngoại giao, chủ tịch.

Mục đích: Một tương lai tốt đẹp. Thúc đẩy hợp tác toàn diện mạnh mẽ, lâu dài. Tăng cường tin cậy lẫn nhau.

Nhiệm vụ: Tăng cường chỉ đạo. Điều phối vĩ mô. Hợp tác cơ chế.

Trang web: chinavietnam.gov.com, vietnamchina.gov.com. Hai trang web đều Trung Cộng quản lý.

Trang nhà của Việt Nam nhưng do Trung Cộng phụ trách nên tin tức của trang web VN đều được thể hiện theo quan điểm của Trung Cộng, cụ thể là hai quần đảo HS/TS đều của TC.

7.2. Hai bên nhất trí trong các phiên họp

* Phiên họp thứ 2 (từ 23 đến 25-1- 2008, tại Bắc Kinh). Việt Nam dâng đất cho Trung Cộng.

- Sửa tên “Biên giới Việt-Trung” thành tên “Biên giới hữu nghị”. Lý do, biên giới không phải là ranh giới phân chia 2 nước, mà để chỉ hợp tác hữu nghị.

- Việc cắm móc biên giới đã hoàn thành năm 2008, nhưng nhà nước VN không công bố bản đồ chi tiết. Thế nhưng tài liệu không chính thức của các nhà nghiên cứu tư nhân cho rằng Việt Nam bị mất rất nhiều đất sau khi các móc được cắm.

• Phiên họp thứ ba (19-3-2009 tại Hà Nội).

Nội dung hai bên nhất trí là “Duy trì hoà bình và ổn định”. Hiểu theo nghĩa của Trung Cộng là VN không được cãi lịnh đánh bắt cá từ 16-5 đến 1-8-2009. “Duy trì hoà bình và ổn định” là VN không được cản trở lịnh cấm nói trên.

Ngày 21-6-2009. Trung Cộng bắt giữ 3 tàu cá VN cùng với 37 ngư dân, buộc đóng tiền phạt 210,000 tệ.

Ngày 1-8-2009. Ba ngư dân vào tránh bão trong vùng Hoàng Sa bị bắt giữ.

Ngày 8-11-2009. TC quyết định thành lập “Ủy Ban Thôn Đảo” trên đảo Phú Lâm và Đảo Cây (Hoàng Sa)

• Phiên họp thứ tư (29-6 đến 2-7-2010). Nhất trí “Xử lý đúng đắn vấn đề tranh chấp trên Biển Đông và bảo đảm ổn định phát triển có lợi cho quan hệ song phương đi đúng hướng”.

Hiểu theo nghĩa của Trung Cộng thì: “Bảo đảm ổn định phát triển” là VN không được cản trở việc tàu ngư chính Trung Cộng đến tuần tra trên vùng biển VN. Phái đoàn VN vâng lời và chấp nhận.

Tóm lại Ủy Ban Chỉ đạo là Trung Cộng chỉ đạo, ra lịnh những việc mà Việt Cộng phải làm để đạt “đại cuộc”.

Nguyễn Phú Trọng tuyên hứa với Dương Khiết Trì: “Việt Nam khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân VN, luôn luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc, mong giữ gìn, củng cố và không ngừng làm cho quan hệ Việt-Trung phát triển mạnh mẽ, ổn định và lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước dựa trên căn bản 16 chữ vàng và 4 tốt”.

8* Nghĩa của một số cơ quan và chức vụ của Trung Cộng

1). Chủ tịch Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa

Là chức vụ có quyền lực cao nhất. Là nguyên thủ quốc gia. Chủ tịch nước đồng thời là chủ tịch đảng (Tổng bí thư). Hiện tại là Tập Cận Bình.

2). Quốc Vụ Viện nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Gọi tắt là


 Trúc Giang
Loading...