https://youtu.be/VqTc0lrrQZU

Saturday, 24 September 2022

Chuyện Taiwan: Châu Chấu và Voi ? Lực lượng quân sự: Không quân Taiwan

                                                                                        

Châu chấu và voi là hình ảnh để so sánh các con số trên giấy về lực lượng Không quân giữa Trung Cộng và Taiwan :

– Số máy bay các loại của đôi bên (theo GlobalFirepower 2022)

                                                              Trung Cộng                    Taiwan

                    (Xếp hạng trên thế giới, trong ngoặc đơn)

   – Tổng số máy bay các loại :                   3,285 (hạng 3)           741  (hạng 9)

   – Máy bay chiến đấu (fighter)                  1200 (hạng 2)            288 (hạng 8)

   – Máy bay tấn công (attack)                    371 ( h.3)                   không có

   – Máy bay vận tải (transport)                   286 ( h.3)                   19 (h.31)

   – Trực thăng                                            912 ( h.3)                    208 (h. 19)

   – Trực thăng tấn công                             281 ( h. 3)                   91 (h.7)

Qua các con số thì quả thật KQ Taiwan thua xa KQ Trung cộng !

     Theo Intelligence Resource Program :

KQ Taiwan có khoảng 70 ngàn người cùng trên 700 phi cơ xếp vào loại chiến đấu (tính gồm cả các phi cơ huấn luyện có thể cải biến thành chiến đấu  khi cần. Hiện tại KQ Taiwan vẫn đang sử dụng khoảng 180 phi cơ chiến đấu loại cũ F-5E/F và khoảng trên 100 phi cơ chiến đấu tự chế tạo (Indigenous Defense Fighters = IDFs). Các IDF sau thời gian ban đầu (từ 1980) gặp một số trục trặc đã được sửa đổi và cải biến các thiết bị điện tử để hiện trở thành một loại phi cơ chiến đấu tối tân, không thua kém và có đủ khả năng đối đầu với các phi cơ của Trung cộng chế tạo  (?) Tính cho đến đầu năm 2000, khoảng 130 chiếc IDFs đã được hoàn tất  và trang bị các phi đạn cũng ‘made in Taiwan’ BVT Tien Chien II (Sky Sword-II AR ( loại không chiến)

   Taiwan cũng mua 150 phi cơ F-16s của Hoa Kỳ : 120 chiếc, một chỗ ngồi, kiểu “A” và  30 chiếc , 2 chỗ ngồi, kiểu “B”. Số phi cơ này đã được giao trong thời gian 1997-99 (4 chiếc bị mất do tai nạn). Các F-16 này được trang bị với các hỏa tiễn AIM-7M Sparrow và AIM-9S Sidewinder.

   Taiwan nhận được 60 phi cơ Mirage 2000-5s do Pháp chế tạo từ tháng 4-1997- 1998, Các phi cơ này được trang bị các hỏa tiễn Magic II hồng ngoại và được yểm trợ bởi 4 giàn radar MICA, nên các Mirage được xem là các phi cơ chiến đấu phòng vệ không phận vào lợi hại nhất trên thế giới

  KQ chiến thuật Taiwan dự trù sử dụng các IDFs trong nhiệm vụ ‘nghênh cản ” ở cao độ thấp và yểm trợ tấn công cho bộ binh; Các F-16 dành cho cao độ trung bình, và khu vực ngoài khơi (off-shore). Các Mirage bảo vệ không phận trên cao..

   Các F-5 cũng được cải biến với các thiết bị tối tân hơn..

  Hệ thống phòng không của Taiwan được đánh giá là rất tân tiến và hữu hiệu.. phối hợp cùng các phi đạn phòng không SAM đặt dưới đất và các phi cơ chiến đấu ‘thế hệ thứ Tư’

* Tổ chức của Taiwan Air Force :

Các đơn vị chiến đấu của Taiwan được chia thành :

– 6 phi đoàn phi cơ chiến đấu ‘chiến thuật’

– 1 phi đoàn vận tải và chống tàu ngầm

– 1 phi đoàn kiểm soát chiến thuật (tactical control)

– 1 phi đoàn liên lạc và kiểm soát không lưu

– 1 phi đoàn dự báo thời tiết

– 1 Bộ Chỉ huy Phòng không và Pháo binh gồm 5 Lữ đoàn, 16 Tiểu đoàn Pháo binh phòng không.

  • Các phi cơ trang bị cho KQ Taiwan

   Các phi cơ chiến đấu ‘cũ’ như F-5s , hiện vẫn được tạm sử dụng, trong giai đoạn đang được dần dần thay thế.

 Bảng kiểm kê 2021 ghi Taiwan còn 27 chiếc F-5E và RF-5E, 35 chiếc F-5F

                  RF-5E là phi cơ trinh sát

   Từ 2021, KQ Taiwan đã dự trù thay thế 35 chiếc F-5F dùng huấn luyện tại Căn cứ Shi Hang  (TaiTung) vào 2023 bằng các AIDC-T-5 tự chế tạo.

  • Các phi cơ do Taiwan tự chế tạo

   Trước 1984, Taiwan hoàn toàn phụ thuộc vào việc cung cấp phi cơ (các loại) từ Hoa Kỳ. Hoa Kỳ cũng nhận việc huấn luyện cho các phi công Đài Loan KQ và HQ Taiwan tại Căn cứ Luke (Arizona)..

   Taiwan đã phải đặt ra một chương trình tự chế tạo các phi cơ chiến đấu tự vệ (Indigenous Defense Fighter), khi Hoa Kỳ, do thay đổi chính sách của Chiến lược Toàn cầu, từ chối cung cấp các F-20 và F-16 theo yêu cầu của Taiwan.

    Năm 1989, mẫu phi cơ ‘nội hóa’ F-CK-1 Ching-kuo  (Kinh Quốc) bay thử nghiệm thành công, và chiếc này thật sự hoạt động vào 1994..

   Nhưng vào năm 1992, KQ Taiwan qua sự ‘đồng ý’ (!) của Hoa Kỳ, nhận được các Mirage 2000-5 (56 chiếc) từ Pháp và F-16A và B từ Mỹ nên chương trình phát triển F-CK-1  bị chậm lại.

Mirage 2000-5 của KQ Taiwan

Cũng do Mỹ từ chối cung cấp các bom ‘tinh khôn’, nên Taiwan đã tự chế các loại bom ‘riêng’ để phòng chống trường hợp bị Trung Cộng tấn công từ nội địa.       

   Taiwan cũng đang có kế hoạch thay thế các phi cơ huấn luyện đang còn sử dụng gồm các AT-3 và F-5 LIFT , gồm 66 phi cơ. Năm 2008, KQ Taiwan thông báo mở ‘thầu  cung cấp’ từ các công ty quốc tế sản xuất phi cơ huấn luyện. Công ty Lockheed Martin (Mỹ) đề nghị loại T-50 và Công ty Alenia Aermacchi (Ý) đưa ra chiếc M-346. Phi cơ được chọn dự trù sẽ do Taiwan sản xuất nhượng quyền, phí tổn lên đến 2.2 tỷ USD. Nhưng sau khi TT Thái Anh Văn đắc cử, bà đã quyết định giành quyền tự chế tạo phi cơ theo thiết kế hoàn toàn của Taiwan. Số phi cơ dự trù là 66 chiếc.

     Từ tháng 4 2021, Bộ Quốc Phòng Taiwan đã quyết định sẽ tự thiết kế và chế tạo các phi cơ chiến đấu  ‘thế hệ thứ 4’ và kế hoạch sẽ bắt đầu đi vào thực hiện từ 2024..   

   TT Taiwan Thái Anh Văn trong phòng lái chiếc AIDC- T5

  • Các phi cơ Taiwan do.. Mỹ cung cấp ?

  Một trong những phi cơ chiến đấu tối tân đầu tiên của Taiwan  là các Northrop F-5 mua của Mỹ. (KQ Trung Hoa Dân quốc trước đó bay các loại như F-86.. ) Năm 1974, Taiwan mua tổng cộng 308 chiếc F-5s, do thiếu phụ tùng Taiwan buộc phải tháo gỡ cơ phận còn dùng được từ các chiếc hư hỏng không hoạt động để lắp vào các phi cơ khả dụng

    Công Ty Công Nghiệp Hàng Không của Taiwan= AIDC (thành lập từ 1969) đã tìm cách chế tạo các cơ phận tại chỗ.. Tính đến 1973, AIDC đã ‘chế và tái chế’, theo nhượng quyền, được 242 chiếc F-5E và 66 chiếc F-5F..

   Năm 1992, Taiwan mua 150 chiếc F-16 A/B của Mỹ, và đặt mua 60 chiếc Mirage 2000-5 của Pháp (trong đó 48 chiếc phi cơ nghênh càn, một chỗ ngồi 2000-5E1 và 12 chiếc huấn luyện 2000-5D1, các thiết bị tiếp xăng khi bay và yểm trợ tấn công các mục tiêu dưới đất đều bị tháo bỏ!)

     ( Mỹ ‘miễn cưỡng. bán cho Taiwan ; các F-16 Bloc 20, một biến đổi pha trộn : dùng Bloc 150CU làm căn bản, dùng cánh của Bloc 40 và đuôi của Bloc 50 cùng các thiết bị điện tử cùng loại với các F-16s mà các Quốc gia Âu châu đang dùng . 150 chiếc F16s loại này được giao cho Taiwan trong khoảng thời gian 1997-2001.)

   Từ những năm 2010s, Mỹ cung cấp cho Taiwan một số phi cơ trực thăng, phi cơ vận tải C-27J, C-130s (20 chiếc);  phi cơ tuần tra E-2T Hawkeye (6 chiếc), P-3 Orion (12 chiếc)

     Đa số các phi cơ cánh quạt của KQ Taiwan được đặt dưới sự điều động của Phi đoàn Hỗn hợp  Số 6 , đặt tại Căn cứ PlngTung.

    Những phi cơ cũ nhất là 19 chiếc vận tải C-130H và 1 chiếc C-130HE , cảnh báo điện tử; tất cả đều đã hoạt động  trên 35 năm. Tuy đã được cải biến nhiều đợt từ ngày nhận các phi này nhưng khả năng chiến đấu có thể bị suy yếu do thiếu các radar cảnh báo, hệ thống báo động chống các phi đạn phòng không của quân địch. KQ Taiwan đã có những kế hoạch cập nhật hóa các thiết bị điện tử cho toàn thể phi đội C-130 này.

   Phi đội 12 chiếc P-3C Orion  canh chừng mặt biển, của Taiwan (do HQ Hoa Kỳ chuyển nhượng) được xem như đã có thể hoạt động hành quân từ tháng 12-2017 để thay thế cho các Grumman S-2T lỗi thời, không thể theo dõi được hoạt động của các chiến hạm Trung cộng.

   Sáu phi cơ Northrop Grumman E-2K Hawkeye giữ nhiệm vụ cảnh báo tầm xa trên không (early warning), để bổ túc cho các giàn radar cảnh báo ven biển, trong trường hợp các giàn nảy bị tấn công và vô hiệu hóa. Các E-2K tiếp tục được cải thiện bằng các thiết bị điện tử mới và tối tân hơn của Hoa Kỳ. Chương trình dự trù kéo dài đến 2024.

  Tháng 11-2011, Hoa Kỳ đồng ý cung cấp cho Taiwan các F-16V (bloc 70) để thay thế các F-5 , đến thời kỳ phế thải..Chương trình Phoenix Rising upgraded này trị giá 5.3 tỷ USD dự trù trang bị cho các F-16 V nhiều loại radar tìm mục tiêu mới (APG-83 fire control radar ,cùng các hỏa tiễn không chiến AIM-9X Sidewinder tối tân hơn. Chiếc F-16V đầu tiên được giao cho KQ Taiwan vào tháng 10-2018, sau đó 37 chiếc giao vào tháng 12-2020. Các F-16 A và B sau hơn 20 năm hoạt động bị thiệt mất 9 chiếc, số 141 còn lại sẽ được thay thế dần bằng F-16V, hạn cuối vào 2024.

    (Năm 2006, Taiwan đã xin mua các kiểu F-16C và F-16D , tối tân hơn nhưng bị Hoa Kỳ từ chối. Khoảng cách giữa khả năng kỹ thuật của KQ Taiwan càng bị lùi sau KQ Trung cộng,  đã trang bị các Shenyang J-11s và J-16s, chế tạo theo phi cơ Nga Sukhoi Su-27s và Su-30s)

  • Phi cơ chiến đấu ‘made in Taiwan’

   Hai loại phi cơ chiến đấu ‘nội hóa’ của Taiwan được xếp vào hạng’ tối tân’ không kém các phi cơ do Trung Cộng, Nam Hàn và Nhật chế tạo :

  • Nam Hàn có phi cơ chiến đấu KAI KF-X và huấn luyện T-50..
  • Nhật có phi cơ huấn luyện Kawasaki T-4..phi cơ chiến đấu Mitsubishi F-2
  • AIDC F-CK-1

   Trong Thập niên 1970s, Taiwan đã gặp rất nhiều trở ngại từ phía ‘đồng minh‘ Hoa Kỳ trong kế hoạch hiện đại hóa KQ của mình ! Hoa Kỳ, để làm hài lòng Trung Cộng  ‘thay đổi thái độ’ với ‘bạn cũ’ Taiwan. Từ chối bán cho Taiwan , loại F-20 (chỉ là F-5E tối tân hóa), gây khó khăn cho việc cung cấp F-16A..

   Đến Tháng 5-1982, Chính phủ Taiwan đã phải quyết định tự chế tạo các phi cơ chiến đấu cho nhu cầu phòng vệ sống còn của Đảo quốc, đang bị ‘đồng minh’ bỏ rơi..

Bốn phi cơ ‘mẫu’ được chế tạo thử , chiếc đầu tiên xuất xưởng ngày 10 tháng 12, 1988 và sáu tháng sau, bay chuyến ‘khai.. trương’.

  Phi cơ được đặt tên Ching-kuo=‘Kinh Quốc’, ghi nhớ tên vị TT thứ 2 của Trung Hoa Dân quốc : Tưởng Kinh Quốc, con TT đầu tiên Tưởng Giới Thạch, là một phi cơ ‘lai tạo’ giữa F-16 và F/A-18. Kế hoạch ban đầu dự trù chế tạo 250 chiếc, sau đó giảm còn 130 vào năm 1992 khi Hoa Kỳ đồng ý bán các F-16A và B cho Taiwan

   Các FC-K1A và 1B được giao cho KQ Taiwan vào thời gian giữa 1992 và 1999.

Với sự yểm trợ kỹ thuật từ Công ty Lockheed (2004-2007) các CK-1A và 1B được trang bị các hệ thống điện tử ‘thông thường, truyền thống’. Sau đó Taiwan có các Chương trình ‘cập nhật hóa’ kỹ thuật : “Hsiang-Zhan”, các FC-K1s được cải tiến trong 2 nhóm : 71 chiếc (2009-2013) và 56 chiếc tiếp theo sau (2014-17). Các phi cơ mẫu được lấy ra khỏi kho tồn trữ và giao cho KQ Taiwan, để tổng số FC-K1s  lên đến 129 chiếc.

   Ngoài các AIM-9P Sidewinder (Mỹ), các FC-K1s Taiwan được trang bị các phi đạn không chiến tự chế tạo, mang dưới cánh 4 hỏa tiễn không chiến, tầm ngắn, điều khiển  bằng hồng ngoại Tien-Chien 1 và mang dưới bụng 2 hỏa tiễn do radar điều khiển Tien-Chien 2, tầm xa..Các FC-K1C và 1D còn được cải biến để phóng được các phi đạn Wan-chien có khả năng tấn công các mục tiên trên biển  và các căn cứ KQ và HQ Trung cộng trên đất liền , tầm cách xa 125km..

  • Phi cơ huấn luyện T-5

   Các phi công của KQ Taiwan, được huấn luyện căn bản tại Trường KQ đặt tại Căn cứ Kangshan trên các phi cơ huấn luyện ‘nội hóa’ AIDC AT-3, trước khi được chuyển về Taitung để được huấn luyện tiếp về khu tru6c trên các F-5F.

   KQ Taiwan cũng đã có kế hoạch thay thế các phi cơ huấn luyện cũ đã hết hạn sử dụng. Năm 2014, chương trình đấu thầu tìm loại phi cơ thích hợp, không có kết quả và từ 2016, các chương trình thiết kế các phi cơ huấn luyện nội địa được tiến hành..Bắt đầu vào năm 2017, do Cộng tác giữa KQ Taiwan,  Ban Nghiên cứu và Thiết kế của Bộ Quốc Phòng Taiwan cùng Viện Khoa Học và Kỹ thuật Quốc gia Chung Shan đã đặt kế hoạch sản xuất 66 phi cơ trong khoảng thời gian 2021 đến 2026, chi phí dự trù lên đến 2.3 tỷ USD.

   Chiếc phi cơ mẫu đã được TT Thái Anh Văn..’vén màn bí mật’ vào 24 tháng 9, 2020 tại Taichung và đặt tên là Yòngyìng = Dũng Ưng= ‘Brave Eagle”, hay dễ nhớ hơn là T-5. Phi cơ này dựa theo căn bản thiết kế từ F-CK-1 loại hai chỗ ngồi.

   T-3 là phi cơ huấn luyện có khung sườn dùng nguyên liệu ‘tổng hợp=composite’, giúp giảm trọng lượng, tiết kiệm nhiên liệu; thiết kế cũng thay đổi hình dạng cánh (của F-CK-1) để phi cơ bay chậm và ‘đầm’ hơn khi bay ở cao độ thấp, tháo bỏ súng (có thể lắp lại khi cần; thay đổi động cơ..Năm 2017 Công ty HoneyWell cung cấp các cơ phận cho 132 động cơ ITEC F124  sẽ lắp trên các T-5

 Chiếc T-5 đầu tiên, bay khởi đầu = ‘maiden flight’ ngày 22 -6-2019 và từ đó được tiếp tục cải thiện cho hoàn hảo hơn. Chiếc thứ nhì xuất xưởng ngày 25-12-2020 và dây chuyền sản xuất sẽ bắt đầu từ tháng 3-2023.


Chiếc T-5 đầu tiên, bay khởi đầu = ‘maiden flight’ ngày 22 -6-2019 và từ đó được tiếp tục cải thiện cho hoàn hảo hơn. Chiếc thứ nhì xuất xưởng ngày 25-12-2020 và dây chuyền sản xuất sẽ bắt đầu từ tháng 3-2023.

Chiếc T-5.. mẫu số 1

 Và.. bay biểu diễn..

                                                Trần Lý 9/2022

Dòng sông cũ

 Nguyễn Hồng Quang

Đông vừa qua Xuân mới về mang theo những cánh hoa anh đào đẹp mỏng mảnh, trắng có hồng có, mới nở quanh bờ hồ Thủy Triều bên dòng sông Potomac thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Chạnh lòng nhớ về Saigòn thân yêu. Không ngờ Sàigòn đã mất đúng 29 năm rồi. Thời gian qua mau quá. Hơn nửa tuổi đời, những hình ảnh Sàigòn vào những ngày cuối tháng Tư vẫn còn sống động trong trí não tôi như mới vừa xảy ra ngày nào.

Vào cuối tháng tư năm 75, tôi làm trưởng toán dẫn 3 chiếc Yabota (ghe cây) thuộc Duyên đoàn 42 đóng hòn đảo Poulo Obi về Rạch Giá đi chợ mua gạo, thức ăn khô phần nhiều cho duyên đoàn. Chờ ghe đi chợ trở về đảo như chờ mẹ đi chợ về.

Thức ăn tuy quan trọng nhưng không bằng rượu đế và bia. Đồ ăn nếu thiếu thì không sao, nhưng rượu về thiếu thì anh em ở đảo làm thịt trưởng toán ngay. Ghe chất rượu nhiều hơn thức ăn. Thông thường sau một đêm dân đảo uống sạch cả ghe rượu vừa đem về. Từ chỉ Huy trưởng đến lính thuộc đài kiểm báo cao trên đỉnh núi và thuộc duyên đoàn ở dưới chân núi đều xỉn cả.

Có lần cả đảo hết rượu khá lâu vì biển động ghe không đi vào đất liền đi chợ được. Nghiện rượu quá, một nhóm anh em lấy alcohol của y tá pha loãng với nước dừa tươi, nhậu cho đỡ ghiền. Sáng hôm sau cả đám ôm bụng rên la lăn lộn dưới đất. Một anh chết vì alcohol phá hoại ngũ tạng.

Dân Hải Quân gọi Poulo Obi (Hòn Khoai) là đảo Giáng Tiên vì nơi đây xa cánh trần thế, không có thường dân ở, chỉ có trời và nước. Đảo nhỏ cách mũi Cà Mau ba mươi dậm về phía Nam. Quanh năm biển động. Nơi đây dành cho các tiên bị đày như các ông tiên Hải Quân có nhiều tù tội như tôi do kết qủa của những năm bụi đời ở Giang Đoàn 52 Tuần Thám. Vừa mới ra trường OCS đầu năm 71, tôi đi chiếc PGM HQ 607 biệt phái vùng Năm Căn có ghé vào đảo Giáng Tiên một ngày để tránh sóng. Không ngờ bốn năm sau lại bị đày ra đây.

Đường biển là đường tiếp liệu chánh của đảo. Những ông tiên đi đày nào có nghiện xì ke ma túy vào lúc biển động thiếu thuốc thì chịu chết thôi. Đường thuốc tiếp liệu bị cắt đứt. Có lần hơn cả tháng không ghe nào ra vào đảo, ông tiên Trung Úy Chỉ Huy Phó duyên đoàn 42 lên cơn nghiện, mặt hóc hát, miệng sồi bọt trắng. Tiên ông chỉ còn đủ sức cầm súng M16 bắn loạn xạ trong khu gia binh duyên đoàn vì không ai dám chở Chỉ Huy Phó vào Năm Căn kiếm thuốc trong cơn biển động. Ông tiên Chỉ Huy Trưởng đành phải đánh điện khẩn cấp giả xin trực thăng đáp trên đảo đêm Chỉ Huy phó vào Năm Căn tri. bệnh. Lý do là Chỉ Huy Phó bị “nội thương” trầm trọng.

Trời cũng thương các tiên ông. Trên đảo có một dòng suối nước ngọt duy nhất chảy quanh năm từ đỉnh núi xuống chân đảo. Nhờ thế các tiên có nước ngọt nấu ăn, uống, tấm rửa quanh năm. Nếu không, các tiên chắc chắn lên thiên đàng thật sự.

Muốn đi Rạch Giá, bắt mũi ghe về hướng Bắc chạy dọc theo bờ biển từ mũi Cà Mau ngang qua rừng U Minh. Sau hơn một ngày một đêm trên biển, tuy mệt vì đi cả đêm, anh em thủy thủ đoàn ai cũng vui tươi, hăng hái khi đoàn ghe bắt đầu vào cửa sông dẫn vào Rạch Giá lúc hừng đông.

Ghe vừa cặp bến, tôi chia gác cho nhóm mồ côi ở lại coi ghe và đi chợ búa. Nhóm đi bờ có gia đình, chưa cột ghe xong, đã nhảy lên cầu đi mất. Tất cả mọi người phải tập họp tại Rạch Giá đúng trưa ngày 30 để trở về đảo. Thật là một sư trùng hợp chỉ xảy ra chỉ một lần trong đời tôi.

Leo lên xe đò chuyến sớm về Sàigòn, đến chọp tối tôi mới bước chân vào căn nhà nhỏ xinh xắn của tôi mua trả góp trong khu thương xá Thanh Đa gần cầu xa lộ Sàigòn-Biên Hòa. Đúng ra là một căn apartment có một phòng khách, một phòng ngủ, nhà bếp và buồng tấm. Một trong những thú vui nhất của tôi khi về nhà là đứng từ ban công lầu bốn trên cao gió lọng nhìn xuống dòng sông Sàigòn chảy ngang qua khu Thanh Da.

Sông Sàigòn phát nguồn từ vùng cao trên khu Dầu Tiến, Hố Bò chảy qua tỉnh Bình Dương, quận Lái Thiêu, cuộn qua Sàigòn, đến Nhà Bè, vào Cửa Cần Giờ trước khi đổ ra biển Đông tại cửa Vũng Tàu. Trước khi bị đày ra đảo Giáng Tiên, tôi có dịp đi tuần khắp cả dòng sông này khi phục vu. Giang Đoàn Tuần Thám 52 đóng ở gần chợ Bình Dương. Cũng trên dòng sông nầy, có nhiều lần tôi thoát chết qua nhũng trận phục kích, tấn công ác liệt của Cộng quân. Qua những cuộc cứu thương, vớt xác bạn bị chìm tàu vì bị mìn. Khi nghỉ trở lại, tôi không ngờ còn sống có lẽ vì có số mạng lớn.

Phía xa là cầu xa lộ dài bắt ngang qua dòng sông Sàigòn. Bô Tư lênh Hải Quân ở xa hơn và bị che khuất bởi nhưng dãi nhà cao. Lúc đi công tác ra đảo, tôi thường giao chìa khóa nhà cho Liêm mù và Hùng Sexy tự do sử dụng. Liêm mù lúc đó làm phòng Điện Toán ở bộ Tư Lệnh. Hùng sexy làm ở Biệt Khu Thủ Đô. Lúc mới đi định cư, tôi qua Montreal chơi gặp Hùng gà tồ và Hùng Sexy. Nghe Hùng Sexy nói đùa:

– Ê Baby! Chắc mày vượt biên qua đây để đòi nhà mày lại phải không? tao làm mất chìa khóa và giấy tờ nhà cửa của mày khi tao di tản vào đêm 29.

Tôi mới nói đùa lại:

– Sống qua đây gặp tụi mầy là vui rồi. Lo chi cái nhà lẻ tẻ.

Trở lại tình hình Sàigòn, ngoài chuyện nghe tin người anh họ làm thông dịch viên cho phái đoàn Ủy Hội Đình Chiến đã được Mỹ đưa vào phi trường Tân Sơn Nhất chuẩn bị đi Mỹ. Sàigòn có một vẽ bình thường rất lạ So sánh như bầu trời xanh im lặng trước khi một cơn bão to khủng khiếp xắp sửa đến.

Cho đến ngày nay, tôi vẫn không tin bọn Cộng quân có thể chiếm được Sàigòn một cách dễ dàng như vậy. Nào bao nhiêu sư đoàn Dù, Bộ Binh, Thủy Quân Lục chiến, Hải Quân và Không Quân từ các vùng khác rút về tử thủ Sàigòn đến giọt máu cuối cùng. Di tản Sàigòn không thể xảy ra được. Cá ông Tướng láo líu tuyên bố: “Các chiến sĩ VNCH phải tử thủ Sàigòn đến giọt máu cuối cùng”. Lời nói nầy đã gây cho bao nhiêu chiến sĩ anh hùng đổ giọt máu vô nghĩa vào ngày cuối cùng cho sự sống còn của nước Việt Nam. Thật ra các ông tướng nầy chạy trước nhất.

Liêm mù, Hùng Sexy, Tường Đen, Thắng Đầu bò tưởng tôi còn đang ở ngoài đảo Giáng Tiên. Nếu có di tản ở đảo tôi sẽ đi dễ dàng hơn. Vì thế không ai ghé nhà cho tôi biết về việc Hải Quân ở Sàigòn chuẩn bị di tản tấp nập nầy. Thật là mỗi người có số mạng riêng.

Chập tối ngày 29, từ lầu bốn ban công nhìn xuống dãi lầu đối diện, tôi thấy Lê Á Châu, khóa 7, đeo xách lủng lẳng đang dẫn vợ con hấp tấp leo lên xe Honda. Tôi mới hỏi vọng xuống cho Châu mật cách thật ngây thơ:

-Ê Châu, mày dọn đi đâu vậy?

Châu ngước lên nhìn tôi, không trả lời và lên xe vọt đi một cách vội vã. Hình ảnh nầy ám ảnh tôi mãi trong thời gian ngồi trong tù cải tạo. Tôi tự hỏi, nếu biết có cuộc di tản ở bộ Tư Lệnh Hải Quân như vậy thì mình có định đi theo không? Có lẽ là không vì tôi còn có trách nhiệm với 3 chiếc ghe cùng nhóm thủy thủ đoàn đang chờ tôi ở bến Rạch Giá vào ngày 30. Nếu đến Rạch Giá được rồi thì ra cửa biển di tản cũng dễ thôi.

Đúng mười giờ sáng ngày 30 tháng Tư, cứ tưởng là đang mơ ngủ khi nghe Tướng Dương Văn Minh lên radio tuyên bố đầu hàng. Tôi vẫn không tin cho đến khi nghe người hàng xóm nói xe tăng T54 chạy qua cầu xa lộ đang hướng về ngã tư Thị Nghè. Tôi hối hả cầm khẩu súng Colt 45 lận trong áo chạy xuống lầu nhảy ra đường cái để xem tình hình ra sao.

-Sàigòn không thể nào mất dễ như vậy!

Tôi đang trong tình trạng phủ nhận sự thật phũ phàng nầy. Khi đến gần ngã tư Thị Nghè. Đậu choáng cả ngã tư, một xe tăng T54 với khẩu đại bát to. Trên cây anten có đeo ngọn cò đỏ sao vàng. Phía dưới họng súng to đen ngòm, cái đầu tên lính Cộng Quân lòi ra đang quan sát cẩn thận đám dân hiếu kỳ và sẵn sàng bóp cò từ khẩu đại liên, đại bát vô nhân dạo quay hướng vào những người dân vô tội.

Bỗng dưng mắt tôi từ nhiên trào ra không cầm được. Có lẽ tôi khóc cho thân phận mình nói riêng và cho dân Việt nói chung. Mở đầu một chương lịch sử ghi dấu dân Việt bắt đầu cuộc sống gọng kềm của bọn Công Sản không thần, không nhân đạo, không gia đình và không có ngày mai.

Qua ngày hôm sau tôi còn nủa mơ nửa tỉnh, tự hỏi:

-Có phải hòa bình thật đã đến cho nước Việt Nam không?

Nếu thật sẽ không còn cảnh giết chóc lẫn nhau. Mọi người sẽ sống hòa thuận cùng xây dựng đất nước ấm no, thịnh vượng. Gia đình không còn chia ly nữa: mẹ không mất con, vơ. không mất chồng, con không mất cha.

– Ta nên vui chứ sao lại buồn lo như vậy ?

Những suy nghĩ trái hẳn nhau cứ dằng dai trong đầu tôi. Nhiều lúc tôi muốn cầm khẩu Colt bắn vào đầu mình để không còn nghe, nghĩ và nhìn những cảnh đổi đời tàn nhẫn nầy.

Thật giận khi thấy một số dân địa phương theo gió đổi cờ. Trên những chiếc xe Honda, xe Jeep của VNCH để lại, một lũ người không ra người, ngợm không ra ngợm, vừa chạy vừa phất cờ đỏ sao vàng khắp cả đường phố. Một số tên nằm vùng vác súng AK bắn chỉ thiên loạn cả lên. Chúng đang ăn mừng vào ngày ăn cướp miền nam Việt Nam.

Một lần nữa nước mắt vô tình ứa ra khi thấy một chiếc tăng T54 khác từ hướng cầu Bình Lợi rầm rộ đổ về thủ đô Sàigòn. Sàigòn yếu dấu đã thật sự rơi vào tay Cộng Sản. Cuộc đổi đời đã bắt đầu. Bao nhiêu xương máu của các liệt sĩ VNCH chiến đấu cho tự do dân chủ trở thành vô vị.

Một người hàng xóm vội nói với tôi:

-Anh đừng khóc nữa. Coi chừng tụi nó thấy thì nguy hiểm cho anh.

Bất mãn lẫn lo âu, tôi quay trở về nhà để không muốn chứng kiến sự thất bại phũ phàng nầy. Từ xa, tôi đã thấy ngọn cờ đỏ sao vàng treo phất phới đầu cổng khu Thanh Đa từ lúc nào. Tôi càng hoang mang hơn khi thấy vài căn nhà thuộc dãi lầu tôi ở, đã treo hình Hồ Chí Minh, dán bích chương biểu ngữ trước nhà để hoan nghênh Cách Mạng. Chứng tỏ mình là người của Cách Mạng. Đúng là bọn ăn ké hèn hạ.

Vào được trong nhà tôi cảm thấy yên tâm hơn và biết rằng cuộc đời mình không còn như trước nữa. Tôi đem tất cả giấy tờ, hình ảnh Hải Quân và hình chụp ở OCS đốt hết. Bây giờ vẫn tiếc những hình ảnh nầy. Xong rồi, gom tất cả quần áo Hải Quân, giày lính, lon lá và nón sĩ quan vào một bịt nylon. Đợi chiều tối thây không có ai nhìn, tôi vội vất bịt nylon vào thùng rát công cộng vì sợ bọn chó săn cắn bậy. Tôi vừa mới chôn đi cuộc sống Hải Quân mà tôi từng mơ ước và sống với.

Tôi quyết định giữ khẩu Colt 45 để tự vệ dù biết rằng việc nầy rất nguy hiểm cho tôi. Nếu bị bắt bọn Cộng Sản tử hình tôi tại chỗ.

Sáng ngày hôm sau, tôi quyết định quay lại Rạch Giá bằng mọi giá. Cả đêm không ngủ. Đến sáng vừa tan giờ iờ nghiêm, tôi đi xe ôm ra bến xe đò Phú Lâm tìm cách về phía lục tỉnh. Tất cả xe đò chở hành khách đều bị cấm chạy vì bọn Cộng Sản sợ lính VNCH chạy trốn về miền lục tỉnh.

Đến bến xe đò, tôi đi một vòng xem động tĩnh cùng hỏi cách về Rạch Giá. Cũng hên, gặp được ông chủ xe chở hàng hóa cho quá giang. Xe chở số một số hàng hóa và kèm thêm một số gà vịt nhốt trong chuồng. Tôi lấy làm lạ tại sao ông nầy lại chở củi về rừng. Vùng lục tỉnh gà vịt chết hết hay sao? Sau nầy được biết ông không bán gà vịt được vì chính phủ Cộng Sản cấm xe đò vào thành phố Sàigòn.

Để tránh sự kiểm soát, tôi leo vào chính giữa xe chất đầy chuồng gà và vịt đầy mùi phân lẫn trộn với trấu và rơm đưa lên lỗ mũi làm hắt hơi mệt nghỉ.

Xe hàng chạy qua cầu Phú Lâm một khoảng thì dừng lại làm tôi đưng cả tim. Chắc là bị bọn bộ đội xét bắt giữ lại. Thật ra không phải bộ đội mà là ba cặp trai gái trẻ ăn mặc theo dân Sàigòn xin đi quá giang về miền Tây. Cũng như tôi, họ trả một số tiền cho ông chủ xe. Gặp hai cặp nầy, tôi thấy họ hơi quen quen mà tôi nhớ không nhớ ra ngay.

Chạy êm đềm một thời gian, xe bắt đầu lắc tới lắc lui vì chạy qua những ổ gà to giữa đường lộ. Bỗng nhiên một chuồng gà văng lên cao rồi rớt trên đầu anh bạn bên cạnh. Gà sút chuồng bay tùm lum. Tôi và các người bạn túm được bầy gà vô trật tự bỏ vào chuồng trở lại.

Trước khi tới Cần Thơ, tôi chợt nhận ra được nhóm nầy. Họ là bà con của OC Dương Văn Đức, khóa 6 và là bạn của OC Phan Tấn Hùng, khóa 8. Sau khi nhận diện nhau, tôi được biết họ cũng đi Rạch Giá để tìm tàu vượt biên. Như thế là phe ta cùng chí hướng vượt biên.

Các tỉnh miền tây như Vĩnh Long, Cần Thơ, Sa Đéc chưa bị bọn Cộng Sản chiếm hoàn toàn nên sự kiểm soát di chuyển có vẽ dễ dàng hơn ở Saìgòn. Đến Cần Thơ, tôi và nhóm bạn mới chia làm hai nhóm mua vé xe đi riêng và hẹn gặp nhau tại bến xe đò Rạch Giá.

Đến Rạch Giá vào chiều tối. Tôi lén đến cầu tàu để xem tình hình mấy chiếc ghe Yabota thuộc duyên đoàn. Chỉ còn ba xác ghe không. Máy móc, súng ống, thức ăn đã bị ăn cắp mất hết. Tìm được anh thủy thủ Tân là dân địa phương Rạch Giá cho biết nhóm Duyên Đoàn 42 mạnh ai tản hàng. Tân gợi ý là anh có người quen có tàu đánh cá chịu chở ra biển tối nay. Phải trả tiền hoặc vàng. Tôi bàn với nhóm bạn từ Sàigòn xuống chung với tôi. Tất cả gom nào dây chuyền, nhẫn vàng, hột xoàn và vét bao nhiêu tiền đem ra hết. Tất cả khoảng năm cây vàng. Chủ ghe đồng ý.

Tối nay tôi lãnh trách nhiệm xem xét tình trạng chiếc ghe đang đậu bãi phía sau sân vận động Rạch Giá. Nếu tất cả như ý muốn, tôi và các bạn tôi trả tiền cho chủ ghe và lên ghe ra biển vào ba giờ sáng lúc nước thủy triều lên cao. Đài BBC cho biết Hạm đội 7 Mỹ vần còn lảng vảng vùng biển miền nam để rước đân tị nạn. Niềm hy vọng được tư do lên cao hơn. Trong khi ngồi trong quán ăn chờ đợi, các bạn tôi nghe nhiều vu. vượt biên tại vùng Rạch Giá. Đa số bị bể. Có người bị bắn chết, có người bị bắt, có người bị bịp mất tiền của mất cả tính mạng và tự do. Càng nghe chuyện, niềm tự do hy vọng càng xuống dần.

Đã nhất quyết, vào mười giờ tối, tôi lận cây súng Colt 45 trong bụng và đem theo một số tiền đặt cọt đi đến điểm hẹn. Sau khi qua khu sân vận động, đi vào đường hẻm tối, tôi gặp được chủ tàu đang đứng chờ. Tôi hỏi ghe vượt biên đâu. Chủ tàu chỉ về phía xa xa trên bãi nước cạn có chiếc ghe nhỏ đeo chiếc đèn dầu đậu. Tôi đòi ra ghe để xem sao. Chủ ghe lấp lúng cho hay là bây giờ không tiện và hứa vào sáng sớm trước khi đi thì coi luôn thể. Chủ ghe còn bảo tôi đặt tiền cộc trước. Tôi hơi nghi tự hỏi có phải thật là ghe của hắn không. Hay là một cái bẩy chờ những con các tươi nầy vào tròng. Tôi mới bảo tên chủ ghe là tôi sẽ trở lại hỏi ý kiếm của anh em trong nhóm. Thấy không xong hắn bảo tôi đứng đây chờ hắn trở lại.

Hắn vừa đi là tôi vội rời khỏi chỗ ngay. Sợ hắn dẫn bộ đội chận đường đi, tôi chọn con đường khác đi về chợ. Đi một lúc sau, nghe tiếng tên chủ ghe và một nhóm du kích chạy trên đường cũ. Có lẽ bọn chúng đang đi tìm tôi. Tôi vội núp vào đường hẻm tối chờ chúng đi qua thật xa.

Cuối cùng tôi trở lại bến xe đò nơi điểm hẹn của nhóm bạn định vượt biên. Tôi kể lại chuyện không may mắn nầy. Ai nấy đều lo lắng cho sự an ninh của mình. Tất cả đồng ý tản ra tìm chỗ ngủ quanh bến xe. Chờ sáng sớm leo xe đò trở về Sàigòn để binh đường khác. Tư đó tôi không gặp mặt lại họ.

Trở về Sàigòn, lòng buồn vô hạn cứ tưởng rằng các bạn OC thân đã đi tản hết cả rồi. Không ngờ gặp lại Thắng đầu bò đang bị bắn gẫy chân nằm dưỡng thương tại nhà. Được biết OC Thắng đầu bò và OC Hùng khờ cùng khóa 6 đang lái tàu di tản từ căn cứ Hải Quân Cát Lái. Thắng đầu bò và Hùng khờ ra lịnh bắn chìm chiếc ghe trên đó có một toán Cộng quân trên đường tiếp thu căn cứ Cát Lái. Thình lình tàu của Hùng và Thắng trúng một viên đại bát từ chiếc T54 của Cộng Sản bờ bên kia bắn qua. Thắng đầu bò la lên:

-Chết mẹ rồi. Lái nhanh vào bờ. Xe tăng tụi nó bắn trúng tàu mình. Tao bị thương rồi Hùng ơi.

Không nghe Hùng trả lời, Thắng bị trúng mạnh đạn ở chân không đi được nên bò gần hầm tàu kiếm Hùng khờ. Không ngờ Hùng tử trận ngay tại chỗ dưới hàm tàu vì mảnh đạn vô nghiệt bắn từ chiếc xe tăng T54. Một anh hùng ngã gục vì tử chiến đến giọt máu cuối cùng trong hoàn cảnh hỗn loạn nầy. Vào lại bờ, nhóm thủy thủ vội chở Thắng vào bệnh viện Hải Quân gần bộ Tư Lệnh để cứu thương.

Đang nằm trên giường bệnh chờ bác sĩ và y tá Hải Quân đến chửa bệnh, Thắng thấy một nhóm dân hỗn loạn vào ăn cắp dụng cụ giải phẫu thuốc men thuộc bệnh viện.. Thêm vào vì sợ bộ đội vào tiếp thu bệnh viện sẽ tiếp thu bệnh nhân luôn, tất cả bệnh nhân đi được đã trốn cả. Chỉ có Thắng là không đi trốn được vì xương chân bị bắn gẫy.

Đê trốn đi, Thắng liên lạc được với ông anh của Thắng làm bác sĩ cho bịnh viện quân đội thời VNCH đến chở. Ông anh của Thắng đem chiếc xe Toyota wagon vào đậu gần cửa phòng bệnh. Anh và các bạn đặt Thắng trên băng ca và hối hả khiêng Thắng ra xe trước khi bệnh viên Hải Quân bị tịch thu. Thắng được ông anh bác sĩ chửa thương tại nhà.

Trong sự mất mát lớn lao cùng sự hy vọng bay thành mây khói, tôi rất mừng gặp lại Thắng đầu bò. Mừng thêm khi biết tin một số bạn OC may mắn đã an toàn thoát khỏi Việt Nam. Chân bị băng bột, Thắng nằm dưỡng bệnh trên lầu bốn tại nhà khu vườn cao su Phú Thọ Hòa. Sau khi nghe chuyện, tôi thấy mình không còn cô độc nữa và còn may mắn hơn OC Thắng và cố OC Hùng khờ nhiều.

Không di tản được, các sĩ quan VNCH, các anh em OC, Thắng và tôi bị đi cải tạo “mười ngày” sau nầy trở thành hơn “mười năm”. Mười ngày của Cộng Sản lâu và khổ cực như mười ngày trong địa ngục.

Gần bờ hồ nơi hoa anh đào trộ nở có tòa nhà Bạch Ốc, tòa nhà Quốc Hội, tòa Ngũ Giác Đài, và những cơ quan đầu não của nước Mỹ. Khoảng hơn ba chục năm về trước, tại nơi đây đã có bao nhiêu cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, bao nhiêu cuộc tranh luận sôi nổi và đã đưa ra những quyết định quan trọng về số mệnh mỏng mảnh của nước Việt Nam Cộng Hòa. Số mệnh này không khác gì số mệnh mỏng mảnh của đóa hoa anh đào. Một cơn mưa gió phũ phàng xảy ra tối qua đã làm rụng những cánh hoa tươi đẹp ngày nào. Còn lại là những cành cây anh đào trơ trọi mong chờ hoa trở lại vào mùa xuân tới.

Nguyễn Hồng Quang (https://nhanammedia.net)

Nguồn: http://hqvnch.com/BLOG/2019/10/15/dong-song-cu/

Tôi Vào Lính

 Đặng Kim Hoa

Vươn lên 2: Nữ Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Tuổi học trò ngây thơ. Ngày hai lần đến trường, vô tư lự, tôi chưa hề có một dự tính, ước mơ gì cho tương lai. Như hầu hết các thiếu nữ Việt Nam thời đó, có lẽ cuộc đời tôi rồi cũng theo một con đường thông thường là lấy chồng, nuôi con, suốt năm quanh quẩn trong nhà tề gia, nội trợ mà thôi. Nhưng không ngờ, chỉ một hình ảnh thóang qua nhẹ nhàng mà đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Đó là sự tình cờ của một buổi chiều khi tôi chợt gặp gỡ một chị nữ quân nhân gọn gàng trong quân phục ngay trước nhà tôi ở, ty Bưu Điện Đà Lạt. Trên túi áo chị có bảng tên Xinh, và chị cũng thật là xinh xắn. Chỉ một hình ảnh thóang qua đó thôi, mà đã ghi sâu trong tiềm thức của tôi, gợi lên trong lòng cô gái nhỏ những mơ ước không đắn đo về tương lai đời mình.

This image has an empty alt attribute; its file name is nuquannhanvnch2.jpg

Năm đó, cuối niên học 1966-1967, tôi còn là một nữ sinh áo trắng của trường Bùi Thị Xuân Đà Lạt, chuẩn bị bước vào năm cuối bậc trung học. Một hôm, đài phát thanh Đà Lạt loan tin Trường Võ Bị Quốc Gia đang tuyển mộ hai nữ trợ tá để làm việc tại Phòng Xã Hội của trường. Vì đang thời chiến tranh sôi động, ngày nào, trên đài phát thanh cũng phát đi những bài hát về tiền tuyến hậu phương. Những bài hát này cộng với hình ảnh của những người lính chiến ngày đêm gian khổ ngòai chiến trường gây xúc động mãnh liệt trong lòng tôi. Tôi cảm thấy cần làm điều gì đó để xoa dịu nỗi đau thương của người thương binh, hay ít ra góp phần giúp đỡ gia đình họ ở hậu phương. Hình ảnh người nữ quân nhân tên Xinh lại trở về trong tâm tưởng của tôi. Ôi! Bộ quân phục đơn sơ gọn gàng nhưng trông đẹp làm sao! Thế là tôi đã có một quyết định cho mình.

REPORT THIS AD

Người hướng dẫn tôi làm thủ tục gia nhập quân đội là chị Hiền, Trưởng Phòng Xã Hội Trường Võ Bị Đà Lạt. Chị mang cấp bậc Thượng Sĩ, chắc đã đi lính lâu năm rồi. Có nhiều thiếu nữ như tôi cũng nộp đơn nhập ngũ, nhưng cuối cùng chỉ có hai người được chọn. Đó là chị Nghĩa và tôi. Sau ngày đầu tiên, hai đứa tôi nhanh chóng trở thành đôi bạn thân qua những tháng dài học tập và sau đó cùng về làm việc ở Đà Lạt.

15220249324_775207dfa0_z

Chị Hiền đã lo vé máy bay chu đáo cho chúng tôi để về Sài Gòn trình diện Cục Xã Hội kịp thời. Cục Xã Hội nằm trên đường Đồn Đất gần bờ sông Sài Gòn, gồm mấy dãy nhà gạch cổ lổ xây từ  thời Pháp thuộc. Hai đứa con gái mới rời ghế nhà trường, bỡ ngỡ, bơ vơ nơi xứ lạ. giữa những người mới gặp. Vì thế chúng tôi bám lấy nhau trong mọi sinh họat, học tập. Được một điều là chị Võ Thị Vui tiếp đón chúng tôi tận tình, niềm nỡ và săn sóc chúng tôi trong tình chị em. Chúng tôi đỡ lo trong khi ở tại Cục chờ đợi khóa huấn luyện quân sự bên trường Nữ Quân Nhân khai giảng. Sau khi hòan tất chương trình căn bản quân sự, chúng tôi về lại Cục Xã Hội để học chuyên môn tại trường Xã Hội/QLVNCH. Trong thời gian thụ huấn, chúng tôi may mắn tham dự Ngày Quân Lực 19-6 năm 1967 trên đường Thống Nhất.
Mãn khóa về lại Đà Lạt, tôi cứ tưởng sẽ trở về trường Võ Bị làm việc với chị Hiền. Lòng tôi nao nức vô cùng. Nhưng thật ngạc nhiên, trên tờ sự vụ lệnh, đơn vị mới của tôi lại là trường Chỉ Huy Tham Mưu. Được hân hạnh trình diện Đô Đốc Chung Tấn Cang đang là Chỉ huy trưởng và Trung tá Trịnh Xuân Nghiêm, trưởng khối CTCT, tôi được đưa về phòng xã hội khi đó còn đóng cửa vì chưa có nhân viên làm việc từ mấy tháng qua. Sau đó, người ta mới kể cho tôi nghe chuyện hai chị nữ trợ tá của phòng Xã Hội cùng quê Kiến Hòa ăn Tết Mậu Thân và không ai trở lại. Một chị thì bị việt cộng sát hại, một chị khác tên Xuân Hoa, thì vì quá sợ, đã không dám trở về đơn vị. Người Nữ trợ tá hy sinh tại Kiến Hòa chính là chị Xinh mà tôi đã gặp trước đây và có chút duyên gì đó chăng  mà tôi lại thay thế đúng vị trí của chị ở trường Chỉ Huy Tham Mưu.

15220249394_90fc6ea384_z


Ngày nay, trên mảnh đất tự do này, gần bốn mươi năm sau, tôi chợt nhớ đến chị để viết vài dòng ký ức, tưởng nhớ vong linh người mà tôi đã xem như hình ảnh thần tượng của thời niên thiếu mà tôi đã nối gót trên đường phục vụ quân ngũ và quê hương.
Còn bao nhiêu chị khác đã hy sinh hay đang âm thầm chôn chặt cuộc đời mình trong xã hội u ám của Việt Nam cộng sản? Cầu mong sao đất nước sớm thóat khỏi hồi đen tối, vãn hồi tự do dân chủ để những phụ nữ Việt Nam được sống xứng đáng làm người tự do, có nhân phẩm. 
Đặng Kim Hoa

Thursday, 22 September 2022

Sáu năm, dâu bể trùng phùng

 Huy Văn Trương

Chúng tôi gồm có vài trăm sĩ quan cấp úy của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đi trình diện học tập cải tạo theo lệnh gọi của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, tất cả tụ tập trong sân căn nhà kính của Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt.

Tôi đứng một mình trong góc sân, lặng lẽ quan sát cảnh mọi người gặp nhau tay bắt mặt mừng, chuyện trò nổ như bắp rang, họ thản nhiên vui vẻ nói chuyện cứ như là đang tham dự một buổi họp mặt, mừng ngày hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Trước khi đến đây, tôi tưởng chỉ có một mình tôi là sung sướng hạnh phúc, khi được đi học tập cải tạo mười ngày. Nào ngờ lúc nhìn thấy bầu không khí tưng bừng náo nhiệt của các vị sĩ quan cấp úy khi gặp nhau, tôi mới biết được là, mọi người đều có chung một tâm trạng giống như tôi.

Nhìn thoáng qua một vòng, tôi không thấy ai quen thân với mình, nhưng tôi lại biết mặt hầu hết các sĩ quan trình diện ngày hôm nay, bởi vì họ là những người dân của Đà Lạt. Trước khi vào lính những ông sĩ quan này phải là học sinh của Trường trung học Trần Hưng Đạo, trung học Việt Anh, trung học Trí Đức, trung học Bồ Đề, Lycée Yersin, hoặc là sinh viên của Viện đại học Đà Lạt. Nếu không là bạn học cùng trường với tôi, họ với tôi cũng đã từng gặp mặt nhau nhiều lần khi đi bát phố Hòa Bình.

Tôi đi vòng quanh sân với mục đích là tìm gặp những thằng bạn chung trường, chung lớp với tôi ngày xưa ở Trường trung học Trần Hưng Đạo, như là Nhân đầu bạc chẳng hạn. Tôi cần có một vài người bạn thân để chia xẻ ngọt bùi, để tối đến sau giờ học sẽ treo mùng gần nhau chuyện trò tâm sự, uống ly trà hút điếu thuốc.

Đúng hai giờ chiều, một anh cán bộ Việt Cộng mở cửa nhà, với giọng oang oang anh ta nói:

-Các anh tuần tự vào văn phòng nộp lại “Giấy chứng nhận”. Sau đó ra ngoài sân, sắp hàng đợi lệnh mới.

Mọi người ngoan ngoãn thi hành lệnh trong im lặng, trật tự. Khi vừa bước chân qua khỏi ngưỡng cửa của căn nhà, tôi choáng váng cả người như là bị điện giật, trước mặt tôi, ông Năm bánh xèo ngồi chễm chệ sau cái bàn làm việc, ông ta đưa mắt quan sát từng vị sĩ quan một, khi họ nộp lại tờ giấy chứng nhận. Đến lượt tôi, ông Năm bánh xèo cầm tờ giấy lật qua lật lại rồi đọc:“Nguyễn Trọng Quân”. Sau đó ông ta ngẩn nhìn tôi.

-Trung úy mạnh giỏi?

Tôi ngớ người, khi nghe câu hỏi phát ra từ miệng của ông Năm bánh xèo, đây là câu nói xã giao vui đùa, mà ngày xưa khi gặp tôi ông Năm thường hỏi.

Tôi ngập ngừng, nếu là ngày xưa câu trả lời của tôi sẽ là “Quá mạnh giỏi, còn chú Năm có khỏe không?”. Hôm nay thời thế đã xoay chiều, không còn là chuyện vui đùa của một ông bán bánh xèo và một trung úy nữa, mà là chuyện sống chết giữa một ông cán bộ của phe thắng trận và một trung úy hàng binh. Tôi lấy giọng, cố nói cho rõ ràng từng chữ.

Thưa ông, tôi khỏe.

Ông Năm bánh xèo với gương mặt nghiêm nghị, nhưng giọng nói lại giống như đùa.

-Mỗi dĩa bánh của trung úy tôi bỏ vô ba con tôm.

Tôi đứng chết lặng không dám nói một tiếng, không biết ông Năm bánh xèo đang đùa hay nói móc mình đây. Ngày xưa, khi ăn bánh xèo nơi quán của ông Năm, tôi luôn luôn giữ gìn tư cách của một người sĩ quan, không bao giờ phách lối hay làm bất cứ việc gì có thể làm mất lòng ông. Hơn nữa, tôi đâu có dại dột phá phách lôi thôi, để bị quân cảnh còng đầu. Khi xét thấy mình hoàn toàn không có làm điều gì sai trái với ông ta, tôi mạnh dạn nói.

-Cảm ơn ông.

Ông Năm bánh xèo chỉ vào góc phòng, nói mà như ra lệnh.

-Trung úy đợi tôi ở đó.

Quay sang người sĩ quan đang đợi nộp lại giấy tờ, ông Năm bánh xèo lên giọng.

-Người kế tiếp.

Tôi đứng một mình trong góc phòng, nhìn các vị sĩ quan nộp lại giấy tờ mà trong lòng đầy phập phồng lo sợ, không biết chuyện gì sẽ xảy đến cho mình.

Hơn nửa giờ trôi qua, chờ cho đến khi người sĩ quan cuối cùng bước ra khỏi phòng, ông Năm nói với tôi.

-Trung úy tới đây, tôi có cái này cho trung úy.

Tôi ngạc nhiên quá sức, một ông Việt Cộng nằm vùng thì có cái gì mà cho mình.

Cúi đầu lục trong cái xắc cốt một hồi lâu, ông Năm lấy ra một tấm hình.

-Tặng trung úy để làm kỷ niệm.

Tôi nhìn tấm hình màu khổ 6 x 9, rồi chợt nhớ ra đâu khoảng vài năm về trước, trong lúc tôi đang ngồi ăn bánh xèo, ông Năm đã nhờ một người khách, bấm cho tôi và ông một tấm hình. Chụp hình với ông bán bánh xèo chớ đâu phải với đào thì cần gì phải nhớ cho mệt óc, chụp xong tôi quên mất tiêu. Chuyện chụp hình hoàn toàn biến mất trong trí nhớ của tôi. Hôm nay lần đầu tiên tôi được thấy bức hình, trong hình tôi mặc bộ đồ tiểu lễ mùa hè, trên vai cặp lon trung úy màu vàng nổi bật trên nền nhung đen, thêm cái huy hiệu Trường Võ Bị Đà Lạt may nơi tay áo trái gần vai. Với chừng đó thứ cho dù người mặc bộ đồ trên, mặt mũi có xấu xí đến đâu, thoáng nhìn qua cũng thấy oai phong lẫm liệt. Ông Năm mặc áo sơ mi màu xám ngồi bên cạnh tôi, tay trái thân mật quàng qua vai, trông cứ như là bà con thân thích. Người lạ nhìn vào tấm hình, sẽ nghĩ đó là hai bác cháu, hoặc nếu không bác thì cũng phải là chú.


Đang miên man suy nghĩ, bất chợt tôi nghe giọng nói của ông Năm bánh xèo vang lên.

-Trung úy có biết tại sao Ngụy quân Ngụy quyền, bỏ của chạy thoát thân như một bầy vịt chạy đồng hay không?

-Thưa ông tôi không biết.

Ông Năm bánh xèo với giọng đắc chí.

-Cảm ơn trung úy nhiều, ngày xưa khi còn Việt Nam Cộng Hòa, tấm hình này là cái bùa hộ mạng của tôi, một đôi lần bị cảnh sát xét giấy tờ, dồn vào ngõ cụt hết phương vùng vẫy, tôi nhờ nó mà vượt qua nhiều cửa ải bố ráp của cảnh sát. Trên giấy tờ tùy thân, tuổi của tôi đã quá hạn phải đi quân dịch thế nhưng có tật giật mình, tôi sợ rằng nếu để mấy ông cảnh sát bắt về đồn để tiếp tục xét hỏi thanh lọc, sưu tra lý lịch có thể tôi sẽ gặp rắc rối. Với cái nghề “Vạch lá tìm sâu” biết đâu mấy tay mật vụ hay cảnh sát chìm sẽ mò ra cái gốc cán bộ nằm vùng của tôi, cho nên tôi chìa tấm hình ra rồi nói “Cháu của tôi là Trung úy An Ninh Quân Đội của Trường Võ Bị Đà Lạt, tôi là cậu của nó, là người Quốc Gia chân chính. Mấy ông có thể quay điện thoại vô Trường để kiểm chứng”.Tuy nói cứng như vậy nhưng biết mình là người xài tiền giả, tôi xuống giọng “Thưa mấy anh, cùng là anh em một nhà với nhau hết mà, tứ hải giai huynh đệ, mời quý anh khi nào rảnh ghé quán bánh xèo của tôi ở đường Tăng Bạt Hổ, tôi sẽ đãi quý anh một bữa no nê”. Khi nghe tôi nói như vậy lại có thêm tấm hình làm bằng chứng, ông nào cũng mềm lòng xét qua loa rồi cho tôi đi.

Ông Năm bánh xèo ngưng nói một lúc, rồi hỏi tôi.

-Ngày xưa, trung úy làm gì trong Trường Võ Bị?

-Thưa ông, tôi làm ở Phòng hành quân.

Ông Năm bánh xèo cúi đầu nhìn xuống, kéo hộc bàn lấy ra gói thuốc và cái hộp quẹt.

-Như vậy trung úy không thuộc diện ác ôn. Ngày hôm nay tấm hình này đối với tôi không còn giá trị nữa, tôi tặng lại cho trung úy, chúc trung úy học tập tốt, mau trở về với gia đình.

Tôi đang đờ người nghĩ, tại sao ông Năm giữ kỹ tấm hình như vậy, rồi bây giờ lại cho tôi. Mục đích của ông là gì? Vì suy nghĩ như vậy nên tôi lấy hết can đảm, liều mạng hỏi ông Năm.

-Thưa ông Cách mạng đã thành công, ông không sợ tôi dùng tấm hình này để lừa dối Cách mạng, như ông đã làm với các cơ quan an ninh của Ngụy hay sao?

Với nụ cười bí hiểm, ông Năm nói với tôi, giọng nói huênh hoang đầy tự đắc.

-Trung úy chỉ được cái lo bò trắng răng, địch vận là nghề của tôi mà.

Tôi cảm ơn ông Năm bánh xèo rồi đi ra cửa, trước khi cất tấm hình vào ví, tôi liếc nhìn phía sau. Cái tên Trần Chiến với chữ ký bằng bút nguyên tử nằm ngay góc trái đập vào mắt, khiến tôi lạnh cả gáy.


Bốn giờ chiều, chúng tôi được chất lên hàng chục chiếc GMC, bốn chục sĩ quan được nhét vô một chiếc xe, đứng sát nhau như cá đóng hộp. Không cần phải giải thích, mọi người đều hiểu rằng đây là những chiếc GMC của Việt Nam Cộng Hòa bỏ lại. Xe lăn bánh chạy dọc theo hồ Xuân Hương, qua cà phê Thủy Tạ, qua sân vận động rồi nhà ga xe lửa, một anh đứng phía trước sát với cabin xe, nhìn qua khe hở nhỏ tí xíu của tấm bạt.

-Chắc họ sẽ đưa tụi mình đến Trường đại học Chiến Tranh Chính Trị hay Trường Võ Bị Đà Lạt để học tập.

Được vài phút sau, một giọng nói khác vang lên.

-Xe đến ngã tư Phan Chu Trinh rồi các bạn, ủa mà sao lại quẹo phải. Đi đâu vậy?

Một vài tiếng xì xào bàn tán.

-Không lẽ xuống Phan Rang, dân Đà Lạt mà đem xuống Phan Rang để học tập, đi chi cho xa vậy?

Vì xe bị phủ bạt kín mít nên trong xe tối hù, không thấy rõ mặt nhau, nhưng tôi đoán chắc rằng gương mặt mọi người phải lo lắng băn khoăn ghê lắm. Khoảng mười phút sau, một giọng nói đầy mừng rỡ.

-Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến quý vị ơi, phải như vậy mới được chớ, đi đâu cho xa.

Chúng tôi xuống xe, được đưa vào những dãy nhà ngủ của khóa sinh Cảnh Sát Dã Chiến, phòng ốc ở đây rộng mênh mông, hai người một giường hai tầng. Sau khi ổn định chỗ ở đến phần phát cơm tối, mỗi người được lãnh một nắm cơm vắt to bằng trái cam. Đang sống sung sướng ở nhà, bữa cơm chiều đầy đủ cơm sốt canh nóng, chén bát đũa muỗng sạch sẽ, giờ đây đột nhiên mỗi ông quan tay bốc một cục cơm vắt lạnh ngắt, lòng dạ nào mà ăn cho được. Nhiều ông quan chê cơm nắm, cho rằng “Người quân tử chiếc chiếu trải không ngay, không ngồi” huống gì bốc cơm mà ăn như vậy coi sao được, bèn nhịn đói luôn cho được việc, họ đi ngủ với cái bụng trống rỗng. Ngày đầu tiên trong mười ngày học tập của sĩ quan cấp úy, trôi qua nhẹ nhàng êm đẹp. Chỉ còn chín ngày nữa là sĩ quan cấp úy chúng tôi sẽ trả xong nợ đời, món nợ không mượn mà phải trả.

Sáng ngày thứ hai của mười ngày học tập, nhiều người thức giấc khi trời còn mờ tối, lo làm vệ sinh cá nhân rồi chuẩn bị giấy bút sẵn sàng cho buổi học tập đầu tiên. Cũng vẫn là những gương mặt vui tươi hớn hở của ngày hôm qua, họ tụ tập trò chuyện với hy vọng tràn đầy. Mọi người chờ hoài chờ mãi, chờ cho đến trưa vẫn không được cho đi học, mà lại được hướng dẫn đi ăn cơm. Lệnh của cán bộ Việt Cộng, tất cả sĩ quan Ngụy đội hình di chuyển hàng một, mỗi người cách nhau một mét. Cứ khoảng vài chục mét lại có một anh bộ đội, súng AK mang trên vai đi ngoài hàng kiểm soát. Lội bộ chừng hơn vài trăm mét, chúng tôi đến nhà ăn, mỗi bàn một thau cơm, chút rau luộc, vài con cá khô. Mấy ông quan nhìn nhau lắc đầu ngao ngán, cố nuốt cho trôi hết chén cơm vì bụng đói. Sau bữa ăn, mọi người phải tự rửa chén đũa của mình, giữ lại để dùng cho lần tới.

Đang lui cui rửa chén và đôi đũa nơi bể nước gần phòng ngủ, tôi giật mình vì có ai đó vỗ nhẹ vào vai của tôi.

-Cũng biết rửa chén nữa hả trung úy?

Tôi quay đầu nhìn lên, Trung úy Lợi Công binh Trường Võ Bị Đà Lạt đang tươi cười nhìn tôi, nụ cười như là chế giễu.

Tôi nói với Trung úy Lợi.

-Gọi mày với tao cho quen, cứ trung úy với đại úy, Việt Cộng nó đì cho xói trán bây giờ.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày ở phòng nào?

Tôi chỉ cho hắn căn phòng tôi đang ở.

Trung úy Lợi nhìn theo hướng ngón tay trỏ của tôi.

-Chỗ mày còn giường trống không? Tao dọn qua ở với mày cho vui.

Tôi reo lên.

-Tao đang buồn vì không có bạn, gặp lại mày cứ như là “Tha hương ngộ cố tri”. Mày dọn qua lẹ lẹ lên, còn mấy cái giường bỏ không đó.

Trung úy Lợi sửa lưng tôi.

-Đừng có ăn nói tào lao, tao với mày đang ở tại Đà Lạt, trên đất nước của mình, tha hương cái nỗi gì. Mày phải nói là “Buồn ngủ gặp chiếu manh” mới được.

Tôi gật đầu.

-Mày nói phải, chiếu manh, chiếu cói, chiếu cạp điều hay chiếu gì cũng được, giờ thì mày làm ơn về phòng lấy hành lý đi, tao đợi mày tại phòng của tao.

Phải hơn một giờ đồng hồ sau, Trung úy Lợi mới đến, hắn đặt cái ba lô xuống đầu giường kế giường của tôi, cất giọng kể lể.

-Mày biết không, mọi người đều nói mặt mũi của tao coi cũng sáng sủa không đến nỗi nào, vậy mà tao làm chuyện gì cũng chậm lụt, khi di tản khỏi Trường Võ Bị Đà Lạt tao cũng chậm, rồi chuyện chạy trốn ra ngoại quốc tao còn chậm hơn, cho nên giờ phút này mới còn ở đây để gặp mày.

Tôi an ủi Trung úy Lợi.

-Mày tưởng tao ngon lắm chắc, tao còn đần hơn mày nhiều. Mà chuyện mày rời khỏi Trường Võ Bị Đà Lạt sau cùng là phải rồi, còn trách cứ gì ai, bởi vì nhiệm vụ của mày là đặt chất nổ phá hủy trường mà.

Tôi nhìn quanh, khi thấy không có ai tôi mới nói nhỏ vào tai của Trung úy Lợi.

-Tan tành hết phải không? Giống như cả chục phi tuần F 5 của mình dội bom chứ gì.

Trung úy Lợi với gương mặt thảm não.

– Trường Võ Bị Đà Lạt còn nguyên xi như mới, không chết một con kiến, cũng không hư một cục gạch.

Tôi ngồi đờ người ra.

-Mày nói láo cũng vừa thôi, chừng đó kí lô hợp chất C4 mà còn nguyên sao được. Công binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chứ đâu phải du kích Việt Cộng chỉ biết đặt mìn, đắp mô, phá hủy vài khúc đường rầy xe lửa.

Trung úy Lợi mồi một điếu thuốc.

-Mày có cà phê không? Tao thèm quá.

Tôi đùa với Trung úy Lợi.

-Có, mà tao để ở Trường Võ Bị Đà Lạt rồi, mày làm ơn nhớ giùm là tụi mình đang đi học tập chứ không phải ngồi ở cà phê Tùng hay cà phê Thủy Tạ. Nói cho tao biết, tại sao mày không cho nổ Trường Võ Bị Đà Lạt.

Trung úy Lợi rít một hơi thuốc, chậm rãi kể.

-Tối hôm đó, sau khi uống cà phê với mày tại Trung tâm Hành quân, tao cùng bốn ông lính công binh, là chuyên viên chất nổ, chạy xe dodge qua Nhà thí nghiệm nặng. Tại đây, vì còn dư quá nhiều thì giờ, tụi tao ngủ một giấc ngon lành chờ đến giờ hành động. Đúng chín giờ tối, tao bắt đầu cho đệ tử tháo dỡ hợp chất C4 xuống xe, lúc bấy giờ tao mới phát giác ra trong xe không có ngòi nổ với mấy cuộn dây dẫn điện.

Trung úy Lợi nhìn tôi.

-Mày biết không lúc đó tao tức điên người, giận đến nỗi run tay mờ mắt, chửi thề nhặng cả lên “Đù má, cuộn dây điện to như cái cối đá mà mấy ông nở lòng nào quên cho được, trước khi đi tôi đã kiểm soát lần cuối cùng, dặn tới dặn lui, ông nào cũng báo cáo đủ. Tại sao đến đây lại không có dây dẫn điện”. Một ông lính rụt rè nói với tao “Tại hấp tấp quá nên em quên”. Tao chụp cái ống liên hợp máy PRC 25 gọi về Đại đội Công Binh của trường. Gọi khan cả cổ mà không một tiếng trả lời, tao gọi máy về đại đội mà cứ như là gọi xuống âm ti, tức mình tao quăng mẹ nó cái ống liên hợp xuống ghế trưởng xa, chỉ vào hai người lính “Hai ông làm ơn lái xe dodge về đại đội lấy ngòi nổ và dây dẫn điện qua đây cho tôi, hai ông còn lại cứ tiếp tục công việc”.

Trung úy Lợi vứt cái tàn thuốc xuống đất, lấy chân giậm lên rồi nói với tôi.

-Mày biết rồi, từ Nhà thí nghiệm nặng đến Đại đội Công Binh khoảng chừng mười phút lái xe, vậy mà tao đợi hơn một tiếng đồng hồ vẫn không thấy tăm hơi của hai ông đệ tử. Tao cùng hai người đệ tử còn lại, ôm đống hợp chất C4 mà khóc ròng. Không máy PRC 25, không đặc lệnh truyền tin, không súng đạn, tụi tao như những thằng mù, điếc, câm. Đã hơn mười giờ rưỡi rồi mà tụi tao vẫn còn ở trong trường. Tao đoán rằng hai ông đệ tử của tao khi đến Đại đội Công Binh thấy cảnh vườn không nhà trống, mọi người đã chạy mất tiêu hết rồi, quá sức hoảng sợ cả hai bèn dọt luôn cho êm chuyện. Tao chỉ hơi buồn chút xíu là tại sao họ chạy mà đành đoạn bỏ thầy, bỏ bạn của họ ở lại. Mười một giờ đêm, khi biết chắc rằng hai ông lính của tao đã dông mất đất rồi, tao mới dẫn hai người lính còn lại chạy bộ ra khỏi trường. Ba thầy trò như những cái bóng ma vừa chạy vừa run, khi chạy ngang qua Vũ đình trường Lê Lợi, tao chỉ sợ lính của Tiểu đoàn An ninh chưa rút đi, còn đóng ở điểm kích 1511 phía sau lưng Đài Tử Sĩ tưởng mình là Việt Cộng thì bỏ mẹ, họ làm thịt ba đứa tao là cái chắc. Mày nhớ giùm tao, ban đêm di chuyển trong trường mà không biết mật khẩu, mật hiệu, kể như là chết chắc, chết chắc luôn. Cuối cùng sau mấy chục phút chạy muốn hụt hơi, mồ hôi đổ như tắm, tụi tao cũng thoát được ra khỏi cổng Lý Thường Kiệt, khu Chi Lăng vắng ngắt không một bóng người, dân chúng ở đây đã di tản tự lúc nào.

Trung úy Lợi nhìn tôi rồi nhắc lại.

-Trường Võ Bị Đà Lạt còn nguyên xi, không hư một cục gạch.

Tôi nói đùa với Trung úy Lợi.

-Như vậy là mày đã lập được công lớn với Cách mạng rồi.

Trung úy Lợi nghiêm sắc mặt.

-Đừng có nói giỡn, ở tù mọt gông đó mày, chuyện đặt chất nổ chỉ có tao với mày biết, tao là thủ phạm, mày là tòng phạm vì phối hợp kế hoạch với tao. Từ đây về sau, hai đứa mình cứ câm như hến là được, mày biết câu nói “Tai vách mạch rừng” rồi chớ gì.

Nhìn nét mặt đầy lo sợ của Trung úy Lợi, tôi nói.

-Biết quá đi chớ, nhưng tại sao đêm đó mày không gọi máy cho Trung tâm Hành quân?

Trung úy Lợi nhăn mặt.

-Trên đời này chưa có ai mà ngu như tao, máy PRC 25 cùng với đặc lệnh truyền tin tao đều để trên xe dodge, chuyện chết người là ở chỗ đó.

Những gì muốn biết, tôi đã biết rõ ràng tường tận. Tôi không muốn nghe Trung úy Lợi kể thêm về chuyện đặt chất nổ phá hủy Trường Võ Bị Đà Lạt trước khi di tản, nên chuyển đề tài.

-Dẹp mẹ chuyện đó qua một bên, mày đem thức ăn gì cho mười ngày.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày hỏi làm gì?

-Tao đề nghị hai đứa mình góp thức ăn lại, ăn chung cho vui.

-Mày nói nghe được, tao có năm lon thịt hộp với mấy gói mì. Còn mày có gì?

Tôi mở cái xách tay lôi ra hũ ruốc kho sả.

-Tao chỉ có chừng này.

Trung úy Lợi thắc mắc.

-Cái thứ gì trong đó?

Tôi cười với Trung úy Lợi.

-Ruốc thịt heo kho sả.

Trung úy Lợi dùng cả hai tay bưng cái hũ ruốc lên, miệng cười toe toét.

-Mẹ nó, làm gì mà mày đem theo cái hũ ruốc to quá mạng như vậy.

-Món này vợ tao làm, tao chê là nhiều quá nhưng vợ tao cứ nhét vào cái xách tay của tao.

Trung úy Lợi gật gù cái đầu.

-Mày lấy vợ được bao lâu rồi.

-Mới hơn một tháng.

-Chắc vợ của mày ghét mày lắm, muốn mày học tập ba, bốn tháng thay vì là mười ngày, cho nên mới làm cái hũ ruốc to như vậy. Nhưng mà không sao đâu, yên chí đi tao sẽ ăn phụ với mày.

Tôi và Lợi thân với nhau kể từ đó.

Một ngày ở Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến trôi qua lẹ như cái chớp mắt, ăn trưa xong chưa kịp làm gì đã đến cơm chiều, ngày hôm sau lại cũng cơm trưa, rồi cơm chiều. Mười ngày trôi qua cái vù, mọi chuyện vẫn giậm chân tại chỗ, không nghe nói gì đến chuyện học tập.

Gần như là tất cả mọi người đều bắt đầu thắc mắc bàn ra tán vào. Nhiều câu nói đầy ngờ vực được đưa ra.

-Nếu mai hay mốt bắt đầu học, như vậy chắc phải hai tuần nữa sẽ được về.

Một giọng nói hơi bi quan cất lên.

-Tao nghi phải một tháng quá.

Một anh có máu tếu trong người, vọt miệng.

-Chắc phải ba năm.

Nhiều tiếng ồn ào phản đối.

-Thằng nào nói ba năm đó, miệng mồm ăn mắm ăn muối, chỉ được cái nói bậy là giỏi.

Chuyện học tập mười ngày coi như không có, mọi người tuy không nói ra nhưng đa số đều tin rằng chắc cũng phải học tập vài tháng. Khi đã có được niềm tin, mọi hy vọng sẽ đến, nhờ vậy mà sinh khí trong trại vẫn còn.

Qua buổi sáng của cuối tuần lễ thứ ba, hàng chục chiếc GMC bít bùng chở chúng tôi đến chỗ mới, theo lời của cán bộ Cộng Sản là tạo điều kiện cho chúng tôi học tập tốt hơn. Mọi người lại hy vọng, lần này sẽ là Trường Võ Bị Đà Lạt, vì chỉ có nơi đó mới đầy đủ phòng ốc cho hàng ngàn sĩ quan chúng tôi học tập. Khi xe ra khỏi cổng Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến sẽ quẹo trái để về Trường Võ Bị Đà Lạt như mọi người dự đoán, thì đoàn xe lại rẽ phải. Một bầu không khí yên lặng chụp xuống, tất cả ngơ ngác nhìn nhau “Đi đâu đây hở Trời”.

Sĩ quan cấp úy chúng tôi, trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt, được đưa đến tập trung tại Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, ở đây khoảng hai chục ngày. Suốt thời gian nói trên, chúng tôi chỉ học được một bài học duy nhất là viết bản lý lịch trích ngang hay trích dọc gì đó, dài hàng chục trang giấy, trong đó khai rõ lý lịch ba đời của dòng họ nhà mình và cả ba đời dòng họ bên vợ, viết đi rồi viết lại, viết cho đến khi nào đạt yêu cầu mới thôi. Cái khó cho chúng tôi là không một ai biết Việt Cộng yêu cầu cái gì, cho nên đã hai chục ngày qua, chưa có ông quan nào viết được bản khai lý lịch đạt yêu cầu như Việt Cộng mong muốn. Cho dù đó là quan kỹ sư, quan bác sĩ, quan dược sĩ, quan tiến sĩ…cũng bó tay luôn.

Giã từ Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, đoàn xe GMC chở chúng tôi nối đuôi nhau giong ruổi trên con đường thiên lý, mãi cho đến chiều tối mới đến thị trấn Sông Mao thuộc tỉnh Phan Thiết, rồi ngừng lại tại trại gia binh của Trung đoàn 44, Sư đoàn 23 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa.

Đến đây tôi biết được một điều, chuyện học tập mười ngày đã trở thành chuyện cổ tích.

Theo lời của cán bộ quản giáo nói với tất cả sĩ quan cấp úy, để cho việc học tập được dễ dàng, đạt kết quả tốt, trại học tập phải được tổ chức theo lệnh trên.

Về nhân sự cũng như nơi ăn chốn ở, Trại học tập cải tạo Sông Mao, Phan Thiết, được chia ra làm ba Trại phân biệt rõ ràng: Trại A giam giữ sĩ quan Ngụy có cấp bậc đại úy, Trại B trung úy và Trại C thiếu úy.

Tôi ở Trại B trung úy, nên không biết rõ tổ chức của Trại A đại úy và Trại C thiếu úy như thế nào. Tôi chỉ biết rằng Trại B trung úy của tôi, được chia làm năm khối: Khối 1 Lâm Đồng, Khối 2 Bình Tuy, Khối 3 Ninh Thuận, Khối 4 Bình Thuận và Khối 5 Đà Lạt. Trước năm 1975, sĩ quan cư ngụ ở tỉnh nào sẽ về khối đó. Khối Đà Lạt của tôi có sáu tổ, mỗi tổ có mười sáu người, bắt đầu từ tổ 37 cho đến tổ 42. Như vậy toàn Khối 5 Đà Lạt có tổng cộng khoảng chín mươi sáu sĩ quan cấp trung úy. Khối sẽ có khối trưởng và khối phó, tổ sẽ có tổ trưởng và tổ phó điều hành, những vị sĩ quan này đều có thân nhân đi theo cách mạng khi khai lý lịch. Họ được cách mạng chỉ định giữ những chức vụ trên.

Khối trung úy Đà Lạt của tôi ở trong hai dãy trại gia binh nằm đối diện, cách nhau bởi một cái sân rộng, một dãy nhà gồm có nhiều căn. Cứ tám người ở trong một căn nhà bề ngang khoảng bốn mét, chiều dài chừng mười mét được chia làm ba phần: nhà trước, nhà bếp, phía sau là nhà vệ sinh và phòng tắm. Tường xây gạch, loại gạch đúc bằng xi măng có lỗ hổng ở bên trong, mặt tường không có tô hồ, mái nhà lợp tôn. Nhà có phòng tắm nhưng không có nước, sông Mao là vùng đất bán sa mạc, về mùa nắng giếng khô cạn cho nên mỗi tuần một lần, tù cải tạo được dẫn lên đập nước cách trại chừng vài cây số để tắm rửa và giặt quần áo.

Sau vài ngày xáo trộn lúc ban đầu, cuộc sống của tù nhân dần dần ổn định, 6 giờ sáng khi tiếng kẻng báo thức đánh lên, mọi người phải ra sân tập thể dục tập thể đúng mười lăm phút, sau đó vệ sinh cá nhân, lãnh phần ăn sáng để chuẩn bị 7 giờ đi làm lao động.

Sáng hôm nay, Tổ 37 của tôi đang sửa chữa hàng rào kẽm gai, ngay nơi cổng ra vào của Trại trung úy. Đám tù nhân chúng tôi phải làm lại hàng rào cho kiên cố hơn để giam giữ mình. Một ông cán bộ Cộng Sản nói với chúng tôi “Các anh đòi kềm, búa, kéo cắt sắt, bao tay để làm việc phải không? Trước đây chiến sĩ cách mạng tay không còn đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào. Hôm nay sĩ quan Ngụy các anh chỉ có làm cái hàng rào kẽm gai sơ sài như thế này mà đòi hỏi lung tung. Cách mạng còn nghèo không có những thứ ấy, các anh phải khắc phục khó khăn để hoàn thành công tác.”

Chúng tôi với tay không, cố gắng làm cho xong lớp hàng rào thứ nhất, sau đó đến lớp hàng rào thứ hai, rồi lớp thứ ba. Mặt trời lên khá cao chiếu ánh nắng chói lòa xuống đầu lũ tù, tôi đưa tay áo lên quẹt bớt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán.

Trung úy Lợi đưa bình nước cho tôi.

-Nhắp một chút cho đỡ khát đi mày.

Tôi cầm cái bi đông nước, mà mắt không rời một đám người đang tiến về trại. Hàng trăm người chứ ít ỏi gì, tất cả đều mặc bà ba đen, chậm rãi di chuyển, trông họ giống như là đang cố lê bước chứ không phải là đi. Khi đoàn người đã đến gần, có thể trông rõ mặt, tôi chợt rùng mình nhìn lại mình, hơn hai tháng rồi bọn tù chúng tôi tuy có ốm đi nhưng vẫn còn mạnh khỏe, vẫn còn đầy đủ hình hài vóc dáng của một con người. Đám người mới tới trông như là những bộ xương biết đi, những gương mặt tái mét vàng ủng, chỉ còn da bọc xương, đôi mắt lờ đờ lạc thần như những cái xác chết.

Một người trong Tổ 37 của chúng tôi lên giọng hỏi.

-Ở đâu tới vậy?

-Cà Tót.

Ba, bốn thằng Đà Lạt ngơ ngác nhìn nhau.

-Có thằng nào biết Cà Tót ở đâu không?

-Hình như là ở trong mật khu Lê Hồng Phong.

Một giọng cằn nhằn.

-Phải không đó, đừng có đoán mò nghe cha nội.

Cà Tót, cái địa danh lạ hoắc mà từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ nghe đến. Tôi nhìn đám tù mới với đôi mắt thờ ơ, vì biết rằng mình không có quen ai trong nhóm. Tôi định quay người tiếp tục làm việc, bất ngờ một người hai tay chống gậy, chầm chậm đi đến bên tôi.

-Quân bắp cải phải không?

Tôi ngớ người ra, cái biệt danh Quân bắp cải của tôi khi còn ở Quân trường Thủ Đức, chỉ có Biên, Long công tử và một số ít bạn bè trong đại đội cùng khóa với tôi biết mà thôi. Biên đã chết rồi, người trước mặt tôi có thân hình giống như là cái xác chết, nhất định không phải là Long công tử. Tôi nhìn kỹ người gọi tôi một lần nữa, trước mặt tôi là một bộ xương khô dơ dáy bẩn thỉu, người không ra người, ngợm không ra ngợm, hai con mắt của hắn thụt sâu vào như hốc mắt của cái đầu lâu, tóc tai rụng gần hết chỉ còn lưa thưa vài cọng, hai bàn tay gầy trơ xương nắm chặt lấy cây gậy đang chống xuống đất, hai bàn chân không giày không dép, dính đầy đất bùn, cả thân hình của hắn được che bởi bộ đồ bà ba đen rộng thùng thình. Tôi hoàn toàn không biết được gã tù đứng trước mặt mình là ai. Tại sao hắn lại biết cái tên Quân bắp cải.

Tôi hỏi hắn.

-Mày là ai? Sao biết tên tao?

Bộ xương không trả lời, vất cây gậy xuống đất rồi đưa cả hai tay ôm lấy mặt tôi, nước mắt từ trong cái hốc mắt vô hồn của hắn chảy tràn qua làn da đen sạm nhăn nheo, lăn dài trên đôi gò má hóp.

-Bắp cải à, mày không nhìn ra tao sao?

Tôi lắc đầu, hỏi lại hắn một lần nữa.

-Mày là ai? Cùng chung Đại đội sáu mươi hai với tao ở Thủ Đức phải không?

Cái thây ma trước mặt tôi thều thào.

-Tao là Long công tử đây.

Cái tên Long công tử lúc bấy giờ mới thực sự trở về trong đầu của tôi, kéo theo cả một dĩ vãng vàng son một thuở, đánh thức luôn thính giác của tôi. Thêm vài câu trò chuyện trao đổi, tôi nhận ra giọng nói ngọt ngào đầy tình cảm của Long công tử, đúng là giọng nói của hắn vào những ngày xa xưa khi tụi tôi còn ở quân trường Thủ Đức. Trong trường hợp này, tôi có mắt cũng như mù, thị giác của tôi có cũng như không, vì gương mặt và hình dáng bề ngoài của Long công tử đã thay đổi, khác biệt hoàn toàn với ngày xưa. Dang rộng hai cánh tay, tôi ôm lấy bộ xương mà nước mắt của mình chỉ chực tuôn tràn. Mắt của tôi mờ đi như bị bao phủ bởi một màng sương mỏng, tôi nói với giọng nói nghẹn ngào trong cổ họng, nhiều lúc tưởng như bị hụt hơi.

-Long công tử, mày làm gì để đến nỗi thân tàn ma dại như thế này, sáu năm hơn rồi phải không, kể từ ngày tao với mày rời xa đồi Tăng Nhơn Phú, sáu năm dâu bể đổi thay, đâu ngờ hôm nay tụi mình lại gặp nhau trong cảnh đọa đày đau xót, trùng phùng trong tù ngục thê lương bi thảm như vầy.

Long công tử đưa tay rờ tai, mắt, mũi của tôi, nó dùng mấy ngón tay chỉ còn da bọc xương với móng tay đầy cáu ghét, bẩn thỉu, lau mấy giọt nước mắt trên má của tôi.

-Mày chỉ thay đổi chút ít, không còn sữa nữa rồi.

Thương thằng bạn ốm đói, lòng đầy hoang mang, không biết Long công tử có được ở chung trại B trung úy với mình hay không, tôi vỗ nhẹ vào lưng của nó.

-Nói cho tao biết ngày ba mươi tháng tư, mày là đại úy hay trung úy.

Long công tử hỏi lại tôi.

-Mày hỏi cấp bậc của tao để làm gì?

Tôi từ tốn giải thích.

-Nếu mày còn là trung úy thì tụi mình sẽ được ở chung một trại, còn nếu là đại úy, mày phải qua trại khác.

Long công tử dịu giọng.

-Tao là trung úy.

Tôi mừng rỡ ôm chặt lấy hắn.

-Vậy là tụi mình được nhốt chung một trại rồi.

Nguồn: https://baovecovang2012.wordpress.com/2022/05/11/dau-be-trung-phung/9/