"Mả Đáo Thành Công, Kỳ Khai Đắc Thắng"

Giáp Ngọ, ngựa hí rền vang
Toàn dân vùng dậy ngút ngàn uy linh
Tiến về dẩm nát Ba đình
Lăng tên đồ tể máu tanh gióng giòng.
Cờ vàng bay rợp non sông
Khải hoàn ca khúc khai dòng tự do
Đồng hương bốn bể hẹn hò
Ngày về cố quốc dưới cờ vinh quang@

Trúc Giang






Vùng lên giẫm nát loài cường khấu Đứng dậy đập tan lũ bạo quyền

'"STOP EXPANDING TRADE WITH VIETNAMESE STATE-OWNED COMPANIES AT THE EXPENSE OF HUMAN RIGHTS"

CỘNG SẢN CÒN THỐNG TRỊ QUÊ HƯƠNG, TA CÒN PHẢI ĐẤU TRANH

" The Vietnamese communist regime must stop the sex trafficking of women and children under the disguise of government plans of "Exporting Overseas Labour". "

Dân tộc còn ngồi yên, CS còn đè đầu cởi cổ. Khi nào dân tộc đứng lên ắt ngày đó CS phải sụp đổ.

"The Vietnamese communist regime must stop the religious oppression and persecution of the Hoa Hao, Cao Dai, Christian, Catholic and Buddhist faiths immediately."

VGCS chỉ thay đổi hình thức để bịp thế giới văn minh, nhưng bản chất tội ác của bạo quyền không hề thay đổi .

"The Vietnamese communist regime must release all prisoners of conscience as well as all political prisoners immediately."

NGƯỜI SỐNG VÌ LÝ TƯỞNG TỰ DO, DÂN CHỦ ,HẠNH PHÚC CỦA TỘC VIỆT

"STOP EXPANDING TRADE WITH VIETNAMESE STATE-OWNED COMPANIES AT THE EXPENSE OF HUMAN RIGHTS"

Ngày nào cộng sản còn nắm quyền cai trị đất nước, thì ngày ấy người Dân Việt còn thống khổ lầm than

"The Vietnamese communist regime must stop all forms of oppression and cease taking land from its people and trading it to foreign nations for its own financial gain."

Friday, 15 August 2014

Tin vui cộng đồng: Lễ thăng cấp chuẩn tướng Lương Xuân Việt

Cùng Mừng Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt
Trong cổ sử thế giới, có dân tộc Do Thái quyết thoát khỏi kiếp sống nô lệ, liều mình di tản, vượt biền ra khỏi Cổ Ai Cập của các pharaons. Dân tộc này sau bao trăm năm lưu lạc, đến Thế Chiến Thứ Hai kết thúc, được Liên Hiệp Quốc cho trở về Đất Hứa, lập ra quốc gia Do Thái. Trên đường lưu vong, bôn ba nơi hải ngoại, dân tộc Do Thái để lại những kinh nghiệm, cả một túi khôn, được Ky tô Giáo lấy làm Kinh Cựu Ước. Trên đường trở về cố thổ, cố quốc, nhiều người gốc Do Thái ở các nước, giáo sư danh tiếng các trường đại học nổi danh trên thế giới, khoa học gia, luật sư, bác sĩ, kỹ sư, thương gia từ bỏ danh vọng, tiền tài ở các nước tiền tiến trở về cố quốc, tình nguyện làm làm xã trưởng, trưởng ấp, coi trạm y tế nông thôn, ngân hàng nông thôn, người linh gác giặc khiêm tốn, nhưng cương quyết và tận tâm xây dựng nước non nhà. Quân đội Do Thái nỗi danh chiến tranh thần tốc. Tình báo Do Thái nỗi danh hữu hiệu. Nền Dân Chủ Do thái kết họp hài hoà giữa nhu cầu an ninh quốc gia và quyền tự do của dân chúng. Biến Do Thái trở thành một quốc gia dân tộc sống mạnh, sống hùng giữa thế giới hận thù Á rập làm cho Mỹ và Tây Phương nể trọng, coi Do Thái là một tiền đồn, một căn cứ địa, một vết dầu loan không thể thiếu được ở Trung Đông.


Trong lịch sử cận đại của thế giới, có một thành phần lớn của quốc gia dân tộc Việt di tản ra khỏi nước, sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 Cộng sản chiếm được Việt Nam Cộng Hoà ở Miền Nam, từ Bến Hải đến mũi Cà Mau. Đó là những người Việt Quốc, đa số là quân dân cán chính của VNCH mà CS Bắc Việt chụp cho cái mũ “nguỵ quân, nguỵ quyền”, CS tịch thu nhà cửa đất đai phát cho cán bộ CS ngoài Bắc vào và trong bưng biền ra. Quân nhân, công chức, cán bộ VNCH, thì CS bắt đi tù cải tạo không cần xét xử cũng không có ngày ra, đa số cả chục năm tù lao động khổ sai, biệt xứ. Gia đình, xã hội VNCH thì CS cướp của sau mấy cuộc đổi tiền, đánh tư sản, đuổi đi kinh tế mới, không điện nước, không trường học nhà thương.
Một số tìm cái sống trong cái chết, đi vượt biên, bằng đường thuỷ, đường bộ. Nguy hiểm ngàn lần hơn người Do Thái. Đông nhiều lần hơn dân tộc Do Thái trong cổ sử. Người Việt tỵ nạn CS mười phần chết bốn còn sáu trên đường vượt biên làm rúng động lương tâm Nhân Loại, rúng động lòng nhân dân và chánh quyền Mỹ. Liên Hiệp Quốc mở chiến dịch cứu người Việt tỵ nạn CS bằng thuyền nan vượt đại dương. Mỹ từng là đồng minh của VNCH dan tay ra cứu khổn phó nguy, nhận lãnh bảo bọc đem về Mỹ cho người VNCH tỵ nạn CS định cư. Nhận nhiều nhứt, nhận tất cả quân dân cán chính VNCH và thân nhân đem về Mỹ giúp định cư làm lại cuộc sống mới.

Có thế nói làn sóng di tản, tỵ nạn CS đại đa số là thành phần ưu tú của VNCH, quân dân cán chính, có đầu óc phiêu lưu, có tinh thần quốc gia dân tộc, có học vấn, nên sau chưa đầy 30 năm cha mẹ cực khổ lo cho thế hệ một rưỡi và hai đến Mỹ vào tuổi học trò hay sanh tại Mỹ vào những năm đầu, lớp người hậu duệ đã chứng tỏ cho cộng đồng người Việt thấy con hơn cha là nhà có phước, sau hơn trước đất nước có phần. Chứng tỏ cho người Mỹ thấy người Mỹ gốc Việt là sắc dân ơn đền nghĩa trả. Sau non 30 năm, hậu duệ của người Việt Quốc gia tỵ nạn CS đã góp một bàn tay vào kinh tế, chánh trị, quân sự của Mỹ. Vào Hạ Viện liên bang, tiểu bang lớn của Mỹ, vào làm Thứ Trưởng Bộ Tư pháp Liên bang.

Và mới đây ngày 6 tháng 8 năm 2014, một người Mỹ gốc Việt nằm trong số cả nhiều ngàn quân nhân Mỹ gốc Việt trong Quân Lực Hoa Kỳ, được vinh thăng Chuẩn Tướng, Chuẩn Tướng Lương xuân Việt, làm Phó Tư Lệnh Đặc Trách Hành Quân của Sư đoàn I Thiết kỵ. Đây là lần đầu tiên một người Việt tỵ nạn được ghi tên trong hàng tướng lãnh trong quân sử Hoa Kỳ. Một chức vụ quân sự phải qua một cuộc xét duyệt nghiêm minh của quân đội và các giới chức chánh tri của Hành Pháp lẫn Lập Pháp.
Hàng mấy triệu người Việt ở hải ngoại trong đó có trên hai triệu ở Mỹ, rất vui, cùng mừng, thấy một người gốc Việt đã được Mỹ đệ nhứt siêu cường quân sự tin tưởng tài thao lược, lòng trung kiên. Càng mừng hơn khi thấy người Việt đi xa cách quê nhà nửa vòng trái đất mà vẫn bão tồn tinh thần văn hoá Quốc Gia VN. Đối với đất nước định cư, Chuẩn Tướng Việt đem những ngày hoa mộng của đời mình vào quân đội Mỹ để đền ơn đáp nghĩa đất nước, nhân dân và chánh quyền Mỹ đã cưu mang gia đình cha mẹ và mình cũng như hàng triệu người Việt Quốc Gia sau ngày CS Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam. Đó là cách trả ơn ý nghĩa nhứt, sâu sắc và cao cả nhứt.

Đối với nước nhà VN và gia đình, tuy Chuẩn Tướng Việt đến Mỹ lúc mới 10 tuổi, là một bé trai trong một gia đình quân nhân VNCH có bảy chị em gái. Dù ăn học ở Mỹ từ tiểu học đến đại học và hậu đại học, xuất thân thiếu uý Mỹ, Chuẩn Tướng Việt vẫn thấm nhuần tấm gương của thân phụ vốn là một Thiếu tá Thủy quân Lục Chiến Quân lực VNCH lấy phương ngôn Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm làm phương châm hành động.

Trước gia đình và hàng trăm đồng hương Mỹ gốc Việt ở các tiểu bang “cơm ghe bè bạn” đến dự ở Cooper Field tiểu bang Texas nơi tổ chức gắn lon; trước Trung Tướng Mark Milley, Tự lệnh quân đoàn III, chỉ huy trưởng căn cứ Fort Hood, đại diện cho quân lực, chủ toạ và chủ lễ đeo dây truyền thống truyền thông Thiết Kỵ, giúp ông Chuẩn Tướng Việt tuyên thệ dưới cờ, và gắng cấp bực tướng cho Anh, tin đài RFA ngày 07.08.2014 cho biết. Trong bài diễn văn nhận chức, xin trích, “Chuẩn tướng Lương Xuân Việt nhắc lại truyền thống này một cách tự hào và cũng không quên cám ơn đồng ngũ với cha của ông, người từng mang trên người trọng trách bảo vệ quốc gia như ông đang làm trong vai trò một tướng lãnh: "Nhìn những bộ quân phục lòng tôi thật bùi ngùi xót xa. Những người đã làm con tim tôi rung động vì ba chữ Danh dự, Trách nhiệm, Tổ quốc và những ý nghĩa của các câu dặn dò do cha ông để lại như. “Nam quốc sơn hà nam đế cư”… Chính là thân phụ tôi, đồng đội của các anh, vì vậy ngọn lửa trong tim tôi lúc nào cũng hướng về đất mẹ dù đã 30 năm xa cách. Không có sự hy sinh xương máu của các anh thì chúng tôi chắc chắn không có ngày hôm nay. Tổ quốc mãi mãi ghi ơn, vì vậy tôi xin các anh nhận cái chào của tôi!"./.

Vi Anh
Ngày hôm qua 06/8 Lễ thăng cấp cho Tân Chuẩn tướng Lương Xuân Việt đã diễn ra tại Đại bản doanh Sư đoàn I Thiết kỵ - Quân lực Hoa Kỳ.
Lễ thăng cấp của tân Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt có một ý nghĩa đặc biệt đối với cộng đồng gốc Việt trên khắp Hoa Kỳ. Và cũng là niềm hãnh diện của quân đội trong đó binh sĩ mọi cấp không tuyên thệ trung thành với một lãnh đạo nào, một thể chế nào; họ chỉ có một lý tưởng: Bảo vệ tự do - tự do cho người dân Hoa Kỳ và cho cả thế giới.


Thà ở tù ở Mỹ còn hơn sống ở nước Nga!




Edward Snowden: Traitor or HeroTay đào tẩu Edward Snowden của Hoa Kỳ tuy mới được chính phủ Nga cấp thêm quy chế tạm dung 3 năm nữa, nhưng vẫn bày tỏ mong ước được trở về quê hương, dù có phải vào tù.
 Cali Today News -Trong cuộc phỏng vấn với tuần báo WIRED magazine được công bố hôm thứ tư 13/8, Snowden nói: “Tôi đã nói với chính phủ Hoa Kỳ là tôi tình nguyện vào tù, miễn là việc này có mục tiêu chính nghĩa, thật ra tôi lo lắng cho quê hương tôi nhiều hơn là lo cho bản thân”.

Snowden còn dạy đời như sau: “Nhưng chúng ta không được cho phép luật pháp trở thành vũ khí chính trị hay để hù dọa người ngay thẳng, những kẻ chỉ luôn làm điều đúng”.

Snowden hiện đang ẩn náu tại một nơi không được tiết lộ ở Nga, nhưng anh ta cho hay khi ra ngoài, dân chúng trong vùng không để ý đến anh ta.

Snowden cho là con số 1.7 tài liệu mật mà Washington tố cáo anh ta tiết lộ là ‘đã bị thổi phồng quá đáng’. Snowden có để lại chi tiết cho các nhà điều tra biết loại tài liệu nào anh ta đã sao chép và loại nào chỉ ‘đụng đến’ mà thôi.

Tờ tuần báo WIRED còn công bố nhiều tấm ảnh chưa từng được đưa ra từ trước đến nay, trong số này có cả những tấm ảnh Snowden chụp chung với cựu Giám Đốc NSA và CIA là ông Michael Hayden và một tấm ảnh Snowden mặc áo T-shirt có hàng chữ ‘Secutity’ in lớn phía sau lưng.


DH gop y’
Còn anh Hasan nữa , Hiện nay anh có sống thoải mái trong căn phòng nhỏ hẹp của sứ quán Equador. Anh đã bị lên án vì cưỡng hiếp phụ nữ,
vậy cả 24 tháng nay anh đâu có gái mà giải quyết con heo lòng ,
anh tính làm sao đi chứ
Dù bĩ Mỹ bắt giam, nhưng còn có ngày ra tù được tù ti tú ti

Dân Muốn Biết : Tại sao Tàu “đánh” 3X??

Tại sao 3X “xì ra hết” những thông tin bất lợi (cho CSVN) về nền kinh tế Việt Nam?

Anh Châu hỏi tại sao?

Mấy hôm nay trên trang CXN có bài của chủ blog là anh Châu Xuân Nguyễn thắc mắc tại sao dạo này 3X “xì tất cả” những điều bất lợi cho đảng CSVN như chính phủ quyết không cho phá sản, như hệ thống kê GDP toàn sai/láo, như ngân hàng phải phải sát nhập lại không thì sập hết, như 70% nợ có khả năng mất vốn... và, có thòng lọng treo trên cổ 3X...?

Và Anh châu đưa ra ba lý do:

“1. 3D biết hết đường bưng bít, phải nói ra trước khi cả hệ thống sụp đổ để không ai bất ngờ.

2. Gửi thông điệp cho DCS biết là tình hình tệ hơn cả đống kít, nếu đẩy tao hay phe cánh tao ra đi là bọn bây sẽ ôm hận ngàn thu.

3. Hết cứu vãn nữa thì tốt nhất nên để 90 triệu người biết sự thật.”

Tôi cũng nghĩ như nhiều bác đã còm, rằng đó là nguyên nhân thứ 2: 3X đang cảnh báo phản công với phe 2L+4S, nhưng lần này 3X đối diện phe bảo thủ mạnh hơn nhiều vì được 3Tàu vừa quân sư vừa hỗ trợ trực tiếp chống lưng, trong khi Mỹ cũng làm ngơ 3X... Thật là 3X đang tứ bề thọ địch: trong nước là phe 2L+4S, ngoài nước là cả 3 Tàu và cả Mỹ, còn sau lưng là nền kinh tế đã mục rỗng do chính 3X tạo nên cùng mối nguy nó sẽ sớm sập và dân sẽ vùng lên...

Tức là: đúng thế, và còn hơn thế nữa...

Tại sao nói Mỹ đang “lờ” 3X?

Tại sao nói Mỹ chống 3X? Không hẳn là chống, mà Mỹ chỉ tạm bỏ qua 3X thôi. Mỹ chỉ quan tâm nói chuyện với ai có súng đạn thật (nắm quân sự, quốc phòng) ở VN để liên kết đối lại với TQ thôi. Mà sau vụ 981 vừa rồi, Phùng Quang Thanh Ú đã cầm quân đội VN chạy theo 2L+4S và 3 Tàu ở Shangrila mất rồi, làm 3X mất súng đạn, chỉ còn dao găm và thuốc nổ (và mắm tôm, bao cao su...) của Trần Đại Quang (cũng có vẻ bị sứt mẻ hao hụt đi vì vụ Bình Dương/Hà Tĩnh rồi), nên Mỹ dù bị Phạm Quang Nghị vô văn hóa ngoại giao chửi xéo bằng tấm hình hồ Trúc Bạch đểu, vẫn cử TNS John Mc Cain vào VN ngay chỉ để nói chuyện với phe 2L+4S về VKST thôi, nhắc thêm về yêu cầu Nhân quyền, quên hẳn TPP của 3X rồi... (hẹn đợi 12-18 tháng tới - tức sau ĐH12, không biết lúc đó 3X có còn là “thủ”?…)

Người Mỹ đúng là quân tử vì đại cục, như Tàu hay nói về mình nhưng làm thì ngược lại, mà người Việt ta thường gọi là thực dụng vậy. Tôi kính nể phục ông John Mc Cain!

Tại sao Tàu “đánh” 3X?

Tại sao nói 3 Tàu cũng "đánh" 3X? Là vì 3X đã nói 3Tàu "viển vông", 3X đã đòi kiện 3Tàu, và 3X định cử Phạm Bình Minh sang bàn chuyện liên kết với Mỹ chống 3 Tàu... Tức là, 3X đã phạm cả 3 trong 4 điều cấm của 3 Tàu với CSVN - mà tất cả chỉ bằng miệng lưỡi, là: chủ quyền viễn vông (nói quan hệ với TQ viễn vông thì TQ coi như 3X nói chủ quyền của TQ là viễn vông vậy), kiện 3 Tàu ra tòa QT (3X dám hả?!) và 3X định kéo bên thứ ba (Mỹ) vào BĐ hả?!... Thế là 3Tàu (qua (Dương Khiết Trì) lệnh cho 2L+4S ra tay giữ Phạm Bình Minh lại cho Nghị đi thay sang Mỹ ngoại giao chửi Mỹ, nhưng hé cửa đòi VKST - “nếu không chúng tao thực hiện HN Thành Đô - theo về TQ hoàn toàn, vì quân đội chúng tao nắm rồi (bọn nó thề trung với đảng mà), công an cũng nắm gần hết (bọn này biết rõ còn đảng còn mình mà)... Rồi 3 Tàu lại ra lệnh không được kiện nên bộ CT CSVN đã bỏ phiếu 9/7 không kiện, và cuối cùng, phe 2L+4S bịt mồm "viễn vông" của 3X bằng việc giơ cao cái "thòng lọng trách nhiệm" về nền kinh tế mà 3X không thể đùn cho ai được. Cái thòng lọng đó là: 3 Tàu đang “đả hổ bắt rồng” thì CSVN cũng sẽ phải "chọc mèo bắt rắn" chứ? Mà ở VN hiện nay thì có con mèo ăn vụng hay con rắn cắn trộm nào mập và độc hại hơn 3X và bầy đàn đây?... Thế là 3X có nguy cơ “lên thớt”… lần này do 3 Tàu mài dao.

Tại sao 3X chịu trận?

Suốt cả tháng qua, tại sao 3X chịu bị “đảng” lật ngược cả 3 thứ 3X đã "hứa hẹn hiên ngang trước thế giới" trên mà không dám làm gì? Bởi vì, 3X là thủ tướng của đảng, vẫn do đảng phân công chứ có tài cán gì đâu, hay có vì dân hay Cuốc hội tin cậy bầu lên đâu? Tự 3X đã nhận thế mà.

Và vì, còn một nguy cơ nữa là Cuốc hội của Hùng hói cũng theo đảng bảo lưu sẽ bỏ phiếu tín nhiệm 3X và bộ sậu lần nữa vào đầu 2015 tới trong quá trình chọn lọc nhân sự cho ĐH 12 đầu 2016 sắp cận kề. Phen này, có vẻ 3X khó mua phiếu hơn kỳ HN TƯ6 năm 2012 (không phải vì 175+25 UVTƯ dễ mua bằng cục gạch triệu đô hơn 498 nghị gật, mà vì 3X không biết chọn "mua" ai đây vì họ đâu phải quan đầu ngành nghễu nghện như các UVTƯ cả...?! Mà bỏ ra 500 cục gách triệu đô thì 3X gửi cho con gái đi đẻ bển hết rồi…) Thế cho nên, đợi đến bỏ phiếu tín nhiệm tới mà không có 500 cục gạch đi trước là nguy, 3X đành phải chuẩn bị phản công trước!

Y tá du kích miệt sông ngòi đâu dễ chết trôi!

Vì thế nên mới xuất hiện không chỉ 5 biểu hiện 3X "xì ra hết" trong nước vừa qua mà anh Châu đã nhận ra và thắc mắc tại sao, mà một loạt các bloggers tay chân 3X trong và ngoài nước đang "đấu tranh dân chủ" cho 3X cũng đã đồng loạt lên tiếng, hành động phối hợp cứu 3X như Kami, Phạm Chí Dũng... và nhiều kẻ khác. Họ cũng đã và đang "xì ra" nhiều thứ thối um khác để dọa phe 2L+4S đấy chứ! Như Phạm Chí Dũng dọa mất TPP (làm sao có được mà mất!), như Kami dọa mất cơ hội liên minh với Mỹ (mà 3X hay CSVN chưa bao giờ có cửa hé...)

Con thú sắp bị dồn đến đường cùng?

Hơn thế nữa, theo tôi, đó chưa phải 3X đã "xì ra hết", mà mới chỉ là màn dạo đầu - "xì hé ra" để dọa đối thủ thôi, rằng: "Nếu dồn tau vào đường cùng là tau phòi ra hết đó! Tau là quân tử cà mâu chớ bộ!" Và vì thế, sắp tới, tức 3-6 tháng tới, mới là trò diễn hay độc của "quân tử xà mâu"! Lâu lắm thì là dịp 12-18 tháng tới khi ĐH12 bắt đầu sôi sùng sục, có khi sẽ nổ tung cái đảng CSVN...

Vậy 3X còn gì để nói ngoài việc "Tau đã theo lệnh chúng mày đánh sập nền kinh tế rồi đó, dân sẽ đòi nợ chúng mày đó, tao thì bye, bye ghen!"?

Chúng ta nên nhớ, trước hết 3X là con điếm chính trị sộp hàng đầu, không phải nhà kinh tế hay quản trị hàng đầu, 3X làm thủ tướng là do đảng phân công thôi, nên cái 3X sẽ "xì ra ráo chọi" mà XSVN và cả CSTQ sợ nhất là các bí mật kinh tế chính trị thối tha nhất của đảng CSVN. Ví dụ: Bức tranh thật của kinh tế Việt nam trước thềm ĐH12? (sẽ là đen tối gấp nhiều lần những gì 3X mới hé lộ ra!); Ví dụ: Nội dung Hội Nghị Thành Đô 1990 và các hiệp nước bán nước khác của đảng CSVN? Ví dụ: đời tư tranh nhau bán nước, giết nhau để bán nước Việt cho Tàu Cộng của các "lãnh tụ" CSVN từ Hồ trở đi đến nay? v.v... và v.v...?

Nếu 3X sẽ xì ra những điều đó thì có lẽ dân Việt sẽ tha mạng cho hắn lưu vong (để lại tài sản, sang bển bán MacDonnalscho con rể...), một số có thể sẽ tôn vinh 3X như Gorbacheve của VN, nhưng toàn dân sẽ quay sang xét xử bè lũ "đít đỏ đến cùng" tức CSVN bán nước đến cùng kia...

Chúng ta hãy chờ xem, và có khi cả tham gia, các màn tiếp! Mong anh Châu luôn tinh tường cảnh báo giùm cho như cho đến hiện nay. Cảm ơn anh Châu!


Phan Châu Thành 
(Danlambao)

Con Tắc Kè CSVN sẽ đổi màu?

 Trong tình thế tứ bề thọ địch, đảng CSVN, một đảng mà sở trường của nó là thói gian manh và lừa bịp cố hửu, tập đoàn này sẽ giở trò đổi mầu để cho phù hợp với tình hình thực tế hầu mong cứu vãn để duy trì quyền lực cùng sự cai trị của một chế độ đã hoàn toàn đánh mất sự tin tưởng của người dân.

Sự đổi mầu đó gồm những gì? Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu và phân tách để có những cái nhìn cụ thể trong công cuộc đấu tranh và cũng từ đó, chúng ta có thể vạch ra cho tất cả nhân dân cùng thấy.

1- Kinh tế: Đây được xem là vấn đề quan trọng và cấp bách nhất bởi sự suy sụp của nền kinh tế, tự nó sẽ kéo theo sự sụp đổ của chế độ. Hiện tại, mức độ nợ nần của chính phủ với các nguồn vốn nước ngoài cùng lãi suất hàng năm của nó đã khiến kho bạc nhà nước đã và đang gặp phải sự bế tắc. Với những ngân sách khủng phải chu chi cho guồng máy cồng kềnh kém hiệu năng, kèm theo là sự vỡ bong bóng nhà đất, tham nhũng thi nhau rút ruột... khiến hệ thống ngân hàng phải dính líu theo một cách kèn cựa để rồi phải đối mặt với sự khánh tận dây chuyền chuyển biến theo hiệu ứng Domino (1) (2) (3), mà bài học Vinashin, Vinalines là những đầu mối gây tác động.

Hãy đơn cử một ví dụ mà nhiều người cũng đã nắm được rằng Agribank là Ngân hàng thương mại quốc doanh, Nhà nước làm chủ sở hữu 100% vốn điều lệ. Tổng vốn điều lệ của Agribank là 29.605 tỷ đồng và trên thực tế số vốn này đã bị mất hết, không những thế tổng nợ xấu và nợ khó đòi còn vượt vốn điều lệ khoảng 10.000 tỷ.

Tưởng cũng nên nhắc lại, ngoại hối hàng năm được thu nhận miễn hoàn trả, trung bình là 12 tỉ USD. Nếu vì lý do nào đó, lượng tiền khổng lồ này bị ngưng thì tình trạng thiếu ngoại tệ của VN càng thêm thê thảm. Điều này có nghĩa là ngưng nhập ngoại tệ thì tác động vào sự sụp đổ của CSVN càng sớm hơn.

2- Xã hội và niềm tin: Có quá nhiều chỉ dấu cho thấy rằng cuộc sống, trong đó gồm có giá cả sinh hoạt như xăng dầu, thực phẩm tăng vọt một cách khủng khiếp, đồng lương của công nhân viên không phù hợp với tỉ lệ với giá hàng hóa gia tăng, sự khan hiếm công việc... Bên cạnh, nạn cướp giựt, chém giết đang ngày càng thêm hỗn loạn, hố cách biệt giàu nghèo quá lớn, tham ô nhũng nhiễu trắng trợn, tham nhũng bất trị... Những tiêu cực đó đã đánh mất đi những niềm tin (nếu có) cho một tương lai vốn đã không có gì để gọi là hứa hẹn.

Đời sống không còn niềm tin sẽ đưa đến xã hội điên loạn, một cuộc sống không hứa hẹn là một cuộc sống thác loạn bất cần. Những biến thái gần đây của xã hội, cho thấy Việt Nam đã và đang bị xem là một trong những quốc gia có đầy dẫy bất ổn và dĩ nhiên đây không phải là nơi đáng để sống! Dân là nước, nước làm cho thuyền nổi và cũng là làm cho thuyền đắm.

3- Những biến chuyển chung quanh: Như nhiều người đã rất ngạc nhiên là mới gần đây, Tập Cận Bình đã đột ngột xuất chiêu qua những vụ như Chu Vĩnh Khang và một số quan lớn khác mà Giang Trạch Dân là nhân vật đang trong tầm ngắm cùng 25.000 cán bộ lớn nhỏ khắp từ trung ương cho đến địa phương, từ nguyên Ủy viên BCT cho đến bí thư chủ tịch phường xã.

Theo tập quán, những gì xảy ra ở nước đàn anh, hay theo cách gọi văn chương hơn là những chính sách của thiên triều thì nước đàn em cũng phải rập khuôn, hoặc đúng nghĩa hơn là phải tuân theo chiếu chỉ. Từ "chiến dịch" đột ngột này, những con sâu khủng trong Bộ Cá Tra, TW đảng, Các quan chức cấp Thứ Bộ trưởng đang nơm nớp run sợ, không biết thân phận của mình chừng nào thì bị sờ gáy, tiền bạc, tài sản kếch xù của mình và gia đình, bao giờ thì bị tịch thu!

Vấn đề lo sợ này, thoạt nhìn có nhiều người cứ cho là "Điểm", nhưng thực chất tận thâm tâm của các quan tham mà tay đã nhúng tràm, hồ sơ của Hoa Nam đã ghi nhận đầy đủ thì đối với tập thể tham quan này, đó là "Diện". Đối với họ, đây là nồi cơm, là thành tích mà họ đã miệt mài bao năm cố gắng phấn đấu cho mục đích "Hy sinh đời bố, củng cố đời con". Thế mà nếu bỗng chốc tất cả đều biến thành tiêu tan, thân bại danh liệt?. Thì đây là dấu hỏi rất lớn, thế nên bằng mọi phương pháp, họ phải tìm cách lẫn trốn hay phủ nhận, mà một trong những cách lẫn tránh này là: Nín thở qua sông, tạm Thoát Trung.

4- Quan hệ ngoại giao: Tài liệu lịch sử cận đại của đảng CSVN đã cho thấy rằng Trung Cộng là quốc gia duy nhất có mối quan hệ mật thiết với đảng và nhà nước VN, tuy có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng 2 đảng đã vì những lý do rất "tế nhị" nên cả hai đều có những mật ước ngấm ngầm mà phần thua thiệt luôn nghiêng về phía VN, bởi thế đảng và nhà nước hèn mạt VN luôn cố giấu kín.

Cho đến khi nào họ bị đặt vào những thế chẳng đặng đừng, không thể nào che giấu được nữa thì CSVN mới có những kế hoạch chấn chỉnh, đổi màu để hy vọng phần nào hợp thức hóa hầu cứu vãn tình hình. Sau khi chấn chỉnh để tạo mức an toàn, rồi sau đó thì đâu cũng sẽ vào đấy.

Kết luận: Qua nhiều biến cố của lịch sử với vô vàn đau thương đã xảy ra dưới trào cộng sản, người dân Việt đã từng trải quá nhiều kinh nghiệm. Cộng sản? Theo cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã căn dặn: Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm.

Hoặc Nhà văn Nga Alexandre Soljenitsym nói:

"Khi thấy thằng CS nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi, không ở lại nghe nó nói láo. Nếu ta không can đảm bỏ đi, mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác."

Hay Đức Dalai Lama lãnh tụ tinh thần Phật giáo Tây Tạng nói:

"Cộng Sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời."

Và mới đây nhất, nhân chuyến viếng thăm VN của hai Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain và Sheldon Whitehouse, ông Nguyễn Phú Trọng: Tổng Bí thư khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam coi Hoa Kỳ là một đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam; - Nguyễn Phú Trọng.

Người Mỹ và chính phủ của họ đã hiểu cũng như đã có quá nhiều kinh nghiệm với cộng sản. Thiết nghĩ, có nhắc nhở cũng chỉ bằng thừa, nhưng thà thừa còn hơn là thiếu rằng người cộng sản, ví như những con Tắc kè (Gekko gecko), nó biết đổi màu để thích ứng với môi trường hay điều kiện xung quanh. Nhưng con Tắc kè, thì bao giờ cũng là con Tắc kè chứ không thể là con khủng long được.

Cho nên, tốt nhất là hãy như cựu Tổng thống Nga Boris Yeltsin:

"CS không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó".


Nguyên Thạch (Quanlambao)

Sao không bắt chim “Đỗ” mà đi “Kiến-Ngỏ” viễn vông?

  - Nếu muốn biết sự thật của mật ước Thành Đô thì việc gì phải hỏi 200 con sâu lớn và hơn 3 triệu sâu nhỏ làm gì cho phí sức mà hơn nữa ngay cả những con “sâu nái” ở Ba Đình cũng chưa chắc đã tỏ tường huống chi là bầy sâu suốt ngày chỉ biết “ngoi ngóp” trong đống thải! mà tại sao không lôi tên “hoạn lợn, thiến heo” là một trong 3 tên tội đồ ký mật ước Thành Đô hiện đang còn sống sót nhăn răng ra đó mà tra hỏi hắn đã ký gì, bán gì của đất nước, nhân dân cho Hán tặc?...



*

Thường những sự kiện chính trị, lịch sử đã chìm sâu vào quá vãng rồi người ta mới lôi ra gọi là “Bạch hóa”. Nhưng đa phần có chen lẫn những đám mây mờ do người trong cuộc tạo nên khiến cho tầm nhìn của hậu nhân bị lạc ra nhiều hướng và có những nhận định trái chiều. Đặc biệt là những sự kiện có liên quan đến sinh mạng con người, tồn vong của một đất nước, dân tộc. Trong những trường hợp này sự thật của sự kiện luôn được che kín trong thời gian những kẻ gây ra đang tại vị, đang đứng đầu hay là một trong những trụ cột của chế độ đương thời.
Trường hợp trên là rơi vào những XH với chế độ độc tài, độc trị mà nhất là các nước cộng sản. Nếu có hé lộ chăng thì cũng chỉ là “một nửa ổ bánh mì... phần còn lại là chìm trong hư ảo.” Riêng các nước dân chủ, văn minh sau khi những tập đoàn, đảng phái gây hại cho nhân dân, xã hội đều bị đưa ra xét xử công khai và vạch tội cho dù là tội phạm có lẩn trốn thời gian bao lâu đi nữa thì sau khi bắt được đều đưa ra xét xử công bằng, như sau thế chiến thứ 2 tập đoàn phát xít Đức đều bị đưa ra xét xử ở tòa án Nurnberg. Tập đoàn Khơ-Me đỏ Polpot ở Campuchia cũng thế. Đã và đang xét xử bởi tòa án có Quốc Tế tham gia.
Những nước CS có sự kiện lớn như Liên Xô thì đã sụp đổ chôn vùi và những tên gây ra tội ác như Lenine, Staline đã bị nhân dân nguyền rủa, đổ nhào tượng đài còn học thuyết đã bị vứt vào sọt rác. Chính hàng lãnh đạo chóp bu CSLX như Gorbachev, B.Yeltsin... về sau đều cực lực lên án chế độ và chủ thuyết Mác-Lê sai lầm, lạc hậu, dối trá và lừa bịp không thể sửa chữa mà phải đào thải, cáo chung.
Riêng các nước còn núp dưới danh xưng cộng sản như TQ, VN, Bắc Triều Tiên... thì những tội ác còn được dấu che dưới bức màn đỏ bởi bàn tay của đảng CS với dụng cụ là lực lượng súng còng, liềm búa.
Bởi thế cho nên ở TQ với sự kiện Thiên An Môn máu chảy ngập quảng trường, thây SV chất đầy đường phố... mà giờ đây tiếng kêu của lương tâm đòi công lý cũng chỉ như ánh đom đóm trong đêm trường. Nếu có chăng chỉ là những buổi thắp nến nguyện cầu, siêu thoát cho các vong linh và tưởng niệm trong đêm 3,4 tháng 6 hàng năm mà phần lớn là bên ngoài đại lục. Trong lúc đó nỗi đau như muối xác, kim châm trong lòng, trong trái tim của thân nhân những người bị giẫm nát dưới vành xích của xe tăng vẫn còn đang rỉ máu.
Nếu những tên gây ra tội ác đã chết đi, sự kiện chỉ còn là tài liệu trong kho tàng lịch sử thì hậu thế chỉ là “nghiên cứu”. Với sự kiện Thiên An Môn thì tên Lý Bằng còn đó sao nhân dân đại lục không đứng lên mà tỏ rõ nguồn cơn để một mai con dã thú cuối cùng tắc thở thì sự thật sống động cũng chìm vào dĩ vãng và lịch sử cũng chỉ là lịch sử thôi mà bóp méo lịch sử là sở trường của CS.
Quay về chính trường VN. Bỏ qua những tội ác của tập đoàn CSVN và các sự kiện mà nhân dân và xã hội đã lên án. Nơi đây tôi chỉ nói đến “mật ước Thành Đô”. Trước hết tại sao phải là “mật ước”? cho dù 2 từ này nó không nằm trong văn bản chính thức nào và gần ¼ thế kỷ qua người dân không được biết thì xem như là mật ước. Chỉ có điều phản dân hại nước, mãi quốc cầu vinh mới dấu nhẹm nhân dân mà thôi. Nếu đây là một thỏa ước ích nước lợi nhà thì 24 năm qua tiếng vang đã dội đến rừng núi Phi Châu, hóc băng Bắc Cực hay nghĩa trang, nhà xí nào cũng biết rồi, bởi công suất tầng cao của loa đài CS.
Thứ 2 là ai đã trao cho tập đoàn CSVN cái quyền lấy phương diện Quốc Gia để đi đêm mật đàm, ký mật ước có liên quan đến vận mệnh non sông? Trong khi đảng CSVN “bất chính và ngụy danh”, tập họp chỉ 3% dân số (có một số không ít đã tự động rời bỏ hàng ngũ), không được nhân dân ủng hộ qua một lá phiếu nào, không được một chính phủ nào công nhận để cho phép hoạt động hợp pháp mà tự trao cho mình cái quyền ngồi xổm trên hiến pháp và pháp luật và lãnh đạo tuyệt đối nhân dân, đất nước? để rồi tự do âm thầm bán nước?
Điều thứ 3 mà tôi muốn nêu ra sau đây là chỉ nói thêm ở sự kiện Thành Đô. Trước kia các vị gọi là nhân sĩ, trí thức từ 42 vị rồi tăng dần lên đến 72 vị mà hầu hết là đảng viên và quan chức đã về vườn, mà dưới chế độ CS thì cả thế giới ai ai cũng rõ là “được chim bẻ ná, được cá quăng nôm” do đó các vị khi bị thất sủng rồi, với bản chất thấp hèn của người CS nên tỏ ra bất mãn với chế độ, mang mặt nạ giả vờ đứng về phía nhân dân. Có những vị trước kia ngồi ở ngôi cao trong bộ chính trị, nào trưởng ban T.C, chủ tịch QH, nào trưởng ban tuyên giáo v.v... trong tay cầm vận nước, lúc đó chém dân như chém bùn, chặt đầu như cắt cỏ… bẻ cong bao ngòi bút, cầm tù áp bức trí thức, văn nhân, báo chí… sao không phản biện lại Mác-Lê? Sao không trằn trọc đêm khuya “vê thuốc vặc”, làm thơ não nề nhìn ve sầu lột xác và âu lo cho dân tình, xã tắc? có vị thì đến giờ này mà vẫn còn đổi màu trên sắc mặt như loài kỳ nhông tắc kè! Nay hùa vào ký kiến nghị mai lạnh xương sống rụt tay và cho là không biết? Một học sinh còn mài đủng quần ở ghế nhà trường cũng thấy được bản chất thật của hạng gọi là trí thức này. Thật đau buồn cho một đất nước có vị đứng đầu bộ tư pháp mang bộ óc của “thằng Bờm”! thảo nào người dân vô tội bị bức cung tròng lên đầu bản án tử hình, chung thân oan ức là điều dễ hiểu.
Vấn đề này tôi đã viết nhiều rồi, nhưng gần đây xuất hiện 61 vị đảng viên kỳ cựu, kiên cường một lòng theo đảng, nổ lực hiến dâng, bò lên tá, tướng, chức vụ nọ kia... Nói về cái ác, cái xấu và sự vô luân, vô đạo của đảng CSVN thì nếu là người hiểu biết thường thường bậc trung thì không ai mà không thấy. Tuy nhiên, ở họ là đồng chí, đồng hướng, đồng tịch, đồng sàng, đồng mưu, đồng chước, đồng tâm... với đảng. Cùng một dòng nước lũ, bão dông cuốn xuôi chiều nên sẵn sàng nhấn chìm, thổi phăng mọi trở lực mà không thấy được cái dã man của cuồng phong, bão lũ.
Bây giờ đứng trước tình thế “mạng của đảng như ngàn cân treo sợi tóc” họ lại hết kiến nghị lại thư ngỏ... nội dung cũng không ngoài hình thức xin-cho và mục đích cuối cùng vẫn muốn cho đảng tốt hơn và mãi mãi trường tồn, trường trị. Nếu ngược lại, với nhiệt tâm yêu nước thì cần gì họ phải “kiến-ngỏ viễn vông” mà làm gương đi đầu đứng ra ngoài hàng ngũ của loài sâu bọ, dã thú mà trở lại kiếp người để cho mọi kẻ đã bị chọc mắt đui mù khác noi theo cứu đất nước, nhân dân thoát vòng nô lệ.
Tôi thấy tất cả những “kiến nọ, ngỏ kia” từ trước giờ chỉ là “tiếng trống đầu làng” hướng tầm mắt mọi người dân về nơi cây đa treo chiếc trống để cho bọn trộm, cướp thoải mái vét vơ, côn đồ lục tặc ngang dọc ngõ trước vườn sau... khi dứt tiếng trống, tỉnh cơn mê trở về thì nhà trống vườn không. Cái chiêu bài “cứu đảng”, bàn tay cầm dùi đánh trống được nối dài từ cửa động Ba Đình ai mà không biết?
Trong thư ngỏ họ nói: “Là người làm chủ đất nước (ngụy ngôn), nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật (chứ không phải dối trá) về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế…v.v…”

Chỗ này lại càng viễn vông hơn nữa. Nếu muốn biết sự thật của mật ước Thành Đô thì việc gì phải hỏi 200 con sâu lớn và hơn 3 triệu sâu nhỏ làm gì cho phí sức mà hơn nữa ngay cả những con “sâu nái” ở Ba Đình cũng chưa chắc đã tỏ tường huống chi là bầy sâu suốt ngày chỉ biết “ngoi ngóp” trong đống thải! mà tại sao không lôi tên “hoạn lợn, thiến heo” là một trong 3 tên tội đồ ký mật ước Thành Đô hiện đang còn sống sót nhăn răng ra đó mà tra hỏi hắn đã ký gì, bán gì của đất nước, nhân dân cho Hán tặc?
Hiệp định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ thì sao không trực tiếp lôi con sâu “Thanh Hóa” đang ôm ngà voi, trống đồng mà mơ về người đẹp Tô Châu (gót chân Ashin của hắn) ra hỏi hắn đã nhận mấy tỉ Đô La để ký mà bán đất, bán biển cho Tàu?
Thỏa thuận kinh tế ư? Sao không lôi thẳng tên Trọng lú, Tư sâu, Ba Ếch ra mà khảo với 10 văn kiện đầu hàng chúng đã âm mưu quy phục phương Bắc mà Tư Sâu đại diện qua tiếp chỉ mới năm rồi?
Thật tình tôi không hiểu quí vị trí thức ở tầm cỡ nào mà khi mất đồ trong chợ lại ra nghĩa trang tung mồ bới mả lên tìm?
Đáng ra tôi không viết bài này vì ai cũng rõ. Thế nhưng cầm lòng không được khi bức thư ngỏ của quí vị nó cứ chập chờn trước mắt và cũng để giúp cho quí vị biết nơi mà tìm đồ đã mất chớ sục sạo mồ mả mà có khi chạm vào “Long mạch” của Hồ tập Chương lại lòi ra thêm những bí mật năm xưa thì đi ăn mày cả đám.
Ngày 14.8.2014



Tuesday, 12 August 2014

Vì sao Tòa thánh Vatican ủng hộ Mỹ oanh kích Irak ?


Vatican
Vatican
wikipédia

Trái lại với học thuyết bất bạo động của Giáo Hội và phản ứng chống lại kế hoạch oanh kích Syria hồi năm ngoái, lần này, Tòa thánh Vatican gián tiếp ủng hộ Hoa Kỳ không kích lực lượng thánh chiến hồi giáo « Nhà nước Hồi Giáo Irak » đe dọa tiêu diệt những người không cùng hệ phái và tôn giáo trong cuộc chiến diệt chủng.

Trong một chương trình phát thanh của đài Vatican vào cuối tuần qua, Đức Ông Silvano Tomasi đã lên tiếng ủng hộ kế hoạnh oanh kích Irak mà tổng thống Mỹ Barack Obama vừa loan báo trước đó vài giờ. Đại diện ngoại giao của Vatican bên cạnh Liên Hiệp Quốc thẩm định rằng tình hình rất khẩn cấp, phải can thiệp trước khi quá trể.
Không đi sâu vào chi tiết, Đức Ông Silvano Tomasi giải thích : viện trợ nhân đạo là cần thiết nhưng không đủ, có lẽ phải có thêm giải pháp quân sự.
Từ Irak, giám mục Rabban al Qas, cai quản giáo phận Amadiya, kêu gọi không quân Mỹ tiếp cứu, đừng để cho « lang sói xâm nhập nuốt sống đàn chiên ».
Trong buổi thánh lễ hôm chủ nhật, Đức Giáo Hoàng Phanxicô vẫn chìa nhánh cây dầu hòa bình với « Nhà nước Hồi giáo » và nhắc nhở các chiến binh Suni này là họ không thể « nhân danh Đức Chúa Trời để gây chiến tranh ». Đức Giáo Hoàng kêu gọi quốc tế tìm một giải pháp hòa bình hiệu quả để những hành động tội ác không diễn ra nữa tại Irak.
Trong những ngày qua, nhờ vào sức mạnh quân sự, phe thánh chiến đã đánh chiếm được nhiều thành phố nơi cộng đồng Thiên chúa giáo, cộng đồng Yazidi, cộng đông Kurdistan chiếm đa số. Họ đe dọa, ép buộc các tín đồ cải đạo theo đạo hồi nếu không sẽ bị giết chết. Tin từ chính phủ Irak cho biết hơn 500 người bị chặt đầu và hàng trăm phụ nữ bị chiến binh thánh chiến Hồi giáo cưỡng hiếp.
Theo Tòa thánh Vatican, cần phải tố giác những kẻ đứng sau lưng giựt dây, cung cấp tiền bạc, vũ khí cho cái gọi là « Nhà nước Hồi giáo ».
Giám mục địa phận Amadiya tại Irak gọi đích danh chính quyền Ả Rập Xê-Út.
Trong khi đó, Tổng giám mục Babylone, Đức Cha Louis Sako lo ngại mục đích oanh kích chỉ nhằm bảo vệ thủ phủ Erbil của Kurdistan và không đủ mạnh để đánh bại phe thánh chiến.
Theo AFP, từ lập trường « không can thiệp quân sự vào Syria » đến thái độ ngầm ủng hộ giải pháp vũ lực tại Irak có một sự khác biệt to lớn.
Người ta còn nhớ vào mùa hè năm 2013, tất cả giám mục Công giáo tại Trung Đông đều lên tiếng kêu gọi Đức Giáo Hoàng không ủng hộ dự án oanh kích của Mỹ-Pháp chống chế độ độc tài Damas vào lức đó đang sử dụng vũ khí hóa học sát hại thường dân trong những vùng nổi dậy. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tổ chức một ngày cầu nguyện hòa bình và viết thư cho nhóm G20 theo chiều hướng chống can thiệp vào Syria.
Mùa hè năm nay, sau khi Tổng thống Obama cảnh báo công luận về « nguy cơ các cộng đồng thiểu số ở Irak bị diệt chủng » thì các Giám Mục ở Trung Đông cũng báo động với Tòa Thánh .
Phải chăng lập trường của Giáo Hội hoàn vũ thay đổi 180 độ vì nạn nhân bị đe dọa là cộng đồng Thiên chúa giáo có từ 2000 năm nay ở Irak ?
Theo chuyên gia Mỹ John Allen thuộc trung tâm nghiên cứu Boston Globe, tuy có điểm khác biệt rất rõ nhưng không phải là Tòa Thánh thay đổi học thuyết bất bạo động.
Theo nhà phân tích Mỹ thì tính chất tình hình tại Irak năm 2014 năm 2003 và cũng không giống như ở Syria cách nay một năm khi Tòa Thánh chống can thiệp lật đổ chế độ Saddam Husein và Bachar al Assad.
Vào thời điểm đó, Vatican nghĩ rằng lật đổ nhà độc tài Irak và Syria chỉ làm cho thân phận tín đồ Thiên chúa giáo tồi tệ thêm. Còn nhiều giải pháp khác tốt hơn là sử dụng chiến tranh.
Còn tình thế năm 2014 này thì cực kỳ nguy hiểm : một khi hồi giáo cực đoan chiến thắng toàn vẹn tại Irak thì coi như vô vọng. Để không bị tiêu diệt, tín đồ Thiên chúa giáo, tuy không chủ trương bạo lực, được giáo lý cho phép đáp trả bạo quyền cực đoan bằng vũ lực.
John Allen giải thích với AFP : giáo lý của Giáo Hội Công Giáo chấp nhận khái niệm « chiến tranh tự vệ có chính nghĩa » , được giới hạn trong điều kiện duy nhất, đó là chỉ sử dụng vũ lực khi tất cả mọi khả năng giải quyết ôn hòa, bất bạo động, đều không thể thực hiện được.
Nói cách khác « hành động tiêu diệt một cộng đồng thiểu số phải được lên án như là một trọng tội. Vì đạo lý, con người phải kháng chiến chống lại lệnh diệt chủng ».


Tú Anh

Dân Muốn Biết :Cần tư thục hóa giáo dục Việt Nam


alt
Ngành giáo dục Việt Nam hiện nay đã trải qua ba lần cải cách, nhưng vì vẫn điều hành lối cũ nên càng cải cách càng rơi vào khủng hoảng.
Từ góc nhìn kinh tế muốn tạo cạnh tranh, tạo công bằng và hiệu quả giáo dục cần được tư thục hóa và đây là điều Việt Nam đã làm qua nhiều thời đại.

Nhà Nho dạy học

Tổ chức giáo dục thời xưa được học giả Đào Duy Anh ghi lại trong quyển Việt Nam Văn Hóa Sử Cương như sau:
“Ở mỗi huyện có quan Huấn đạo, mỗi phủ có quan Giáo thụ, dạy Tứ Thư Ngũ Kinh cho học trò khá. Ở mỗi tỉnh có quan Đốc học dạy các sinh đồ cao đẳng. Ở Kinh đô có trường Quốc tử giám. Các vị học quan kể trên đều ở dưới quyền giám đốc của bộ Lễ hoặc bộ Học. Trong dân gian thì xưa nay việc học vẫn hoàn toàn tự do. Thầy học thì có thầy khóa, thầy đồ, thầy tú dạy trẻ con, cho đến bậc đại khoa không xuất chính, hay các quan trí sĩ, có người dạy đến trăm nghìn học trò.”
Giáo dục có thể xem như là công việc của Nho gia hơn là của chính quyền.
Trường học thì phần lớn là nhà riêng của thầy nho, hoặc ở chùa, đình, miễu hay nhà một người giàu có trong làng.
Các thầy nho hoàn toàn độc lập với công quyền. Họ không được tài trợ và cũng không bị kiểm soát đôn đốc bởi bất cứ cơ quan nào.

Trường công và tư thời Pháp

"Ngoài hệ thống giáo dục công lập rộng khắp Đông Dương, từ năm 1930 một số trường tư thục do tư nhân đã mở ra ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và ở một vài tỉnh lỵ lớn "
Giáo dục thời Pháp nhằm đào tạo một số người biết tiếng Pháp, biết Quốc Ngữ, có đôi chút hiểu biết để ra làm công chức, làm thông dịch phục vụ cho người Pháp. Mục tiêu xa là đồng hóa người bản xứ biến họ thành những người Pháp về phương diện văn hóa.
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, người Pháp đã mở rộng hệ thống giáo dục công lập rộng khắp Đông Dương. Đồng thời từ mục tiêu truyền giáo một số trường tư do giáo hội Thiên Chúa Giáo cũng đã xây dựng và điều hành.
Sau năm 1930 một số tư thục do tư nhân mở ra ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và ở một vài tỉnh lỵ lớn đa số là các trường bậc Tiểu Học. Bậc Cao Đẳng Tiểu Học chỉ có ở Hà nội, Huế và Sài gòn. Bậc Tú Tài chỉ có ở Hà Nội và Sài Gòn.
Nhà nho vẫn được tiếp tục vai trò giáo dục. Nhưng theo quyết định của Toàn Quyền Paul Beau năm 1906-07 thì các thầy đồ, thầy khóa ở xã thôn, các quan giáo huấn, đốc học ở phủ, huyện, tỉnh, ngoài việc dạy chữ Hán phải dạy thêm chữ Quốc Ngữ.
Khi Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập, người Pháp đã không ngăn cấm hoạt động. Người Pháp chỉ giải tán khi biết được đằng sau Nghĩa Thục là phong trào chống lại thực dân.

Tư thục ở Miền Nam

Giáo dục miền Nam nhằm đào tạo những công dân tốt có khả năng phụng sự xã hội. Vì vậy vai trò của chính phủ là làm sao tạo được sự công bằng và hiệu quả trong việc đầu tư cho giáo dục.
Chiến lược giáo dục miền Nam đựơc nêu rõ trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa: (1) Quốc Gia công nhận quyền tự do giáo dục, (2) nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí, (3) nền giáo dục Đại Học được tự trị, (4) những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn và giáo dục, và (5) một ngân sách thích đáng phải được dành cho việc phát triển văn hóa giáo dục.
alt
Tập quân sự trong trường học ở Việt Nam ngày nay
Để thực hiện những mục tiêu trên chính phủ miền Nam đã chia sẻ trách nhiệm với các thành phần khác trong xã hội. Những con số dưới đây có thể nói lên được phần nào sự phát triển của hệ thống tư thục trước đây.
Năm 1964 có chừng 435 ngàn học sinh tiểu học chiếm 28 phần trăm tổng số học sinh tiểu học đã được giáo dục tại các trường tư thục. Đến năm 1970 con số tăng lên 452 ngàn nhưng tỉ lệ đã giảm xuống chỉ còn 18 phần trăm.
Ở bậc trung học cả tỉ lệ lẫn số lượng học sinh đều liên tục gia tăng. Nếu năm 1964 các trường tư thục thu nhận 181 ngàn học sinh hay 62 phần trăm tổng số học sinh, thì đến năm 1970 con số tăng gần ba lần lên đến 484 ngàn học sinh chiếm tỉ lệ 78 phần trăm tổng số học sinh trung học.
Về giáo dục đại học, sáu viện đại học tư thục cũng đã được thành lập với chừng 40 ngàn sinh viên tốt nghiệp.

Công lập miễn phí

Nhận thức giáo dục cơ bản mang lại công ích xã hội cao nhất nên chính quyền miền Nam đã tập trung ngân sách quốc gia cho giáo dục tiểu học. Học sinh công lập được hòan tòan miễn phí. Ở bậc tiểu học học sinh còn được ăn bánh mì và uống sữa miễn phí. Sách giáo khoa bậc tiểu học cũng được phát không.
Các trường tư nhờ cạnh tranh nên học phí thấp và phẩm chất giáo dục cũng không mấy chênh lệch. Bởi thế đa số trẻ em miền Nam đều được đến trường ăn học.
Nhờ chia sẻ trách nhiệm với tư nhân, phía chính phủ đã chu cấp một đời sống căn bản cho giáo chức và các công chức trong ngành giáo dục. Nhờ đó miền Nam đã xây dựng được một nền giáo dục có giá trị ngang tầm quốc tế.
Đến năm 1975, hằng ngàn trường tư thục và các viện đại học đã bị tịch thu và nhập vào hệ thống giáo dục theo mô hình Xô Viết.
Hệ thống này đến nay cũng không mấy thay đổi, vẫn độc quyền và chính trị hóa giáo dục.

Công biến thành tư

Ngân sách cho giáo dục hiện nay đã lên đến 20 phần trăm tổng ngân sách quốc gia.
Nhưng vì phải trải rộng cho tòan ngành, thiếu cạnh tranh và hiệu quả, nên các cơ sở học đường đều nghèo nàn, xuống cấp, lương giáo viên không đủ sống, có địa phương thiếu lương trả giáo viên.
Đó là chưa kể đến tình trạng tham nhũng tràn lan khắp ngành giáo dục.
Các trường công lập cũng thâu học phí và nhiều khỏan phí khác gây không ít khó khăn cho phụ huynh học sinh.
Trường công đã trở thành trường tư.
Một vài trường tư được thành lập nhưng vì thiếu môi trường cạnh tranh lành mạnh, thiếu học sinh, nên học phí quá cao. Gia đình trung lưu cũng không đủ khả năng cho con em theo học.
"Thiếu cạnh tranh thì khó có thể nâng cao được phẩm chất của nền giáo dục"
Theo thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 49/2010/NĐ-CP, kể từ ngày 15/7/2014 các học sinh tiểu học công lập sẽ không phải đóng học phí.
Thông tư không nói các lệ phí khác có được miễn hay không? Không thu được học phí, ngân sách lấy gì bù đắp và thực tế sẽ ra sao?

Cần tư thục hóa

Các sinh viên đại học sau vài năm theo học sẽ có công ăn việc làm. Họ sẽ có lợi tức và có khả năng hòan trả các chi phí giáo dục. Người có giáo dục đại học lại thường dễ thay đổi nghề nghiệp và có nhiều khả năng xuất ngọai.
Vì thế một nước chậm phát triển như Việt Nam thay vì đầu tư cho giáo dục đại học nên để các khỏan ngân sách cho việc đầu tư vào giáo dục bậc tiểu học.
Cuộc hội thảo về cải cách giáo dục Đại Học do Nhóm đối thoại giáo dục và Lãnh sự quán Hoa Kỳ vừa tổ chức cho thấy việc tự trị đại học được xem như là giải pháp để thúc đẩy việc cải cách giáo dục đại học Việt Nam.
Có điều các diễn giả không nói rõ tự do chính trị và tự do giáo dục chính là căn bản của một nền đại học tự trị.
Quyền tự trị đại học đã được nêu rõ trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa. Miền Nam không có Bộ Đại Học.
Bộ Giáo dục chỉ có một thứ trưởng đặc trách giáo dục đại học, công việc của vị này chủ yếu là lo thực thi những chính sách và ngân sách giáo dục đại học.
Đại học được tự trị về học vụ, tài chính và điều hành.
Các hội đồng ở cấp viện đại học và cấp trường đại học (hay phân khoa) có quyền thảo luận và quyết định mà không phải trình báo hay xin chỉ thị từ bất cứ ai.
Các Khoa trưởng không do Bộ Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.
Khi Đại Học chưa được quyền tự trị thì khó có sự cạnh tranh công bằng giữa đại học công và tư. Một bên đã có nhà nước bảo hộ phía bên kia cần lợi nhuận để tiếp tục duy trì và phát triển. Thiếu cạnh tranh thì khó có thể nâng cao được phẩm chất của nền giáo dục.
Cũng trong thời gian qua, tranh chấp diễn ra tại Đại học tư thục Hoa Sen xoay quanh việc ai quyết định chiến lược và thành quả của chiến lược thuộc về ai? Cuộc tranh chấp nhằm chọn giữa hai phương cách quản lý đại học: vụ lợi hay phi vụ lợi.
Tổ chức vô vụ lợi (phi lợi nhuận) họat động không vì lợi nhuận nhưng về lâu dài việc quản lý cũng cần có thặng dư để tái đầu tư và phát triển.

Khuyến khích đầu tư

alt
Tư thục hóa giáo dục là hướng đi cho Việt Nam
Ở các nước Tây Phương các tổ chức vô vụ lợi hoạt động trong ngành giáo dục được khuyến khích bằng cách miễn thuế lợi tức.
Các cá nhân hay công ty đóng góp cho các tổ chức giáo dục vô vụ lợi cũng được khai giảm thuế lợi tức hằng năm.
Để khuyến khích phát triển giáo dục tư thục, ngoài việc chính phủ cấp học bổng hay ngân sách cho đại học cả tư lẫn công, có quốc gia còn cho các sinh viên vay tiền học phí và chỉ hòan trả lại khi họ đã có công ăn việc làm vững chắc.
Nhiều quốc gia miễn thuế cho các dịch vụ thuộc về giáo dục. Có quốc gia còn khấu trừ thuế lợi tức các chi tiêu cá nhân hay công ty đầu tư cho việc giáo dục và đào tạo.
Chính phủ cũng cần tạo mọi cơ hội để các trường đại học tư thục được sự giúp đỡ của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các công ty liên quốc, các cộng đồng hải ngọai và các mạnh thường quân quan tâm đến giáo dục.
"Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đã tư thục hóa nền giáo dục của họ. Nhiều nước như Úc còn xem giáo dục như mặt hàng xuất khẩu chiến lược"
Úc coi giáo dục là hàng xuất khẩu
Dựa trên căn bản chiến lược, chính sách và luật pháp quốc gia, các trường đại học tư thục có toàn quyền quyết định giữa tổ chức quản lý đại học bằng cách vụ lợi hay vô vụ lợi.
Các trường tiểu học và trung học tư thục, việc điều tài chính và quản lý tùy thuộc vào Ban Quản Trị nhà trường. Bộ Giáo Dục chỉ quy định chương trình và giám sát phẩm chất giáo dục các trường.
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đã tư thục hóa nền giáo dục của họ. Nhiều nước như Úc còn xem giáo dục như mặt hàng xuất khẩu chiến lược.
Trong khi ấy nền giáo dục Việt Nam vẫn lệ thuộc vào tư tưởng giáo dục Liên Xô trước đây, khi tự do chính trị và tự do giáo dục chưa có, mọi cải cách đều không mang lại kết quả, nền giáo dục càng ngày càng suy thóai, dẫn đến khủng hoảng xã hội.
Năm 1945, chỉ trong vòng vài tháng chính phủ Trần Trọng Kim đã hoàn thành cuộc cách mạng giáo dục lần thứ nhất chuyển chương trình giáo dục từ Pháp ngữ sang Việt ngữ. Xây dựng giáo dục trên ba nguyên tắc: dân chủ, dân tộc, khoa học và lấy lý tưởng phụng sự quốc gia làm tôn chỉ.
Giáo dục gắn liền với phát triển quốc gia, bởi thế muốn đưa đất nước đi lên chúng ta cần sửa sọan tư tưởng sẵn sàng lấy việc tư thục hóa làm nền tảng cho cuộc cách mạng giáo dục lần này như các thế hệ trước đã làm.
Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả Nguyễn Quang Duy từ Canberra, Úc.
Bài liên quan
Nguyễn Quang Duy (4-2014) Ưu việt của giáo dục miền Nam
Nguyễn Thanh Liêm, Nền giáo dục ở miền nam 1954-1975
__._,_.___

Monday, 11 August 2014

Từ Geneve 1954 Đến Giàn Khoan HD-981




60 năm sau ngày Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (CSVN) đồng ý chia đôi Việt Nam tại Hội nghị Geneve 1954 theo kế họach của Liên bang Xô Viết và Trung Cộng để tiếp tục cuộc chiến 20 năm nồi da xáo thịt Bắc-Nam đang chứng minh là một thảm kịch lịch sử của nhân dân Việt Nam.


Bằng chứng này đã phản ảnh nhan nhản trong các bài viết về kỷ niệm Hội nghị Geneve 1954 (20/7/1954 – 20/07/2014) của phía Nhà nước Cộng sản Việt Nam (CSVN).

Trong văn kiện Đảng CSVN toàn tập của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2001 thì miền Bắc thời Hồ Chí Minh đã có chủ trương đánh phá miền Nam (VNCH) ngay sau khi ký khi Hiệp định 1954. Tài liệu viết: “Với thắng lợi này, cách mạng Việt Nam cũng như sự phát triển của dân tộc Việt Nam đã bước sang một thời kỳ mới - thời kỳ ra sức phấn đấu để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn quốc”

Ông Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng CSVN cũng xác nhận việc miền Bắc bằng lòng chia cắt Việt Nam chỉ để chuẩn bị đánh chiếm VNCH sau này. Ông nói: “Mốc quan trọng nữa là miền Bắc nước ta từ Lạng Sơn đến vĩ tuyến 17 được giải phóng, có thời gian hòa bình nhất định để xây dựng đất nước, trở thành tiền tuyến lớn của cuộc đấu tranh không thể tránh khỏi sau này để chống Mỹ cứu nước. Nếu mà không có hậu phương miền Bắc thì cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam sẽ khó khăn hơn rất nhiều.” (Phỏng vấn của đài Tiếng nói Việt Nam (Voice of Viet Nam, VOV, 17/07/2014)

Nhà nghiên cứu lịch sử ngọai giao của CSVN, ông Nguyễn Khắc Huỳnh, cũng bảo: “Với hiệp định Giơ-ne-vơ, Pháp và các nước công nhận quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, rút hết lực lượng quân sự Pháp. Việt Nam có miền bắc từ sông Bến Hải (Quảng Trị) trở ra để xây dựng và làm cơ sở đấu tranh giải phóng miền nam. Bản Hiệp định Giơ-ne-vơ là cơ sở pháp lý vững vàng để ta tiếp tục đấu tranh chống Mỹ sau này. Đó là thắng lợi của nhân dân ta qua chín năm chiến đấu hy sinh.”

(Báo Nhân Dân, 20/07/2014)

Nhưng câu hỏi đặt ra là tại sao ngay sau Hiệp định Geneve miền Bắc đã vội xin Liên Xô và Trung Cộng cung cấp vũ khí, đạn dược và lương thực để phát động cuộc chiến phá họai nếp sống hòa bình của nhân dân miền Nam (VNCH), nhưng cho ai và vì cái gì?

Cả sông máu và núi xương của hàng triệu người dân hai miền Bắc-Nam đã bị hoang phí trong suốt 20 năm nội chiến chỉ cốt để thỏa mãn tham vọng được độc quyền cai trị đất nước của đảng Cộng sản.

Lịch sử cũng đã chứng minh sự cuồng tín vào chủ nghĩa Cộng sản sẽ bá chủ tòan cầu, đã sụp đổ ở nơi nó ra đời là nước Nga năm 1991 nhưng vẫn còn được coi là “kim chỉ nam cho đảng CSVN hoang tưởng để xây dựng đất nước”, đang bị phủ nhận mỗi ngày trong qủang đại quần chúng Việt Nam.

Cũng đã rõ như trắng với đen là kể từ ngày có Hiệp định Gevene 1954, chưa bao giờ miền Nam chủ trương đem quân ra “giải phóng nhân dân miền Bắc khỏi gông cùm Cộng sản”.

Ngược lại, đảng Lao động Việt Nam, khi ấy vừa mới hòan hồn sau cơn ác mộng Cải cách Ruộng đất và nhân dân miền Bắc mới được sống hòa bình sau 9 năm chinh chiến, đã “dựng đứng” lên chuyện phải “giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai” để tiến hành chiến tranh, theo xúi bẩy của hai quan thầy Nga-Tầu.

NGHỊ QUYẾT DỐI TRÁ

Sự lừa bịp nhân dân của ông Hồ Chí Minh và đảng Lao động Việt Nam lúc đó (sau đổi thành Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội đảng IV năm 1976) được thể hiện qua Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III ngày 10-9-1960 về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới.

Nghị quyết viết: “Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiến lược:

Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước….

“….Vì vậy, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc tiến hành trong khi ở miền Nam phải ra sức tập hợp mọi lực lượng dân tộc và dân chủ, mở rộng và củng cố khối đoàn kết dân tộc, cô lập đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng, thúc đẩy sự nghiệp đấu tranh củng cố hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy phương châm tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: xây dựng miền Bắc, chiếu cố miền Nam.”

Chính sách “chiếu cố miền Nam” bằng cuộc “đánh lừa nhân dân vĩ đại” của ông Hồ và đảng CSVN đã làm hao tốn xương máu của hàng triệu thanh niên, thiếu nữ tuấn tú miền Bắc và giết hại nhiều triệu người dân miền Nam trong cuộc nội chiến suốt 20 năm chỉ để chuốc lấy hận thù, chia rẽ và tuyệt vọng của nhân dân hai miền với chế độ từ sau ngày thống nhất 1976.

Vì vậy ở Việt Nam đã có nhiều Nhà Trí thức và cựu đảng viên cao cấp đã công khai đặt vấn đề “viết lại lịch sử ” để làm sáng tỏ “công-tội” của đảng CSVN và ông Hồ Chí Minh trong hai cuộc chiến (1930-1954 và 1954-1975).

Cũng như đinh đóng cột là mãi đến sau ngày 30/04/1975, khi miền Nam trù phú rơi vào tay quân Cộng sản miền Bắc nghèo đói thì bộ đội và nhân dân miền Bắc mới vỡ lẽ ra họ “bị mắc lừa” bởi chiêu bài “giải phóng”.

Thảm họa này đã xác nhận bởi Nghị quyết 10/09/1960: “Trong sự nghiệp hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà, đồng bào ta ở miền Nam có nhiệm vụ trực tiếp đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng để giải phóng miền Nam. Cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam còn có tác dụng ngan chặn âm mưu của Mỹ - Diệm gây lại chiến tranh, tích cực góp phần giữ gìn hòa bình ở Đông Dương, Đông - Nam á và thế giới.”

Tuyên truyền này đã phản bội thực tế khi hai chính phủ Mỹ và VNCH không “gây lại chiến tranh” mà chiến tranh đã do miền Bắc chủ động theo xúi bẩy của Nga và Trung Cộng để rơi vào cạm bẫy “dùng người Việt giết người Việt” cho hai miền Nam-Bắc kiệt quệ và mãi mãi lệ thuộc vào nước lớn như Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa đã bị Chu Ân Lai “bảo sao nghe vậy” tại Hội nghị Geneve 1954.

Sự ràng buộc vào Trung Cộng từ “ý thức hệ” đến “miếng cơm manh áo” của Hà Nội đã khiến Tổng Bí thư đảng “của lực lượng CCSVN đánh thuê” Lê Duẩn phải thú nhận: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta.”

(Theo Tác gỉa Vũ Thư Hiên của Đêm giữa ban ngày, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 1997)

Giờ đây, 54 năm sau, những gì Nghị quyết của Đại Hội đảng III đề ra để đẩy dân vào chỗ chết vô ích đều đã được chứng minh.

Những chủ trương như:“Tang cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tang cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam á và thế giới” đã tan ra mầy khói.

Việt Nam ngày nay, dưới quyền cai trị độc tài, độc đảng của CSVN đã lệ thuộc quân sự-quốc phòng vào nước Nga và kinh tế-chính trị-ngọai giao vào Trung Cộng.

TRUNG CỘNG NGÀY ẤY VÀ BÂY GIỜ

Đối với Trung Cộng tuy miệng nói “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, nhưng cũng đã dậy cho đảng CSVN nhiều bài học cay đắng, bắt đầu từ Hội nghị Geneve 1954.

Các tài liệu của phiá Hà Nội đã chứng minh Phái đòan VNDCCH do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngọai giao Phạm Văn Đồng cầm đầu không được độc lập ở Geneve. Mọi chuyện đều do Trưởng đòan Trung Cộng Chu Ân Lai quyết định. Mọi liên lạc của VNDCCH đều phải qua hai Phái đòan Trung Cộng và Liên bang Xô Viết.

Theo Phó Thủ tướng Vũ Khoan thì: “Trung Quốc đóng vai trò lớn. Bằng chứng là tháng 8-2008, Nhà xuất bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc xuất bản cuốn Chu Ân Lai và Hội nghị Genève của tác giả Tiền Giang công bố rất nhiều tư liệu mới, trong đó tác giả đã trích đăng bức điện ngày 2-3-1954 của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi Trung ương Đảng ta đề nghị: “Nếu muốn đình chiến, tốt nhất nên có một giới tuyến tương đối cố định, có thể bảo đảm được một khu vực tương đối hoàn chỉnh. Trên thực tế, giới tuyến đình chiến hôm nay có thể trở thành ranh giới chia cắt trong ngày mai... Đường giới tuyến này càng xuống phía Nam càng tốt. Có thể tham khảo vĩ tuyến 16 độ bắc” (tư liệu này còn được trích dẫn trong cuốn Cuộc đời Chu Ân Lai do Nhà xuất bản Nhân Dân Trung Quốc xuất bản năm 1997).

Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành đàm phán, phía ta từng đưa ra các phương án về khu vực đình chiến và tập kết quân như giới tuyến tạm thời chạy theo vĩ tuyến 13 (khoảng tỉnh Phú Yên) hoặc vĩ tuyến 14 (khoảng Bình Định). Lúc đầu, Trung Quốc đưa ra vĩ tuyến 16 như trên đã nói (khoảng dưới Đà Nẵng) nhưng cuối cùng đã lấy vĩ tuyến 17 (Quảng Trị) làm giới tuyến.” (Đài Phát thanh Quốc gia (Voice of Vietnam, VOV, 17/07/2014)

“Nhà thơ Việt Phương, thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng kể:

“Khi bàn thảo về Hiệp định Geneva, Bộ Chính trị của ta chỉ đồng ý lấy vĩ tuyến 16 là ranh giới cuối cùng của khu phi quân sự tạm thời giữa hai miền Nam – Bắc trong thời gian chờ tổng tuyển cử. Nhưng Trung Quốc với sự ảnh hưởng của mình, đã khăng khăng ép ta phải đồng ý chọn vĩ tuyến 17. Khi chúng ta bàn bạc vấn đề này với Trung Quốc, họ đã nói: “Chúng tôi là tướng ngoài mặt trận. Các đồng chí hãy để cho chúng tôi tùy cơ ứng biến”. Khi nói như thế, người Trung Quốc đã tự cho mình quyền định đoạt số phận của người Việt Nam”.

Ông Việt Phương kể tiếp:” Thời điểm đó, ta đã kiểm soát phần lớn vùng Nam bộ, ngoại trừ một vài đô thị nhỏ. Ở miền Bắc, ta chiến thắng vang lừng ở Điện Biên. Nhưng Trung Quốc đã bắt ta phải ký một hiệp định chia cắt đất nước - một hành động mà sau này như nhiều người nói: “người anh lớn” đã phản bội lại “người em” của mình.

Năm 1972, trong một cuộc trò chuyện với Chu Ân Lai, nhắc lại về Hiệp định Geneva, ông Lê Duẩn đã không ngần ngại lên án: “Năm đó, người Trung Quốc các anh đã bán đứng chúng tôi trên bàn đàm phán”.

Vân theo ông Việt Phương, ông Lê Duẩn là người luôn luôn cảnh giác sự xen lấn và áp lực của Trung Cộng, do đó, đã có lần ông bảo: “Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc.”

(Theo Báo Một Thế Giới, 08-07-2014)

Lập trường của Pháp khi ấy muốn chia đôi Việt Nam ở Vỹ tuyến 18 (khỏang Đồng Hới, tỉnh Qủang Bình) nhưng rồi cũng đồng ý dung hòa với Chu Ân Lai ở vỹ tuyến 17.

Chuyên gia ngọai giao Nguyễn Khắc Hùynh còn tiết lộ: “… Trung Quốc đến Giơ-ne-vơ với mục tiêu chính là an ninh của Trung Quốc và mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc. Cụ thể là: tranh thủ có hòa bình, đẩy Mỹ xa Đông Dương, làm suy yếu và chia cắt Việt Nam, xóa ảnh hưởng của Việt Nam ở Lào, Cam-pu-chia, phát triển ảnh hưởng của Trung Quốc ở hai nước đó và ở Nam Việt Nam, mở rộng quan hệ với các nước phương Tây, nâng cao vị thế quốc tế của Trung Quốc.

Trong chín bên tham gia hội nghị, chỉ có Việt Nam là bên tham chiến kiên trì lợi ích dân tộc cho nên Trung Quốc liên tục lôi kéo, o ép, hù dọa, thậm chí dùng “đòn ngầm” với Việt Nam để đạt mục tiêu của Trung Quốc. Nắm được chỗ yếu của Pháp, Trung Quốc trở thành bên đối thoại chính với Pháp. Trung Quốc không ủng hộ Việt Nam trên bất cứ vấn đề nào. Đến phút chót, Liên Xô, Trung Quốc ép Việt Nam chấp nhận giới tuyến sông Bến Hải.

Vấn đề lớn thứ hai là thời hạn tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Ta muốn có tổng tuyển cử sớm (sau sáu tháng), nhưng Chu Ân Lai đề nghị tổng tuyển cử vào năm 1956 và thời gian cụ thể do nhà đương cục hai vùng quyết định. Như vậy là trên thực tế đã giao quyền quyết định thời gian tuyển cử cho chính quyền Bảo Đại và Pháp là bên đàm phán chính đang quản lý miền nam không còn trách nhiệm gì.

Với cả ba vấn đề chủ yếu và nổi cộm nhất của giải pháp lập lại hòa bình cho Đông Dương là vấn đề giới tuyến phân vùng, vấn đề tổng tuyển cử và vấn đề Lào - Cam-pu-chia, đoàn Việt Nam đều rất khó khăn và hầu như không bảo vệ được các yêu cầu cơ bản.”

Trớ trêu thay, tình trạng “bị động” của phái đòan Phạm Văn Đồng ở Genev 1954, như tiết lộ của Nhà thơ Việt Phương, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan và ông Nguyễn Khắc Huỳnh đã được “hóa trang” để tuyên truyền sai lạc bởi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) trong bài “Hiệp định Geneva: Thắng lợi to lớn của ngoại giao Việt Nam” (14-07-2014).

Bài viết khoe rằng:“Trong bối cảnh Hội nghị Geneva được tổ chức theo sáng kiến của các nước và chịu sự tác động các nước lớn với những mục tiêu và lợi ích khác nhau, song chúng ta vẫn kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ thể hiện trong việc xác định mục tiêu, nguyên tắc đàm phán, nhưng linh hoạt về sách lược và bước đi.”

Với kinh nghiệm Chu Ân Lai coi thường Việt Nam tại Hội nghị Geneve ngày ấy, chuyên gia Nguyễn Khắc Hùynh cảnh giác: “Một bài học quan trọng từ Giơ-ne-vơ, vận dụng vào thời cuộc hiện nay và cả về sau là ta phải luôn hiểu chiến lược, tính toán của các nước lớn. Đặc biệt, cần làm rõ âm mưu lâu dài của Trung Quốc độc chiếm Biển Đông. Nay Trung Quốc đang dùng giàn khoan để bành trướng, điều này cho thấy rõ rằng công cuộc xâm lấn Biển Đông đã được Trung Quốc trù liệu từ lâu, nay bước sang giai đoạn triển khai mới mạnh mẽ, hung hăng, quyết liệt hơn, bất chấp đạo lý, pháp lý và dư luận. Vì vậy khái quát bài học này là phải hiểu kỹ Trung Quốc qua các tính toán và hành động cụ thể.”

Bây giờ gìan khoan Hải Dương 981 đã rút khỏi vùng biển của Việt Nam từ ngày 15/7 sau khi đã đến đó thăm dò dầu khí hôm 02/05/2014.

Gìan khoan chỉ rút về đảo Hải Nam của Trung Cộng khi bị bão Thần Sấm (Rammasun) ập đến cắt ngắn kế họach thăm dò đến 30 ngày, nhưng phiá Trung Cộng nói dàn khoan đã hòan tất kê họach tìm thấy dầu tại 2 giếng.

Tuy nhiên Bắc Kinh không cho biết số lượng dự trữ là bao nhiêu và liệu giàn khoan HD 981 có quay trở lại Biển Đông hay không. Pháp ngôn viên Hoa Xuân Oánh từng nói Trung Cộng sẽ tiếp tục gửi các gìan khoan khác đến Biển Đông mà bà Hoa gọi là “Biển Trung Hoa” để thăm dò dầu khí.

Trong suốt thời gian hoạt động của gìan khoan, Trung Cộng đã bác bỏ phản đối của Việt Nam trong 30 cuộc gặp gỡ và lực lượng hải quân, không quân và dân sự của Bắc Kinh đã khống chế lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư và các tầu cá của Việt Nam.

Các bài học khắc nghiệt khác mà Trung Cộng đã dành cho CSVN từ khi hai nước tái lập quan hệ ngọai giao năm 1990 gồm có:

1)Không thảo luận với Việt Nam về ai có chủ quyền ở quần đảo Hòang Sa sau khi Bắc Kinh đem quân chiếm tòan bộ từ tay quân lực Việt Nam Cộng Hòa năm 1974.

2)Đã đem từ 400 đến 600 ngàn quân, chiến xa, trọng pháo và máy bay tấn cống vào 6 tỉnh Việt Nam dọc biên giới năm 1979 mà Đặng Tiều Bình, lãnh tụ Trung Cộng khi ấy gọi là “dạy cho Việt Nam một bài học.”

3)Yểm trợ quân Khmer đỏ mở cuộc tấn công qua biên giới Việt Nam ở vùng Tây – Nam từ năm 1975 đến 1978.

4)Đem 30,000 quân đánh chiếm nhiều vị trí của Việt Nam ở Huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang) từ 1984 đến 1989, quan trọng nhất là điểm cao 1509 (tức Núi Đất) mà Trung Cộng gọi là núi Lão Sơn.

5)Đem quân chiếm 8 đảo và đá ngầm của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa tháng 03/1988.

Tuy vậy, Lãnh đạo đảng CSVN từ thời Lê Duẩn (1960-1986) đến Nguyễn Phú Trọng (từ tháng 01/2011), xuyến suốt xen qua các “triều đại” Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và Nông Đừc Mạnh đã không có hành động nào cụ thể để bảo vệ đất nước không bị lệ thuộc vào Trung Cộng.

Giờ đây, dù Việt Nam không còn chiến tranh nhưng sự vẹn tòan lãnh thổ và biển đảo luôn luôn bị Trung Cộng đe dọa đánh chiếm nếu Bắc Kinh muốn.

Trung Cộng cũng đã kiểm soát nền kinh tế của Việt Nam, luôn luôn kìm hãm Việt Nam trong qũy đạo của Bắc Kinh trong các lĩnh vực chính trị và ngọai giao, và quan trọng hơn, đã nắm được một số đầu não quan trọng trong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN.

Như vậy, nếu áp lực của Trung Cộng tại Hội nghị Geneve chỉ có một thì giờ đây áp lực ấy đã tăng lên gấp trăm lần hơn vì “con cá Việt Nam” đã bị Bắc Kinh “bỏ lên chiếc thớt made in China”.

CỤ TRẦN VĂN ĐỖ

Cũng chính vì hiểu được thân phận của một nước nhỏ nhưng có bản lĩnh vững vàng mà Phái đòan Chính phủ Quốc gia Việt Nam của Trưởng đòan Ngọai trưởng Trần Văn Đỗ (thay ông Nguyễn Quốc Định) đã từ chối ký vào Hiệp định để phản đối quyết định chia đôi Việt Nam của các cường quốc. Cụ Đỗ cho rằng những điểm thỏa hiệp đã đẩy Việt Nam vào tình thế nguy hiểm và vì Pháp tự ý quyết định mọi việc.

Cụ đã đưa ra Tuyên bố tại Geneve: "Việc ký hiệp định giữa Pháp và Việt Minh có những điều khoản gây nguy hại nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia Việt Nam. Hiệp định đã nhường cho Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của (Quốc gia) Việt Nam quyền tổ chức phòng thủ. Bộ Tư lệnh Pháp đã tự ấn định ngày tổ chức tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn quốc gia Việt Nam... chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở."

Bản văn phản kháng và đề nghị của Cụ Trần Văn Đỗ không được Hội nghị bàn tới vì vậy cụ đã bực bội khi nói với báo chí"Từ khi đến Genève, phái đoàn không bao giờ được Pháp hỏi về ý kiến về điều kiện đình chiến, đường phân ranh và thời hạn Tổng tuyển cử. Tất cả nhưng vấn đề đó đều được thảo luận ngoài Hội nghị, thành ra phái đoàn Việt Nam không làm thế nào bầy tỏ được quan niệm của mình.”

Bây giờ cụ Trần Văn Đỗ, Nhà ngọai giao kiên cường của VNCH không còn nữa nhưng khí phách của Cụ tại Geneve sẽ mãi mãi tồn tại với lịch sử vì ngày ấy, Cụ đã không để cho Trung Cộng và Xô Viết lừa đảo và áp chế như lịch sử đã chứng minh./-

Phạm Trần


----

Di Chúc Bắc Kỳ Tự Do


Cho C. và những người bạn đất Bắc của tôi

Câu chuyện kỷ niệm 60 năm về hành trình đến miền Nam của hơn một triệu người trôi qua lặng lẽ. 20 tháng 7, 1954 trở thành lịch sử thế giới, nhưng chưa bao giờ đủ với những câu chuyện kể về số phận và suy nghĩ của riêng người Việt.

 Tôi chờ đọc một áng văn nào đó, nói về suy nghĩ của những người miền Nam khi nhìn thấy dòng người Bắc Kỳ này, khi họ đến đồng bằng, chảy về thành phố, nhưng không thấy. Tràn ngập những bài viết chỉ là nỗi nhớ tha hương, là ký ức và lòng kiêu hãnh của những người tìm tự do từ phía Bắc. Vì vậy, tôi muốn ghi ra chút ít ở đây, về cái nhìn của một người miền Nam, về cha mẹ, ông bà của bạn bè Bắc Kỳ, dù họ còn hay đã mất.

Hai tiếng “Bắc Kỳ” xuất hiện trên miệng trẻ con miền Nam, và cả của tôi, suốt một thời gian dài, chỉ là sự trêu chọc ban bè cùng lứa, vì một kiểu ngữ âm rất khác mình. “Bắc Kỳ” trong ký ức từng là một tâm cảm bị ám thị, thiếu thiện cảm hơn cả khi so sánh với “Ba Tàu”. Chỉ khi tạm đủ chữ trong đầu, biết thêm về đất nước này, hai chữ “Bắc Kỳ” trong tôi mới thật sự thay đổi. Có lẽ cũng giống như tôi, nhiều người miền Nam hời hợt kỳ thị đã tự làm cho mình bớt xấu hổ bằng cách lập ra những hạng mục khác như Bắc kỳ 9 nút (54), Bắc kỳ 2 nút (75)… để bày tỏ rõ hơn trong nhìn nhận.

Nhưng không đủ.

Phải mất đến hơn nửa đời người, tôi mới nhận ra rằng không hề có một giai cấp nào trong đồng bào miền Bắc của đất nước mình, mà chỉ có một cuộc sống không được chọn lựa nào đó đã phủ chụp lên từng miền, từng vùng đã ảnh hưởng cùng cực đến họ, tạo ra những điều khó tả nhưng vậy. Ở mọi miền, Nam hay Trung hay Bắc, người ta cũng đều có thể nhìn thấy kẻ vô lại trong giống nòi, nhưng sự khó khăn nhìn nhận luôn thường dành cho phía Bắc, như một ám chỉ về một vùng đất phải chịu sự khác biệt về chính trị trong nhiều năm, như đã ám toán mọi sinh lực sống bình thường của con người.
Tôi nhận ra điều đó, ở một ngày khi thấy chung quanh mình có rất nhiều bạn, kể cả thầy cô, là những người Bắc mà tôi tin cậy. Họ đại diện cho những người “Bắc kỳ” mạnh mẽ, vượt qua số phận và hoàn cảnh của mình để không bị đè bẹp, không hèn hạ hoặc chết, như F. Nietzsche đã viết “những gì không giết được chúng ta, sẽ làm chúng ta lớn mạnh hơn” (That which does not kill us makes us stronger).

60 năm của những người Bắc di cư vào Nam, cho tôi và thế hệ của mình được nhìn rõ họ hơn, nhắc tôi phải nói về một bản di chúc lớn, một bản di chúc vĩ đại mà hơn một triệu người từ bến tàu Hà Nội, Hải Phòng… mang đến cho cả đất nước. Bản di chúc cũng được lưu giữ trong mắt, trong lời nói của từng người Việt tha hương khắp thế giới: bản di chúc về tự do.

Cả miền Nam sau 1954 cần phải có một lời cám ơn văn chương Bắc Kỳ, âm nhạc Bắc Kỳ, báo chí Bắc Kỳ… đã góp tay dựng lên một nền văn hóa của cả đệ nhất và đệ nhị cộng hòa của miền Nam. Nền văn hóa ngắn ngủi nhưng đủ trường tồn và mạnh mẽ vượt qua một chướng ngại, tồn tại trong lòng người từ sau 1975 đến nay, ở Việt Nam và trên cả thế giới. Cùng với những người anh em từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, những người Bắc đó đã làm tất cả để bù đắp, để dựng xây… cho thỏa sức, việc họ rời bỏ rất xa quê nhà, thậm chí trơ trọi, chỉ để đổi lại hai chữ tự do.

Rất nhiều năm sau đó, con cháu của những người bắc 54 cũng lớn lên ở miền Nam hay vượt đại dương đến nơi nào đó, không ít người trong họ vẫn âm thầm mang theo một bản di chúc có thể sống mãi đến nhiều thế hệ sau về tự do, và chọn lựa vì tự do. Trong một lần ở Mỹ, tôi nghe phát thanh viên của một đài radio người Việt bình luận về một nỗi nhớ quê nhà Hà Nội. Nhớ con đường quanh Hồ Gươm, nhớ con hẻm có bán canh bún nhỏ… Giọng Bắc của anh ta trầm buồn như mới ngày hôm qua còn nhìn thấy những thứ đó, trong khi tôi biết rõ anh chưa về Việt Nam một ngày nào kể từ sau 1975. Sau lần phát thanh đó, gặp anh, tôi trêu là sao anh nói cứ như là cứ vừa ở Việt Nam về. Đột nhiên giọng anh trầm lại “Phải cố gắng nhớ dù chỉ là tưởng tượng lại. Phải nhớ như nhớ lời của ông bà mình xua mình xuống tàu, trối dặn mình phải sống với tự do”. Tim tôi như thoáng ngừng đập trong tíc tắc. Dòng người mờ ảo trong những cuốn phim tài liệu trắng đen về số phận Việt Nam chia cắt ập về. Tôi cũng nhận ra rằng bản di chúc tự do đó, không phải những người Bắc Kỳ chia cho nhau, mà chia lại cho tôi, cho bạn, cho cả dân tộc này. Từng người chúng ta được nhận. Chọn lựa mình hôm nay khốn nạn hay tử tế, là do mình đã không chịu nhìn thấy di sản của cha ông gửi lại qua bản di chúc không thành văn này.

Tôi nhìn thấy người bạn trẻ của tôi, con một người Bắc di cư, nay sống ở Biên Hòa, đưa một tấm ảnh kỷ niệm 60 năm người Bắc xuống tàu vào Nam. Khi bên ngoài người ta nói về những điều lớn lao như hiệp định Genève và các chính quyền, thì cũng có một dòng người không nhỏ đưa lại những hình ảnh thuộc về con người. Có những tấm ảnh khiến mình phải lặng đi khi thấy cụ già bước gấp vào Nam, hành lý trên tay quý nhất chỉ là tấm hình Đức Mẹ. Người bạn trẻ của tôi đưa lên tấm ảnh người ta chen chúc chia tay nhau ở một bến tàu. Khó mà biết được ông bà hay cha mẹ của anh đã có mặt ở đó hay không, trong những chấm li ti như cát bụi. Bản thân người bạn trẻ đó thì giờ cũng là phần li ti trong hàng triệu người Bắc 54 đã lớn lên, đã thành đạt ở miền Nam này hôm nay.

Và tôi nhận ra rằng, bản di chúc tự do đó cũng vẫn đang âm thầm trong anh, như bao phần li ti đang trỗi lên, trên đất nước này.

Tuấn Khanh

Loading...