Vương Tế Philip, Công Tước Xứ Edinburgh
1921 - 2021
-
His Royal Highness The Duke of Edinburgh
It is with great sadness that we have learned of the death of His Royal Highness The Duke of Edinburgh. We are the Vietnamese Boat Peoples in United Kingdom to send our deepest sympathy to the Royal Family.

R.I.P HRH Prince Philip
https://www.google.com/images/hpp/ribbon-black-96x136.png



Friday, 16 April 2021

46 Năm :Người quốc gia VNCH không bao giờ là “ngụy”

 

46 năm hỗn danh ngụy và những trận đòn thù của ác quỷ!
 nguoi linh viet nam cong hoa - Chiến Sĩ – Tranh Mai Tâm
- Con người Việt Nam vốn nặng tình quê hương Tổ Quốc. “Bỏ nước” là bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, là bỏ mồ mả ông bà cha mẹ, bỏ quê cha đất tổ… Thế mà, sau 30/4/1975, người dân Miền Nam Việt Nam, hàng triệu người hăm hở ra đi, cách này hay cách khác, bằng mọi giá, kể cả cái giá của chính sinh mạng mình: Vượt biên, vượt biển đầy hiểm nguy, bất trắc, chín mất một còn, vẫn lao vào cõi chết để tìm sự sống! Từ 400 đến 500 ngàn người mất xác giữa biển cả làm mồi cho cá mập vì bị hải tặc sát hại hay bão tố đánh chìm tàu ghe! Hoặc bị phanh thây bởi thú rừng nơi hiểm hóc xa xôi không ai biết. Vì sao?
Những nạn nhân bị triệt đường sống.
Cách đây 40 năm, ngày 30/4/1975! Việt Nam Cộng Hòa, tức Miền Nam Việt Nam rơi vào tay quân cộng sản Bắc Việt. Vô sản chuyên chính ngự trị! Quả không có tắm máu, nhưng tang thương bao trùm! Toàn Miền Nam Việt Nam rướm máu! Bế quan tỏa cảng! Lao động khổ sai quần quật! Đói rách triền miên! Bắt bớ! Dọa dẫm! Hiếp đáp! Tù đày! Khủng bố trắng kéo dài, năm này sang năm khác! Không ít người bị thủ tiêu, mất tích!
Người dân Miền Nam Việt Nam bị tròng vào cổ cái ách nô lệ thời đại mới với bao điều thống khổ, sống dở chết dở, ngoại trừ một số rất nhỏ những phần tử nằm vùng tiếp tay cho CS phá hoại Miền Nam. Không ai còn lựa chọn nào khác để bảo đảm một cuộc sống an bình về tâm hồn, lành mạnh về thể xác, một cuộc sống trong đó lẽ ra mọi người đều bình đẳng cùng hưởng những quyền tự do tối thiểu như nhau.
Suốt chặng đường dài 30-40 năm, người Việt Nam nơi đất khách, như trên đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, ai mà chẳng trải nghiệm đôi lần bị kỳ thị, bị phân biệt đối xử? Ở bên nhà, mỗi lần vớ được một tin tức kỳ thị tại Hoa Kỳ, CSVN không bỏ cơ hôi khai thác, phóng đại thành những hình ảnh vô cùng đen tối và ghê rợn. “Nước Mỹ là thế đấy! Bạo hành! Cướp giật! Kỳ thị nhan nhản!” Trong khi đó, trên thực tế, các vụ kỳ thị ở Mỹ phần lớn mang tính cá nhân hay bè nhóm riêng lẻ ở một xứ sở gọi là Hợp Chủng Quốc – nước của nhiều chủng tộc, nhiều sắc dân từ khắp thế giới tấp nập dồn về hàng ngày, hàng giờ! Làm sao tránh khỏi những va chạm về màu da chủng tộc hay văn hóa, ngôn ngữ và tập quán? Nhưng hoàn toàn thua xa chính sách, chủ trương phân biệt đối xử do chế độ CS tại Việt Nam dựng lên từ 1975 đến nay, mà nạn nhân đứng đầu bị kỳ thị là những người cộng tác với chính thể VNCH cùng thân nhân của họ!
Kỳ thị tại Việt Nam dưới chế độ cộng sản.
CSVN luôn vỗ ngực tự cho mình “ưu việt”, là “đỉnh cao trí tuệ loài người”, là lực lượng “bách chiến bách thắng dưới ngọn cờ Mác-Lê vĩ đại”! Từ cái não trạng kiêu đảng (tự tôn mặc cảm) này cộng với nỗi sợ mất đi độc quyền đảng trị (do tư ti mặc cảm), nhà cầm quyền CSVN càng đẩy mạnh chính sách phân biệt đối xử tới chỗ kỳ thị không khoan nhượng qua chiêu bàiđấu tranh giai cấp và phân biệt lằn ranh đảng-ngụy!
Kỳ thị giai cấp.
Thấy gì trong đấu tranh giai cấp của CSVN?
Năm 1954, CSVN dưới tên gọi là Việt Minh (VM) cấu kết với thực dân Pháp chia đôi đất nước Việt Nam thành hai miền. Qua Hiệp Định Genève 1954, CSVN hiến dâng Miền Nam cho thực dân Pháp, VM thống trị Miền Bắc. Quốc gia Việt Nam tẩy chay Hiệp định vì nó vi phạm nguyên tắc “toàn vẹn lãnh thổ” của quốc gia dân tộc.
Tại Miền Bắc, VM nhận lệnh của quan thầy Mao Trạch Đông bên Tàu, thực hiện Cải Cách Ruộng Đất, phát động những cuộc đấu tố man rợ nhắm vào các thành phần “trí, phú, địa, hào, tư sản”. Hàng trăm ngàn người Việt Nam bị tố oan, tù oan, giết oan. Dân chúng quê mùa chất phác và cả trẻ em bị cán bộ VM lùa đi, ép phải dự những phiên đấu tố mất tính người, phải hò hét “Giết nó! Giết nó đi!”
Thực hiện khẩu hiệu “giết lầm hơn bỏ sót”, đảng cộng sản chẳng phải chỉ hô hào “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ”(Tố Hữu) mà còn xúi giục và cả bức bách con cái đấu tố cha mẹ, vợ chồng đấu tố lẫn nhau, bà con, hàng xóm láng giềng rình rập nhau, tố cáo lẫn nhau, buộc tội cho nhau, kết án nhau và dìm nhau chết để cho “vô sản chuyên chính” lên ngôi toàn trị!
Một trận càn quét mang tính kỳ thị vô nhân đạo được thực hiện dưới danh nghĩa “đấu tranh giai cấp” như Xuân Diệu hô hào:
Anh em ơi! Quyết chung lưng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù,
Địa hào, đối lập ra tro,
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương.
...
Mọi giềng mối quan hệ tình nghĩa luân lý tốt đẹp bị đảo lộn và triệt tiêu hoàn toàn.
Lôi cổ bọn nó ra đây,
Bắt quỳ mọp xuống đọa đày chết thôi!...
Sách báo đã nói nhiều về Cải Cách Ruộng Đất cùng với những hệ lụy của nó. Người ta ước tính có hơn 160 ngàn người là nạn nhân của những cuộc đấu tố sắt máu dã man trên.
Kỳ thị đảng -- ngụy.
Ngoài Bắc thì kỳ thị giai cấp như vậy. Trong Nam thì sau khi thắng cuộc, CSVN đánh vào toàn thể quân-dân-cán-chínhMiền Nam Việt Nam bằng một cuộc đấu tranh khác. Đó là Kỳ thị đảng -- ngụy. Kể cả khi cần tranh thủ nhân tâm như thời Tết Mậu Thân 1968 ở Huế cũng như sau khi đã thắng trận (1975), CSVN luôn đặt chính sách kỳ thị đảng – ngụy lên hàng đầu hầu bảo đảm sự sống còn và vai trò thống trị độc quyền độc đảng trên cả nước.
Những ai phục vụ trong Chính quyền VNCH dù ở đẳng cấp nào từ Trung ương xuống xã ấp, như thư ký xã, chạy công văn cũng đều là NGỤY QUYỀN. Tham gia Quân lực VNCH dù là anh binh nhì, chú Nghĩa quân cũng là NGỤY QUÂN. Người dân có thân nhân dính líu tới “ngụy quân”, “ngụy quyền” thì là DÂN NGỤY!
Sức tuyên truyền, nhồi sọ kiểu tẩy não của CSVN thật là khủng khiếp! Cái từ “NGỤY” trở thành một thứ khắc tự nung lửa đóng vào đầu, vào trán và sau lưng hàng triệu nạn nhân như thế. Cả đám trẻ nít mới cắp vở tới trường cũng bị nhét vào đầu những từ ngữ mất dạy để chúng “vô tư” hỗn xược với các bậc cha ông của chúng: thằng ngụy, tên ngụy, bọn ngụy, lũ ngụy…
“Đánh cho ngụy nhào”! Chưa hả hê sao? Hạ nhục và nhận sâu người ta xuống hàng chó ngựa từ bao chục năm, vẫn chưa thỏa lòng sao? Tiếp tục gây hận thù, hiềm khích đến bao giờ mới thôi trong khi mồm cứ lải nhải “hòa hợp hòa giải” láo toét?
Có kỳ thị không trong cách gọi tên?
Có một thời, tại Miền Nam Việt Nam, người ta thỉnh thoảng nghe tới những từ “Cộng phỉ” và “Cộng nô”. Nhưng rồi hai nhóm từ ấy vắng bóng dần. Sau 1975, tại hải ngoại, có người gợi ý dùng lại từ “Cộng phỉ” để nói lên bản chất ăn cướp và gian ngoa của CSVN. Hay từ “Cộng nô” để nói về tính chất nô dịch, tôi đòi của CSVN đối với Tàu Cộng và Liên Xô. Hoặc gọi là “Cộng tặc” để chỉ cái căn tính gian ác, điêu ngoa, đạo tặc của CSVN. Rất chính xác! Nhưng người dân Miền Nam Việt Nam vốn xởi lởi khoan dung, nặng tình người, nên những từ ấy không còn phổ biến tuy ai cũng biết PHỈ, NÔ và TẶC là cốt cách, là bản chất của CSVN. Lại những từ ngữ ấy không hề là chủ trương hay mệnh lệnh xuất phát từ những nhà lãnh đạo quốc gia VNCH trước năm 1975, mà chỉ là những “hỗn danh” mang tính đối phó dân gian mà thôi.
Còn cái tên gọi “Việt Cộng” thì chỉ là viết tắt từ Cộng sản Việt Nam! Nó không hề ngụ ý hạ nhục. Cộng sản Việt Nam trước kia đã chẳng tự nhận mình là Việt Minh sao? Việt Minh là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội đấy. Những từ ngữ viết tắt kiểu như vậy đâu xa lạ gì với ngôn ngữ Việt Nam! Việt Cách là Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội. Việt Quốc là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việt Tân là Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng, vân vân.
Về tên người cũng thế, người dân VNCH thể hiện tấm lòng độ lượng của mình trong cả cách gọi tên. Chẳng hạn, họa hoằn mới thấy có một bài báo hay một người nào đó gọi tắt Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh… là Minh, Duẩn, Chinh… Đó không hề là chủ trương của nhà cầm quyền VNCH trước 1975! Trong khi đó đối với các nhà lãnh đạo VNCH, nhà cầm quyền CSVN luôn buộc cả cán bộ lẫn dân chúng phải dùng một lối gọi hoàn toàn vô văn hóa, mất dạy, như Mỹ-Diệm, Mỹ-Thiệu…hoặc “thằng” này, “con” nọ, “tên” kia, với các bậc đáng tuổi cha, tuổi mẹ, ông, bà. Nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả quyển Đêm Giữa Ban Ngày, xác nhận: Báo chí, sách vở tại miền Bắc đều được lệnh phải gọi tất cả những nhà lãnh đạo các nước không theo Cộng Sản là “thằng” để tỏ ra là có lập trường giai cấp. Theo ông Hiên, cái thói gọi bằng “thằng” là do chính ông Hồ Chí Minh đặt ra, chẳng phải chỉ gọi nhà lãnh đạo VNCH là “thằng Ngô Đình Diệm”, (sau này là “thằng Thiệu”,“thằng Kỳ”), mà còn cả với nhà lãnh đạo Singapore, cũng là “thằng - thằng Lý Quang Diệu” chỉ vì các vị trên đều chống chủ nghĩa Cộng sản.
“Ngụy”! – Còn từ nào độc địa hơn?
Cái từ “ngụy” mà CSVN gán cho quân-dân-cán-chính VNCH rõ ràng là từ ngữ bộc lộ cách gọi hoàn toàn vô giáo dục xuất phát từ miệng lưỡi bệnh hoạn hôi hám của phường bất lương hạ cấp! Bộ máy tuyên truyền CSVN phổ biến cái “hỗn danh” mất dạy ấy, cấy nó vào đầu óc người dân, để ai nấy khi nói tới “ngụy” là nói tới những thứ ghẻ lở cùi hủi gớm ghiếc. Trong khi trên thực tế, những người bị đóng khắc tự “ngụy” chẳng làm gì phản dân hại nước cả. Chính nghĩa họ sáng ngời trong việc họ hy sinh xương máu để bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc từ nội địa tới tận các vùng biển đảo xa xôi!
Trái lại, ai hèn với giặc, ác với dân, cả nước đều rõ! Bằng chứng rành rành! Thậm thụt nộp đất, dâng đảo cho Hán tặc, là ai, ai là thủ phạm? Còn biết bao điều bí mật, rồi đây trước sau gì cũng sẽ “thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi”! Cái bọn mại quốc cầu vinh ấy, cứ theo phép nước của vua Lê Thánh Tôn mà tru di chúng là vừa!
Khốn nạn thay! Tất cả những nạn nhân bị gán cho cái nhãn NGỤY đều bị loại ra khỏi dòng sinh hoạt của dân tộc, bị chặn đường sống, chặn đường tiến thân, cả gia đình bị dìm vào cái án “lý lịch đen” muôn năm với từ “ngụy” tô đậm!
Là “ngụy” thì đâu có quyền sống cuộc sống yên hàn. Đâu có quyền sở hữu tài sản đáng giá, nhất là bất động sản ở thị xã, thành phố. Đâu được quyền có công ăn việc làm xứng hợp với khả năng, kiến thức hay sở trường chuyên môn. Và dĩ nhiên cũng mất đi quyền có một chỗ đứng xứng đáng trong xã hội! Nông thôn sẽ là nơi cư trú cố định cho “thành phần ngụy” với sự giám sát và quản lý của HTX/NN và chính quyền địa phương. Chỉ cạp gốc rạ, ăn tro mò trấu! Con cháu của “ngụy” phải chịu chung một số phận cha ông của chúng! Suối đời mang bản án “ngụy” cùng mọi hệ quả mà bản án chung thân truyền đời ấy định đoạt!
“Ngụy ác ôn”.
Xin ghi lại đây lời kể của một bà mẹ: Năm 1983, đứa con trai 10 tuổi của tôi theo học tại trường học xhcn ở vùng nông thôn. Một hôm, sau buổi học, về nhà cháu bỗng lăn ra vật vã trên giường, khóc sướt mướt. Hỏi mãi điều gì đã xảy ra. Nó cứ lắc đầu và không hết khóc. Cuối cùng, nó hỏi tôi: “Ba ác ôn lắm hở mẹ? Ác ôn làm sao?”
Tôi lờ mờ đoán ra được điều gì, nhưng vẫn hỏi lại con mình: “Ác ôn thế nào? Ai bảo thế?” Thằng con tôi nói: “Cô giáo, cô giáo người Bắc kêu học trò trong lớp hãy cảnh giác lánh xa cái thằng con của ‘tên Cảnh sát ngụy ác ôn’; nếu không, điểm đạo đức sẽ bị hạ xuống loại kém!”
Tôi nghẹn ngào chảy nước mắt cùng với con mình!
Điều đáng buồn là ngay sau biến cố trên, trường học xhcn ở Việt Nam trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng cho đứa con trai tôi. Bạn bè nó nhìn nó bằng những con mắt khác, nghi ngờ trộn lẫn khinh chê! Nó mặc cảm với hết mọi người ở đó, luôn tìm cách vắng lớp, bỏ học. Nhà trường thì coi đó là dịp để loại trừ một phần tử nguy hiểm cho chế độ - con của “cảnh sát ngụy ác ôn”!
Cái án dành cho “con ngụy” không phải chỉ chừng ấy thôi. Nó bao trùm nhiều mặt trong mọi lãnh vực, hận thù đằng đẳng vô cùng dã man.
Phân loại đối tượng(1) trong giáo dục.
Chẳng hạn, CSVN tổ chức xây dựng đoàn-đảng trong trường học, dùng học sinh “con cái cách mạng” như là “hạt nhân đỏ”nắm giữ các chức vụ chi ủy đảng/đoàn nhà trường, hoặc trưởng lớp, trưởng trường, mà nhiệm vụ chính là bám sát, theo dõi, báo cáo mọi hành vi của đám học sinh đối tượng - “con cái bọn ngụy ác ôn”.
Từ hồ sơ nhập học tới phiếu điểm, sổ điểm, học bạ, mọi thứ đều thông qua chính sách phân loại đối tượng (gồm 14, 15 cấp đối tượng khác nhau). Những học sinh thuộc diện “Thứ nhất con lai, Thứ hai con ngụy, Thứ ba Thiên Chúa giáo"(2) đều là đối tượng từ số 11 tới 15, đứng cuối bảng vì… “lý lịch đen”!
Còn cái nhóm gọi là con nhà cách mạng dĩ nhiên “ưu tiên 1”. dù học hành, đạo đức chẳng ra gì, hầu hết u mê dốt nát, đầu trộm đuôi cướp, lưu manh, ngỗ ngáo! Vẫn ngồi trên đầu thiên hạ!
Tội nghiệp cho thân phận các em con lai, con ngụy, Thiên Chúa giáo, trở thành những đứa trẻ bên lề xã hội, chúng buộc phải bỏ trường, bỏ lớp, cù bơ cù bấc, cu li cu liếc, lang thang bươi rác nhặt ve chai hay lao vào những ổ ma túy, trộm cắp, du côn du đảng! Để rồi người ta vin vào đó mà la toáng lên: chúng nó đó, “tàn dư văn hóa đồi trụy Mỹ-ngụy”.
Thú nhận có phân biệt đối xử.
Năm ngoái, ngày 03/4/2014, người ta đọc thấy trên báo Đất Việt một bài của tác giả Thuận Hòa nhan đề Trăn trở về hòa hợp dân tộc của cố Thủ tướng. Bài viết cố ý gợi nhắc lời phát biểu của ông Võ Văn Kiệt rằng “Có một thời kỳ sự hẹp hòi, thành kiến và đố kỵ đã làm tổn thương tình cảm của dân tộc... Thay vì phải làm sao giảm bớt nỗi đau của những gia đình Việt Nam có người thân… phải cầm súng... và đã tử trận, thì cho đến bây giờ vẫn còn nhiều trường hợp bị phân biệt đối xử. Không ai lựa cửa để sinh ra. Vì vậy, chúng ta không nên khoét sâu thêm vết thương trong lòng mỗi người Việt Nam.”.
Tác giả lại trích lời ông Gs Cao Huy Thuần (cán bộ CSVN tại Pháp) nói rằng “Đã gọi là dân tộc, sao còn phân biệt ngoài với trong, sao còn chia năm xẻ bảy hạng người Việt này với hạng người Việt kia?”
Thuận Hòa còn trích dẫn lời phát biểu của ông Võ Văn Sung, cựu đại sứ CSVN tại Pháp: “Những người bị ép cầm súng vì không trốn lính được đó phải mang cái án suốt đời, đó là án ‘ngụy quân’. Còn người làm trong chính quyền cũ cũng mang cái án ‘ngụy quyền’... Sự phân biệt đối xử kéo dài nhiều năm và khó có thể kể hết những tổn thất từ đó sinh ra. Sự tổn thất không chỉ đối với cá nhân mà đó là thiệt hại chung cho cả xã hội.”
Võ Văn Sung còn nêu rõ: “Duy chỉ chủ nghĩa lý lịch thôi cũng vùi dập không biết bao nhiêu nhân tài hoặc người có năng lực. Có không ít học sinh thi đậu đại học nhưng không được học. Các em không thể ‘lựa cửa để sinh ra’ nhưng phải chịu trách nhiệm về việc làm của cha mẹ mình”.
Những trích dẫn trên cho thấy những điều chúng tôi trình bày trong bài này là sự thật, không hề tô vẽ, thêm bớt.
Phân biệt đối xử tài năng.
Sự đối xử mang tính loại trừ và triệt tiêu đường sống “thành phần ngụy” không là chuyện riêng lẻ cá biệt, mà là một sách lược trường kỳ của cái đảng không có tính người, chủ trương đày đọa đến cùng hết mọi đối phương! Nghĩa là hàng triệu người dân Miền Nam Việt Nam đã là “ngụy”, thì muôn đời cứ là “ngụy”, là kẻ thù của chế độ CS, là những kẻ hoặc phải vất ra bên lề xã hội, hoặc phải chết thôi!
Nhớ lại sau năm 1975, có vài nhân vật “gốc ngụy” được CS tái sử dụng trong một ít lãnh vực chuyên môn, như ngành y tế, giáo dục và ngành khoa học kỹ thuật. Nhưng việc lưu dụng ấy chỉ mang tính giai đoạn tạm thời khi mà “người rừng về phố” còn cần đến! Được việc rồi, khi người rừng đã biết mặc chiếc áo thị thành thì lập tức họ giở quẻ chơi trò tráo trở lưu manh, thay trắng đổi đen, đạp người tài xuống tận đáy cùng của xã hội sau khi vắt cạn kiệt ngón nghề của người tài! Gán cho họ một cái tội “phản động” vu vơ nào đó rồi tống vào tù! Thầy giáo tháo giầy! Kẻ sĩ vào chuồng khỉ!
Với CS, ngụy là ngụy! Mà ngụy thì chỉ có loại trừ và đày đọa! CIA cài lại cả đấy! Trừ một ít viên chức VNCH cấp thấp trong ngành giáo dục và y tế tuy được chế độ mới tái sử dụng, nhưng luôn bị canh chừng và nhiều khi bị đặt vào những vị trí lệch với khả năng chuyên môn của mình. Khốn nạn nhất là, khi các viên chức ấy đến tuổi hưu, “thâm niên công vụ” của họ chỉ được xem xét để cho hưởng chế độ hưu bổng kể từ sau 30/4/1975; còn thời gian phục vụ trước đó thì đều là công dã tràng, bị xóa hoàn toàn, dù trong thực tế dưới chế độ cũ lẫn chế độ mới, họ cũng đều miệt mài trong lãnh vực giáo dục tuổi thơ, mầm non của Tố quốc và phục vụ bệnh nhân!
Thế nên, nơi thiên đường CS, chuyện trọng dụng nhân tài, chuyện chiêu hiền đãi sĩ là chuyện không tưởng! Ai cho phép chiêu hiền đãi sĩ để bọn hiền sĩ chiếm lĩnh quyền đảng? Đảng ta ưu việt! Đỉnh cao trí tuệ! Cho nên tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, phó giáo sư đều phải từ đảng mà ra! Đảng độc quyền trong mọi lãnh vực! Nhưng trên thực tế, mấy ông “sĩ” bà “sư” trong đảng lại nhờ đến đô-la Mỹ mới có được mấy mảnh bằng trương lên lòe chức sư, chức sĩ, để được tăng lương và thăng chức! Toàn bằng mua, bằng giả, hoặc bằng thật học giả! Khiến cho bầy trẻ nít dung dăng dung dẻ bài đồng dao “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”. Vậy mà người ta vẫn vênh vênh tự đắc… đại trí thức, trưng bằng, trưng chức, trưng học vị ào ào!“Trí thức – cục phân”, có lẽ lời của Mao Trạch Đông áp dụng đúng nhất cho loại trí thức “ngu” và “dốt” này!
Kỳ thị là căn tính và là sự sống còn của đảng CSVN.
Sau 30/4/1975, cả triệu công chức, cán bộ, quân nhân VNCH bị tống vào các trại tù gọi là “trại cải tạo” sau khi bị đóng khắc tự “ngụy”, bị ép lao động khổ sai quần quật năm này sang năm khác chẳng hề được xét xử. Không bản án, nhưng không biết ngày nào, tháng nào, năm nào ra khỏi nhà tù!
Đảng hô hào “cải tạo tốt, về sớm”! Nhưng đố ai biết được như thế nào là tốt, tốt tới đâu, lúc nào thì được nhìn nhận là đã “cải tạo tốt”? Năm năm, sáu năm, bảy năm, mười năm, mười lăm năm, hai mươi năm, ba mươi năm, “quyền họa phúcđảng tranh mất cả”. (nhại Kiều)! Vợ con ở ngoài xã hội thì luôn bị khủng bố dọa dẫm: “Các người ở ngoài mà lộn xộn không chấp hành tốt, thì chồng con các người đừng hòng được tha về”. Khốn nạn chưa cái án ngụy? Ngụy trong nhà tù, ngụy ngoài nhà tù đều điêu đứng!
Nhiều nạn nhân “cải tạo” ngã chết tức tưởi trong trại tù: Chết vì thiếu ăn, bị bỏ đói? Chết vì ngộ độc? Chết vì đau bệnh không được chữa trị? Chết vì bị hành hạ, đánh đập, bức tử? Mặc kệ! Ngụy chết, hết chuyện! Một manh chiếu rách, mấy tấm gỗ cưa xẻ thô, sai tù hình sự mang xác vùi chôn giữa rừng già, không để lộ dấu vết! Một tờ khai tử “chết vì sốt ác tính”! Thế là xong!
Những người may mắn sống sót trở về, kẻ thì thân tàn ma dại, bệnh hoạn tật nguyền, kẻ khác mắc chứng tâm thần, xóm làng dè bỉu… Khốn nạn nhất là ở tù về, người cựu tù lại cứ mãi mang cái khắc tự “ngụy” không gỡ ra được, không xóa được! Tù quản chế!
Thương phế binh “ngụy”
Tội nghiệp nhất là các anh em Thương Phế Binh VNCH. Các anh bị “chung thân ngoài đời” do sự tật nguyền của mình. Vì thương tật, các anh không sinh lãi mà có thể báo cô cái chế độ toàn trị là CSVN, các anh TPB/VNH không bị lôi vào nhà tù cùng với đồng đội, nên các anh không được coi là cựu tù nhân chính trị. Các anh không đi tị nạn chính trị. Nhưng tội nghiệp thay! Ở lại Việt Nam, các anh vẫn là “ngụy”, những “tên ngụy” nguy hiểm cho chế độ CS. Các anh đối diện với sự ngược đãi, sống lay lất trên đất nước giữa những người đang phân biệt đối xử nhân danh ý thức hệ, coi khinh, giày xéo các anh, dù thân thể của các anh chẳng còn gì khác ngoài những mảnh hình hài dị dạng lê lết thảm thương trên những nẻo đường vắng thôn quê hay phố phường. Tên các anh bị liệt vào sổ bìa đen; và dĩ nhiên “lý lịch đen” của các anh là: phần tử phản động cần theo dõi!
Bạn bè từ hải ngoại nhớ thương bạn đồng đội xấu số, gửi về chút quà! Quà bị đoạt sạch! Các anh bị hạch sách, gây khó dễ! Những xe lăn, gậy chống, chút ít đô la ăn sáng đều bị lên án có “yếu tố nước ngoài”, có “bàn tay lông lá CIA”, hoặc do “bọn ngụy quân, ngụy quyền cực kỳ phản động” chuyển về, nuôi hận thù, kích động âm mưu lật đổ! Tấm thân tàn các anh còn gì nữa để mà tiếp tay cho ai đến nỗi bị đối xử tàn nhẫn đến như vậy?
Truyền thống đạo lý của dân tộc ta nay hết rồi cái lý tưởng của một dân tộc “đạo nghĩa”, “chí nhân”, hay “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”! (Bình Ngô đại cáo). Rõ ràng CSVN không hề thuộc về dân tộc Việt Nam mà chỉ là bầy tôi của cái đảng cướp mang danh quốc tế vô sản chuyên gây ác mà nhân loại đã đào thải từ hơn 20 năm nay!
Kinh Tế Mới, nơi nhốt gia đình“ngụy”!
Chồng làm, vợ chịu, con mang! Đó là lý lẽ và luật lệ của Cộng sản. Cứ theo cái lý và cái luật ấy mà trừng trị: Lùa gia đình “ngụy” vào các nơi khỉ ho cò gáy được gọi là Vùng Kinh Tế Mới (KTM), cô lập khỏi cộng đồng xã hội trong nước. KTM lập ra không hề có mục đích phục vụ kinh tế-xã hội như Khu Trù mật, Khu Dinh điền của thời đệ nhất Cộng hòa hay những Ấp Tân sinh thời đệ nhị Cộng hòa! Vùng KTM của CSVN là nhà tù kiểu mới, nơi đày ải, cô lập gia đình “ngụy” cùng một số “đối tượng” thù địch của chế độ! Tù nhân không án chôn vùi đời mình ở đó, mãn đời mãn kiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác, theo kế hoạch đảng đã vạch.
Đằng sau sách lược đày ải này, CSVN còn bộc lộ lòng tham vô độ hết sức bẩn thỉu: Lợi dụng khai mở vùng KTM mới, CSVN còn nhằm mục đích tư lợi, tư túi, phá rừng, đoạt gỗ, nhất là các loại danh mộc, bất chấp hậu quả của việc xâm hại môi trường, gây bão lụt thiệt hại mùa màng và đời sống người dân. Lùa đẩy người dân thành thị về nông thôn hay đi KTM đều là mánh khóe bọn quan chức CS bày ra để đoạt nhà, cướp đất, vơ vét tài sản của “ngụy” và của “tư sản” trong thành phố một cách ngang nhiên vô liêm sỉ. Hoảng hốt trước sự đối xử tàn bạo của nhà cầm quyền CS, người dân tìm cách thoát thân. Nhà cầm quyền CS âm mưu lợi dụng những cuộc trốn thoát ra khỏi nước bằng đường vượt biên vượt biển để tiếp tục đoạt vàng, cướp của và chiếm hữu nhà cửa, đất đai của những người trốn chạy ấy. Người rừng phút chốc bỗng trở nên giàu to, chẳng phải mất một giọt mồ hôi, nước mắt!
Ngoài những người đã trốn thoát thành công bằng đường vượt biên, nếu từ Liên Xô, Gorbachov không thổi lên luồng gió đổi mới và mở cửa vào cuối thập niên 1980, chẳng biết đến bao giờ các gia đình “ngụy” mới thoát khỏi cạnh ngục tù mang tên Kinh Tế Mới ấy, và số phận họ chẳng biết sẽ bị đẩy vào đâu. Tuy nhiên, thoát khỏi nhà tù KTM, các bà mẹ, người vợ và con cái “nhà ngụy” chưa hẳn đã được yên. Nhà cửa, đất đai của họ trong thành phố trước đây nay đã thuộc về chủ mới! Quyền cư trú của họ cũng đã bị tước đoạt. Họ đành thất tha thất thểu chui nhủi nơi các khu lầy lội tối tăm trong thành phố hay lẫn trốn quanh các công viên, vỉa hè… “ăn lậu ở lậu”, đi nhặt từ mảnh giấy vụn và ve chai để đổi lấy miếng cơm manh áo sống lay lất qua ngày. Muốn có sổ hộ khẩu, phải chạy chọt lâu dài và mua bằng vàng! Trong khi cái bản án “ngụy” thì cứ bám chặt vào thân phận bọt bèo của những người đã bị xô ngã, nhận chìm!
40 năm chưa hết hằn học sỉ vả “ngụy”.
Có người phản bác rằng, đã 40 năm rồi, làm gì còn có chuyện phân biệt “ngụy” hay không “ngụy”? Xin dẫn ra 2 bằng chứng mới nhất ở đầu năm 2015 này. Đó là 2 bài báo, một trên tờ Quân Đội Nhân Dân, và một trên báo Đời Sống & Pháp Luật dưới đây.
Bài 1 (báo QĐND ngày 02/01/2015) của tác giả Hương Ngọc “Nhà tình báo kể chuyện... gặp may” ghi lại lời tường thuật của chính “Đại tá, Anh hùng Tình báo Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) ở Sài Gòn”. Một bài báo ngắn mà từ “ngụy” trải dài từ đầu tới cuối: ngụy, lính ngụy, tên ngụy, tên sĩ quan ngụy, bên ngụy, quân ngụy, thằng sĩ quan (ngụy).
Bài 2 (báo Đời Sống & Pháp Luật ngày 22/02/2015) của tác giả Chí Công: “Đại tá tình báo và cuộc chiến cân não với ‘toà án Ngụy quyền’ Tết 1972” có những câu chữ như “Ngụy, Ngụy quyền, Bọn an ninh Ngụy quyền, Vùng I chiến thuật Ngụy, thành phố Sài Gòn (sào huyệt của Mỹ - Ngụy)” vân vân. Tất cả từ Ngụy ở đây đều viết N (chữ hoa)! Không hiểu ông đại tá tình báo hay tác giả bài viết có ý đồ gì cho từ Ngụy (ngụy viết N hoa) ở đây?
“Tên riêng” của một nhóm người đó chăng? Hay là ngầm ý bày tỏ sự trân trọng như từ Nhân dân (với N viết hoa) trong bản Hiến pháp 2013 mà các báo luồng đảng đều tung hô là “lầu đầu tiên, từ Nhân dân (N viết hoa) được Hiến pháp ta trân trọng”. Nhưng, đọc hết bài báo, mới hay từ “Ngụy” (N viết hoa) chỉ dùng cốt để thóa mạ, hạ nhục, dìm “ngụy” xuống tận đáy cùng xã hội, phe thắng cuộc vẫn chưa hả dạ!
Rõ ràng, lời hô hào “hòa hợp hòa giải” từ trước đến giờ của tập đoàn CSVN chỉ là những lời lừa phỉnh dối trá để che mắt thiên hạ chứ không hề là một thiện chí, một “thái độ biết điều của kẻ ở thế thượng phong”. Đã đánh ai là đánh cho chết; mới hả hê với lời thề “phanh thây, uống máu”. Một tay giơ cao búa đập vào đầu “ngụy”, tay kia dùng liềm cắt cổ vợ con “ngụy”! Búa vẫn lơ lửng trên đầu, liềm mãi kề sát cổ đối phương! Suốt 40 năm cứ thế! Có là bậc thánh tu rừng thời thượng cổ tự bịt tai bịt mắt mới không hận, không căm bọn quỷ khát máu.
Búa và liềm không phải chỉ nhắm vào “ngụy” mà còn là vũ khí hiểm độc đánh vào toàn dân Việt Nam. Mỗi khi có dịp, cụ thể mỗi năm, khi gần tới ngày 30/4, truyền thông CS luôn moi ra cho được một vài hình ảnh xấu xa xưa nào đó của vài cá nhân để làm bằng chứng kể lể “tội ác của Mỹ-ngụy”! Nhưng tập đoàn CSVN lại cố tình làm ngơ trước bao hình ảnh chứng minh cụ thể người dân Việt Nam sợ hãi, trốn chạy CS và quyết cùng sống chết với những người mà phe CS bôi xấu! Sợ loài ác quỉ hiện hình thành bầy ác thú ăn thịt người! Mỗi lần ác thú xuất hiện ở đâu, dù núp dưới chiêu bài “giải phóng dân tộc” gì gì đi nữa, nhân dân cũng đều khiếp hãi tháo chạy trối chết! Cuộc di cư 1954 từ Miền Bắc, Mùa hè Đỏ lửa 1972 ở Quảng Trị, biến cố 1975… là những chứng tích sống động! Người dân không tháo chạy vì “bị VNCH tuyên truyền” như CS xuyên tạc, mà là phản ứng tự nhiên từ kinh nghiệm bản thân của mỗi người về những hành động gian ác của CS đối với mọi tầng lớp dân chúng trong vô vàn trường hợp trước đây.
Hàng triệu người “được cách mạng giải phóng”, sướng quá đi chứ! Sao dân không ở lại với CS, không chạy theo CS để sống cõi “thiên đàng CS”? Trái lại, ai nấy đều ùn ùn chạy theo “Mỹ-ngụy” bất chấp CS truy đuổi, bắn giết bằng đại pháo, bằng súng liên thanh, súng trường và lựu đạn cá nhân? VNCH tuyên truyền đó ư? Hãy xem kìa: Người dân Đông Đức xô ngã bức tường Bá Linh có phải do Tây Đức tuyên truyền không? Dân Đông Âu và cả Nga cùng các nước chư hầu Liên Xô cùng vùng lên quật ngã thần tượng Lê Nin và cái sản phẩm Cộng sản chủ nghĩa thối tha kia là do đâu?
Sau 30/4/1975, Miền Bắc từng được ơn mưa mốc của Đảng hơn 20 năm ròng, thế sao dân Miền Bắc (người của xhcn đấy) lại theo chân dân “ngụy” Miền Nam trốn chạy, ào ào vượt biên, vượt biển tìm tới những thứ “nước tư bản đang giãy chết”? Hoặc ùn ùn “di cư” vào Nam hít thở chút bầu khí thị trường tự do đang còn le lói chút ánh sáng trước khi bị CS tìm cách thủ tiêu!
Chế độ xhcn ưu việt lắm! Thế sao đến bây giờ vẫn chưa dứt những cuộc tháo chạy hối hả kinh hoàng? Tháo chạy qua đường dây xuất khẩu lao động! Tháo chạy trong thân phận cô dâu Đài Loan, Đại Hàn và cả Trung Cộng…, nhục nhã ê chề! Tháo chạy trong nỗi nhục nô lệ tình dục qua buôn bán phụ nữ, trẻ em! Tháo chạy bằng núp bóng hôn nhân ghép, giả. Tháo chạy bằng đường du học Mỹ, Nhật, Úc, Pháp, Đức, Canada…học xong không về! Và cả tháo chạy bằng tổ chức vượt biên lậu sang Pháp, sang Úc, sang Anh, sang Mỹ những năm gần đây, mỗi đầu người “đi lậu” mất hàng chục ngàn đô la Mỹ, bất kể bao tai họa chờ đợi họ! Nghĩa là thà chọn “ngụy” hơn là sống với quỷ!
Thế lực thù địch.
Khi từ “ngụy” trở thành “gậy ông đập lưng ông” đối với CSVN, nhà cầm quyền chế độ CS chuyển sang độc chiêu khác, thâm độc không kém. Mỗi khi có dấu hiệu tình hình bất lợi cho chế độ là mỗi lần CSVN gán tội cho một thế lực vô hình có tên gọi là “thế lực thù địch”. Và bất cứ người nào “khả nghi” cũng đều là thế lực thù địch. Thế lực thù địch không chỉ ám chỉ “ngụy quân, ngụy quyền” chế độ cũ, mà còn với cả những ai không a dua, đồng tình với Đảng CSVN về một khía cạnh nào đó.
Dân oan đòi hỏi giải quyết nỗi oan chồng chất của mình: thế lực thù địch!
Dân phản đối chặt cây thành phố Hà Nội cũng bị vu là thế lực thù địch! Chính Phạm Quang Nghị, Bí Thư TP Hà Nội phát ngôn chắc nịch: “Nhân danh bảo vệ cây xanh nhưng thực ra là chống chế độ, chống lại chính quyền các cấp. Tôi nói đây là cái kích động từ bên ngoài chứ không nhầm lẫn với cái bức xúc của người dân phê bình chúng ta chính đáng.” (Người Buôn Gió - Bản lĩnh lãnh đạo của Phạm Quang Nghị qua vụ chặt cây xanh, 31/3/2015. Re. http://vietnamnet.vn/.../vu-cay-xanh--khong-xu-oan-sai...).
Trung Cộng xâm lăng biển đảo VN, dân uất ức biểu tình phản kháng quân xâm lược: thế lực thù địch. Thế lực bá quyền xâm lược nước ta không là thế lực thù địch, mà nhân dân bày tỏ lòng yêu nước lại bị gán là thế lực thù địch, là làm sao?
Dân phản đối những hành vi bức hiếp của chính nhà cầm quyền hay bọn tay sai nhà cầm quyền: thế lực thù địch.
Dân tổ chức vinh danh những chiến sĩ vị quốc vong thân ở Hoàng Sa và Trường Sa cũng bị quy kết là thế lực thù địch. Trong khi bọn thảo khấu côn đồ được chính các cơ quan đảng-nhà nước CSVN sử dụng làm công cụ mang tên “dư luận viên” đánh phá dã man những cuộc tưởng niệm yêu nước thì lại được tuyên dương, cổ võ!
Cả những cuộc biểu tình đấu tranh cho nhân quyền và dân quyền cho Việt Nam hay cho quyền tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng cũng là “phản động”, là “thế lực thù địch”.
Biểu tình vì “Hoàng Sa-Việt Nam, Trường Sa-Việt Nam” cũng bị ghép là “thế lực thù địch”. Đàn áp bằng lực lượng chính quy (Công An) chưa đủ, nhà cầm quyền sử dụng tới cả côn đồ đàn áp thô bạo!
Kiêu đảng, loạn quan… bán nước.
Làm sao không căm hận khi trước mắt mình vẫn tái hiện cái cảnh kiêu binh trấn áp dân lành. Suốt 40 năm thống trị, CSVN không ngừng tổ chức ăn chặn, cướp giật tổ chức có hệ thống quy mô từ trên xuống, từ dưới lên. Họ vỗ ngực khoe khoang thành quả phục vụ công ích xã hội với những công trình cầu cống, đường sá, dinh thự “hoành tráng”! Nhưng đều là từ vốn ODA! Vốn viện trợ hay vay mượn từ các nước tư bản Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật! Dùng vốn ấy cho công trình công ích chỉ một phần, rút ruột chia chác nhau đến hai ba phần! Cho nên rút cuộc, công trình nào cũng vỡ, cũng đổ ngay sau khi khánh thành, chưa kịp đưa vào sử dụng. (Những PMU 18, Xa lộ Đông Tây, Dự án Đường Sắt, Đường Cao tốc, Đập Thủy Lợi… là bằng chứng).
Rồi đến những “công ty quốc doanh” núp dưới cái vỏ bọc “kinh tế thị trường định hướng xhcn” để cướp giật, chia nhau trắng trợn hàng tỉ tỉ bạc. Chỉ mới lòi ra 2 đại công ty quốc doanh Vinashin và Vinalines trong hàng chục, hàng trăm công ty đội lốt quốc doanh chuyên rút ruột, ăn cướp, ăn giật mà đã lộ ra hàng triệu, thậm chí hàng tỉ đô-la thâm lạm. Hệ lụy của “kinh tế thị trường định hướng xhcn” đấy! Thế mà, kẻ nào dám bảo thị trường định hướng xhcn là quái thai, kẻ ấy bị quy kết ngay là“thế lực thù địch”.
Cái đuôi định hướng xhcn
Thử đọc bài báo nhan đề “Chỗ cần nhà nước thì không thấy đâu” trên tờ VietNamNet để xem người ta nói gì về cái gọi là“kinh tế thị trường định hướng xhcn”?
Đây lời giáo đầu bài báo trên: “Các chuyên gia kinh tế hàng đầu VN thừa nhận thực tế suốt gần 30 năm đổi mới, đã có nhiều cuộc thảo luận, nghiên cứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng câu trả lời vẫn chưa rõ ràng”.
Trong phần 1 bài giới thiệu “cuộc phỏng vấn bàn tròn với TS Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch Đầu tư và TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN”, VietNamNet nêu ra lời nhận định xót xa của TS Trần Đình Thiên như sau:
“Trước kia, chúng ta mới chỉ hiểu về kinh tế thị trường, còn thực tiễn nó vận hành như thế nào thì còn khá mơ hồ. Tất nhiên, thực tiễn cũng có. Ví dụ như sau giải phóng, kinh tế thị trường vốn rất phát triển từ phía nam đã âm thầm lan dần ra bắc theo mạch vận động ngầm của người dân trong bối cảnh cấm đoán, ‘ngăn sông cấm chợ’. Nhưng ngược lại, lúc đó cũng có một luồng quan điểm về CNXH đóng đinh về mặt nguyên lý trong nhận thức chúng ta là gắn với kế hoạch hóa tập trung, sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể mà về bản chất là công hữu. Luồng tư duy này tràn vào nam theo con đường quốc doanh hóa.
Hai làn sóng ngược chiều này trên thực tế đã xung đột nhau dữ dội và càng chứng tỏ cho chúng ta thấy CNXH và kinh tế thị trường không thể tương dung được, đến mức chúng ta phải đổi mới. Luận đề đổi mới là chấp nhận kinh tế thị trường.”
Lời nhận định trên đây cho thấy cái đuôi “định hướng xhcn” lòng thòng lừa bịp vô nghĩa nay không còn lý do gì tồn tại được nữa!
Kết: Thà Vẫn Ngụy như Ngụy Văn Thà!
Chúng tôi kết thúc bài viết với lòng bùi ngùi nhớ thương người anh em chiến sĩ anh dũng của VNCH Ngụy Văn Thà, Thà Vẫn Ngụy, cùng với 73 chiến sĩ đồng đội liều hy sinh vì Tổ Quốc Việt Nam yêu dấu hơn là sống ô nhục liếm gót giặc phương bắc như bọn CSVN tham tàn!
Tin chắc hết thảy quân-dân-cán-chính VNCH cùng một lòng Thà Vẫn Ngụy như Ngụy Văn Thà chứ không chịu khuất phục tà quyền Cộng sản hèn với giặc ác với dân, đang tâm bán nước cho Hán tặc.(3)
Thiết tưởng cũng cần nói rõ rằng, qua chứng cứ lịch sử, không hề có bút tích văn tự nào cho thấy có bất cứ một quân-dân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa giao nộp cho bất kỳ thế lực ngoại lai nào một rẻo đất nhỏ từ nội địa cho tới hải đảo xa xôi của quốc gia. Trái lại, ai nấy cùng một lòng hy sinh xương máu bảo vệ từng tấc đất bờ cõi non sông Tổ Quốc trong mọi hoàn cảnh và mọi biến cố của lịch sử. Trong khi giấy trắng mực đen từ văn kiện chính thức cấp nhà nước (Công hàm 1958, rồi Hiệp định Biên giới 1990) đến sách giáo khoa (bản đồ sách Địa lý) và truyền thông (báo nhân Dân 1956 & 1958)… là bằng chứng mạnh mẽ xác quyết CSVN công khai nộp đảo, dâng đất thuộc chủ quyền quốc gia Việt Nam cho Tàu Cộng.
Người quốc gia VNCH không bao giờ là “ngụy” đối với Tổ quốc mình dù bọn Cộng sản cố tình gán cho cái từ NGỤY sỉ vả nham nhở hạ cấp đầy khiêu khích, hòng che đậy bản chất tà quyền của họ, một chế độ CS vô Tổ quốc buôn dân bán nước trắng trợn mà nhân dân cả nước đang vạch trần!
(Tháng Tư 2015)
Lê Thiên (Danlambaovn)

Người thủy thủ gìa và tháng Tư Đen


Phần 1: Tháng Tư Đen

Cứ mỗi độ Xuân về, lão nhớ về những ngày của tháng 4 năm 1975…
30/4/1975! Ngày đánh dấu thảm họa cộng sản đến trên quê hương của lão; Đó là Ngày Quốc Hận, ngày bất hạnh của miền Nam rơi vào tay giặc phương Bắc, cũng là ngày đại tang của dân tộc!
Sau cuộc tổng nổi dậy của giặc cộng vào Tết Mậu Thân 1968 hàng hàng lớp lớp trai trẻ miền Nam trong đó có lão lên đường tòng quân giữ nước. Họ tòng quân vì nhiều ước mơ: ước mơ tự do, ước mơ độc lập, và ước mơ ấm no cho toàn dân miền Nam. Người lính VNCH đã chiến đấu kiên cường, bất khuất để thực hiện những ước mơ chính nghĩa đó. Nhưng vận nước đổi thay không cho phép họ hoàn thành sứ mạng mà họ mong muốn. Ngược lại cộng sản chỉ có độc nhất một mong muốn, đó là xâm lược miền Nam bằng mọi gía. CSBV đã thắng. Miền Nam bị bức tử, người lính VNCH bị trói tay, kết thúc cuộc chiến kéo dài 20 năm. Mất nước, nhà tan, thân phận tù đày làm lão uất hận và căm thù cộng sản đến tận xương tủy. Lão rời bỏ quê hương ra đi với mối hờn vong quốc và không một lần trở về từ đó.
Ở đây, lão tự xưng là ‘người thủy thủ gìa’ không phải lão gìa theo nghĩa có nhiều năm phục vụ trong quân chủng hải quân, mà lão gìa vì lão đang ở cái tuổi ‘thất thập cổ lai hy’. Chặn đường chinh chiến của lão ngắn ngủn chỉ có hơn 5 năm làm lính thủy tính từ ngày lão rời đại học tình nguyện vào khóa 21 sĩ quan hải quân giữa năm 1969 vừa lúc lão đúng 20 tuổi.
Đơn vị hải quân đầu tiên của lão ở tận một hải đảo xa xôi có tên gọi là Hòn Khoai (Duyên đoàn 41 Poulo Obi) hay ‘Hải đảo Giáng Tiên’, ngày đêm nghe tiếng sóng vỗ…
“Obi gió lạnh không tình sưởi,
Rượu uống mềm môi vẫn thấy thèm”.
(Thơ của Giang Hữu Tuyên, người bạn cùng khóa hải quân với lão)
Rời hải đảo Giáng Tiên lão thuyên chuyển về Duyên đoàn 42, hậu cứ đồn trú tại An Thới (Phú Quốc) và sau đó lão thuyên chuyển đến Hải đội 5 Duyên Phòng rồi tăng phái Hải đội 4. Những đơn vị đi biển này đã toi luyện lão thành gã lính biển chuyên nghiệp. Lão chưa có cơ hội phục vụ các đơn vị chiến đầu trong sông là những đơn vị hào hùng của hải quân VNCH với những chàng trai kiêu hùng cùng những ‘kình ngư’ dậy sóng ngày đêm trực diện quân thù với những trận đánh oanh liệt làm cho địch quân khiếp sợ mà lão được đọc qua các bài viết của đồng đội, của các đặc san hải quân và tài liệu hải sử.
Cuối năm 1974, lão bàn giao duyên tốc đĩnh (PCF)HQ.3909 đang biệt phái tuần tiểu vùng biển Hòn Tre Rạch Gía cho một sĩ quan khác để thuyên chuyển về Hạm đội tiếp tục xây mộng hải hồ trên Tuần duyên hạm PGM HQ-611.
Nhưng không may, vận nước đến thời đen tối, lão xuống HQ.611 vào thời điểm miền Nam nhiễu nhương và đang dần dần co cụm lại trước sự tấn công xâm lược khốc liệt của cộng sản miền Bắc sau khi ‘Mỹ’ gỡ bỏ vòng đai chống cộng vùng ĐNÁ và bán đứng miền Nam qua HĐ Paris 1973; ‘Mỹ’ rút quân về nước; ‘Mỹ’ bỏ rơi VNCH, ‘Mỹ’ bôi nhọ 58 ngàn lính Mỹ tử vong và trên 300 ngàn lính Mỹ bị thương tật trên chiến trường Việt nam và ‘Mỹ’ bôi bẩn các cựu chiến binh Hoa Kỳ tham chiến tại Việt nam khi trở về nước; Ở đây chữ ‘Mỹ’ lão muốn nói đến Quốc hội Mỹ phe cánh tả, những chính khách qùy gối trước cộng sản, chối bỏ trách nhiệm, phản chiến và không muốn Hoa Kỳ chiến thắng trên chiến trường Việt nam.

QLVNCH, một quân đội còn non trẻ đơn độc, đang cạn kiệt phương tiện chiến đấu, không quân viện, chiến đấu trong tuyệt vọng phải đương đầu cả khối cộng sản phương Bắc đang mở đường tấn công xâm lược ồ ạt tiến xuống miền Nam….Từ đó Vùng I thất thủ đến mất Vùng II…Dinh Độc Lập ngày 8/4/75 và Phi trường Tân Sơn Nhất chiều 28/4 bị dội bom, Saigon giới nghiêm, Bộ Tư lịnh Hải quân Saigon từ cấm trại đến báo động đỏ và đêm 29/4 hạm đội di tản. Sáng 30/4 Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, QLVNCH bị bức tử, nhiều tướng tá binh sĩ VNCH uất ức tuẫn tiết, quân Bắc Việt tiến vào Saigon…

* * *

Sáng sớm 30/4/1975, lão tần ngần đứng trơ trọi tại cầu A đối diện với cỗng Bộ Tư lệnh Hải quân Saigon, nơi chiến hạm của lão lúc chiều hôm qua con tàu còn đó mà giờ đây nó đã biến mất cùng với nhiều chiếc hạm lớn nhỏ khác dọc trên bờ sông Saigon. Bến tàu vắng tanh….Lão như kẻ mất hồn, thẩn thờ; Lão không màng quan tâm chung quanh cảnh vật tan hoang đổ nát. Lão cảm thấy như bị vứt vào vùng tối đầy cô đơn và mất mát. Lão cảm nhận được tâm trạng ‘lìa đàn’, mất mát đau tận đáy lòng: Mất chiến hạm, xa đồng đội, mất bạn hữu, tan nát mộng hải hồ và mất cả Tổ quốc. Lão cũng không màng nghĩ đến, không sợ hãi những gì sẽ xảy ra cho kẻ ‘thua cuộc’ như lão phải ở lại với kẻ thù và lão đang đứng nơi đây còn trong bộ quân phục ngày nào, mặc kệ cho kẻ thù đang tiến vào Saigon…

-Ê Nam! Có đi không? Lên tầu tao.
Tiếng gọi tên lão từ chiến hạm tuần duyên PGM đang từ từ cập vào cầu A nơi lão đang đứng cắt đứt dòng cảm xúc bơ vơ của con chim hải âu gãy cánh lìa đàn; Tiếng kêu thảm thiết của cánh chim lạc đàn đang dấy lên trong lòng lão biến thành dòng nước mắt lẽ loi, bơ vơ và mất mát sắp tuông ra khóe mắt, làm mắt lão cay xè.
Lão nhận ra giọng Bắc kỳ quen thuộc của người bạn cùng khóa gọi tên lão từ chiến hạm đang cặp cầu. Lão bắt dây cho con tàu và trèo lên chiến hạm.

-Cám ơn mày Báu. Tao không đi, tao không thể bỏ lại vợ con mày à. Sao tàu mày đi trễ vậy?

-Tao từ Vũng Tàu vào đây đón hạm trưởng nhưng không thấy ổng; Trung úy Báu nói.
Lão thúc giục thằng bạn:

-Thôi! Vậy mày đi lẹ đi. Tao trở về nhà ngay bây giờ.

Nói xong lão trèo xuống và tháo dây cho chiến hạm tách khỏi cầu. Chiếc hạm ra giữa dòng sông và từ từ xa dần… Lá quốc kỳ phía sau cột lái phất nhè nhẹ như nghẹn ngào chào gĩa biệt Saigon làm cho lòng lão chùng xuống, se lại. Lão bùi ngùi chứng kiến chiến hạm cuối cùng của hải quân VNCH ra đi. Bên kia phía Thủ Thiêm mặt trời đã lên khỏi mái nhà. Lão rời cầu A…
Dựng chiếc xe gắn máy trước cỗng nhà, lão chưng hửng khi thấy Thủy thủ Tô Nhật Hà mở cỗng; Hà là người lính thủy trẻ tuổi dưới tàu đã lái xe đưa lão về nhà chiều hôm qua. Lão ngạc nhiên hơn khi thấy lố nhố gần hai chục thủy thủ khác đứng ngồi trong phòng khách. Thấy lão bước vào, họ đứng lên chào lão… Họ đang chờ lão.
Vào hẵn bên trong phòng khách lão mới biết ra là các thủy thủ tập hợp tại nhà lão để báo tin tối hôm qua (29/4) tàu bị nhiều quân nhân có vũ trang ùn ùn trèo lên chiến hạm và cưỡng ép tàu ra đi mặc cho tàu không có hạm trưởng. Giữa đường ra Vũng Tàu, chiến hạm bị vô nước và chìm. Họ lội vào bờ và đi bộ về đây. Lão chưa hỏi được tại sao tàu vô nước đến chìm vừa lúc cái radio trên đầu tủ đưa tin tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Lão và anh em thủy thủ đoàn HQ.611 nhìn nhau bàng hoàng…vài thủy thủ rơi lệ…

-Thôi! anh em nhà ai nấy về, rồi tính sau. Lão nghẹn ngào nói

Lão bùi ngùi tiễn anh em thủy thủ ra cỗng. Nhìn theo họ thất thểu đi khuất khỏi đầu ngỏ lão cảm thấy đau lòng. Nếu chiều tối hôm qua đứa con gái của lão không lên cơn suyễn nặng, lão và vợ phải đưa con bé vào bệnh viện Nguyễn Văn Học và bồng con bé suốt đêm thì có lẽ cuộc đời đã đổi thay; Lão sẽ mang được vợ con, thân nhân xuống tàu di tản trong đêm 29/4 và HQ.611 của lão sẽ là chiếc ‘soái hạm’ đưa Đô đốc Tư lịnh Hải quân Chung Tấn Cang ra biển như bài viết ‘HQ 601: Soái hạm nhỏ nhất’ trên website tài liệu của niên trưởng HQ. Trần Đỗ Cẩm (khóa 10). Lão cũng được đọc bài viết “Đêm giang hành lịch sử” của HQ Trung tá Trần Hương (‘Người thủy thủ già’ khóa 9), vị sĩ quan hộ tống Đô đốc Tư lịnh Chung Tấn Cang xuống HQ.611 nhưng lão không có mặt dưới tàu nên phái đoàn di tản của Đô đố chuyển sang HQ.601 của Hạm trưởng Trần Minh Chánh vào lúc 7 giờ tối ngày 29/4.
Sau ngày 30/4 lão đăng ký trình diện ‘ban quân quản’ của Việt cộng nhưng lão không giao nộp khẩu colt 45 theo lệnh của chúng. Khẩu súng ngắn mà chiều 29/4 trước khi rời tàu lão vào kho vũ khí lựa lấy một khẩu còn khá mới với hai gấp đạn. Lão nhờ vợ tìm nơi kin đáo trong nhà cất dấu khẩu súng để phòng khi hữu sự hoặc nếu cần lão sẽ có vũ khí quyết tử với kẻ thù. Quyết định của lão làm vợ lão sợ hãi.
Cứ mỗi độ Xuân về nổi buồn tháng Tư Đen trỗi dậy cùng hình ảnh chiến hạm HQ-611 một thời dọc ngang trên sóng biển theo ký ức kéo về như một thước phim là mỗi lần lão xót xa nghĩ đến số phận anh em thủy thủ đoàn của chiến hạm mang tên ‘Trường Sa’ phải sống ra sao dưới chế độ bạo tàn Việt Cộng? Thương lắm anh em thủy thủ đoàn HQ.611, những người lính thủy trung kiên với quân chủng và thượng tôn kỷ luật đến tận giây phút cuối cùng của cuộc chiến.

* * *

Phần 2: Tháng ngày sau 30/4/1975


Lão trở về gia đình sau hơn 7 năm tù ‘cải tạo’ khổ sai qua nhiều trại giam khác nhau trong miền Nam. Trong thời gian còn ‘quản chế’ (tù treo) tại địa phương, mỗi ngày lão đưa đón vợ đi làm, đưa hai con đi học và gặp gỡ bạn bè quay quanh các câu chuyện vượt biên tại các quán cà phê bên vĩa hè. Gia đình vợ lão có đóng ghe vượt biên, nhưng lão không đi trên chiếc ghe của gia đình vì trong một buổi xuống bến ghe Ngọc Hà (Bà Rịa) thử ghe mới, lão chạm mặt với tên trưởng công an Việt cộng trong buổi tiệc ghe hạ thủy. Ông anh vợ giới thiệu với tên công an VC lão sẽ là tài công (người lái ghe) của chiếc ghe. Tên công an chầm chầm nhìn lão, một hồi lâu hắn nhận ra lão từng là tài công cho một chiếc ghe đánh cá của một công ty thủy sản Saigon có nhiều lần ghé vào đây. Lão cảm thấy không ổn và linh tính cho lão biết sẽ gặp rắc rối, thậm chí có thể bị nguy hiểm nếu lão ở lại đây qua đêm. Lão kể cho ông anh vợ nghe lão có đôi lần lái ghe thủy sản từ bến Bình Đông Chợ Lớn ra Vũng Tàu để dò đường vượt biên. Cứ mỗi chuyến đi như vậy khi thì lão nói cho ghe chạy thử máy khi qua các trạm kiểm soát hay gặp tàu tuần xét hỏi, khi thì lão gỉa vờ cho ghe hư máy để ghé vào bến ghe Ngọc Hà. Bị tên công an nhận diện và không hiểu tên Việt cộng nghi ngờ gì về lão, mặc cho ông anh vợ xác nhận lão là em rễ nhưng hắn cứ bô bô rằng hắn cho phép đóng ghe tại đây nhưng sẽ bắt tù nếu ghe tổ chức vượt biên; Trong thâm tâm lão biết tên VC hâm dọa vì hắn muốn đánh tiếng che đậy việc hắn nhận tiền hối lộ cho đóng ghe vượt biên; Lão là người trong nhà nên lão hiểu rõ chuyện này. Trước thái độ hoài nghi về lão và lời lẽ hâm dọa của tên VC, lão quyết định ‘tẩu vi thượng sách’ trước khi tên công an tỉnh rượu. Chờ cho trời vừa chập tối lão đi nhanh băng qua khu chợ ra đường lộ đón xe đò về Saigon. Sau này lão giới thiệu một ông bạn, sĩ quan hải quân đoàn viên cựu hạm trưởng tàu dầu, tên Mạch thay lão làm tài công cho chiếc ghe của gia đình vợ.
Lão bôn ba trong bóng tối vượt biên và nhận nhiều chuyến đi khác nhau. Chuyến đi đầu tiên lão bị tàu hải quân (LCU) VC bắt trên biển Rạch Giá vì máy ghe Ấn Độ không nổ máy và không có dầu. Bọn VC đòi vàng để thả người. Lão thu vàng thuyền nhân chung cho chúng. Tàu hải quân VC kéo ghe vượt biên vào cửa sông Tắc Cậu rồi chặt dây cho ghe lủi vào bờ. Gia đình lão và một cựu đại úy VNCH chi thêm vài chỉ vàng nữa làm lão mất chiếc nhẫn đính hôn cho chúng. Bọn VC cho gia đình lão và ông đại đại úy ở lại trên tàu đưa vào cửa biển Rạch Gía, cập tàu trước Đền thờ Nguyễn Trung Trực. Gia đình lão lên bờ lúc nữa đêm, đường phố không một bóng người. Chiếc LCU của VC quay trở ra cửa biển. Lão biết giữa khuya thế này đi bộ ra chợ chắc chắn sẽ bị bắt dọc đường. Đánh bạo lão dẫn vợ con đi thẳng đến trạm gác đối diện đang có tên công an VC đứng gác với cây súng AK:

-Thưa đồng chí, tôi ở dưới tàu mới lên không có nơi nghĩ qua đêm, đồng chí cho chúng tôi ở tạm đây nhá.
Tên VC vui vẽ nhận lời vì hắn thấy rõ ràng gia đình lão từ dưới tàu hải quân lên đây:

-Vâng, đồng chí cứ vào trong nghĩ đi. Tớ gác bên ngoài.
Nói xong hắn móc gói thuốc lá mời lão một điếu:

-Đồng chí chờ đây một tí, tớ lấy tấm chiếu cho mấy cháu và chị nghĩ nhé.

Vợ con lão vì mệt mõi cả ngày trên biển đã lăn đùng ra ngủ. Lão gỉa đò nhắm mắt nằm đó, mong trời mau sáng…Vừa hừng sáng, lão đánh thức vợ con dậy đón xe xích lô đi thẳng ra bến xe đò. Gia đình lão về đến nhà vào buổi chiều đó. Thật hú hồn!.
Sau đó lão tiếp tục nhận các chuyến đi khác. Nhưng số lão không may mắn, các chuyến đi sau này đều thất bại vì tổ chức ‘bến bãi’ đổ bể. Cho đến tháng 6 năm 1983 HQ Thiếu tá Nguyễn Duy Khanh (K.12) giới thiệu lão đến một tổ chức vượt biên. Qua lời giới thiệu của Thiếu tá Khanh, người chủ ghe hết sức vui mừng biết lão là cựu thuyền trưởng hải đội dưới thời Thiếu Tá Khanh là Chỉ huy phó Hải đội 5 Duyên phòng nên chủ ghe quyết định cho vợ và 2 con anh ta theo chuyến đi của lão. Chuyến vượt biên thành công. Ghe nhổ neo từ vườn hoa Lạc Hồng (Mỹ Tho) đến địa điểm đón thuyền nhân và ghe ra đến cửa biển Bình Đại khi trời hừng sáng. Thủy trình trong sông đầy cam go, căng thẳng và nguy hiểm khi phải tránh né nhiều trạm gác dọc bờ sông và ba lần bị tàu tuần Việt cộng đuổi bắt từ trong sông ra xa cửa biển. Tài công phụ, thợ máy và 89 thuyền nhân ói mửa say sóng nằm như chết khi ghe ra đến biển. Đêm thứ ba, ghe ra đến hải phận quốc tế, lão cho ghe bỏ neo để dưỡng máy và lão cũng muốn nhắm mắt ngủ đôi chút sau hai ngày một mình lão lèo lái con tàu; Các thanh niên thay nhau tát nước biển tràn vào lườn ghe. Hừng sáng hôm sau lão cho kéo neo và tiếp tục cuộc hải hành xuôi về Nam. Nhiều đàn cá heo tung tăng đùa giỡn lội theo nhảy múa trước đầu ghe. Đến trưa ghe của lão được một chiếc tàu dầu khổng lồ của Mỹ đi ngược chiều vớt trên đường chiếc tàu này đi từ Singapore về Nhật Bản. Sau khi thuyền nhân lên hết tàu Mỹ, lão ở lại ghe giúp một thủy thủ người Mỹ phá một lổ hổng lớn dưới lườn ghe cho nước biển tràn vào nhấn chìm chiếc ghe. Đứng trên boong tàu lão nhìn chiếc ghe trôi dạt ra xa và dần dần chìm mất vào lòng đại dương; Lão cảm thấy luyến thương chiếc ghe nhỏ bé đã cưu mang gia đình lão và 85 thuyền nhân sau hai ngày hai đêm trên biển.
Vị thuyền trưởng xin lão tấm hải đồ vẽ đường hải hành và tay lái ghe để lưu niệm. Ông ta dẫn lão vào một phòng rộng có cầu thang dẫn lên đài chỉ huy và ông cho lão biết chiếc ghe của lão là chiếc thứ tư được tàu ông vớt. Ông đưa lão đến trước một tấm vách lớn và chỉ vào một khoảng trống trên vách cho biết nơi đây sẽ trưng bày tấm ảnh bán thân của lão cùng tấm hải đồ và tay lái ghe để lưu niệm. Ông không quên giới thiệu các vật lưu niệm khác của ba chiếc ghe mà tàu ông vớt trước đó. Lão tò mò đến sát để nhìn 3 tấm ảnh của 3 tài công kia là ai. Lão vui mừng khi nhận ra hai tấm ảnh tài công của chuyến thứ nhất là Quang nhí Coastguard và chuyến thứ ba là Qúy rổ OCS. Lão khoái chí chỉ vào 2 tấm ảnh khoe với vị thuyền trưởng:

-Ồ! Thưa ông, đây là 2 người bạn cùng khóa hải quân với tôi.

Sau đó vị thuyền trưởng đưa lão lên đài chỉ huy tặng lão một chiếc mủ đi biển mới toanh màu trắng có huy hiệu bánh xe tay lái tàu nằm bên dưới dòng chữ LNG AQUARIUS (tên của chiếc tàu) màu xanh dương và ông mở ngăn tủ nhỏ lấy tấm danh thiếp trao cho lão:

-Anh có muốn đi biển nữa không? Nếu muốn thì theo địa chỉ trên danh thiếp này tại New York.
Thay vì tàu Mỹ đưa ghe lão vào một trại nào đó ở Indonesia (Nam Dương) cách nơi vớt khoảng 6 giờ đồng hồ, nhưng theo yêu cầu của tất cả thuyền nhân, họ muốn đến trại tỵ nạn Nhật Bản. Vị thuyền trưởng người Mỹ vui vẽ nhận lời. Sau 7 ngày đêm trên biển, cuối cùng chiếc tàu dầu khổng lồ cặp bến Nhật Bản. Gia đình lão và 85 thuyền nhân được xe bus đưa đến trại tỵ nạn Omura (Nagasaki) của Nhật Bản.
Sau gần 3 năm tạm cư tại Nhật, cuối cùng gia đình lão cũng được đặt chân đến ‘vùng đất hứa’, vùng đất của ‘giấc mơ Mỹ’ vào tháng 6 năm 1986.

Tháng Tư Đen năm 2021.
Quốc Nam (Trường Sa 611)

Nguồn: https://chienhuuvnch.com/2021/04/12/nguoi-thuy-thu-gia-va-thang-tu-den/

30.4.75: QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA VẪN CHIẾN ĐẤU Ở GIỜ THỨ 25

 QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA VẪN CHIẾN ĐẤU Ở GIỜ THỨ 25

Hà Nội và tướng lãnh Bắc Việt thường khoe khoang chiến thắng tháng 4.1975, nhưng tình thực thì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong suốt hai mươi năm đấu tranh, vẫn luôn là cơn ác mộng của của quân đội BV. Chỉ đến khi toàn thế giới cộng sản và tư bản đồng lần trói tay trói chân Quân Lực dũng mãnh ấy không cho đánh, thì quân đội Bắc Việt mới có cơ may đánh thắng được. Sau gần nửa thế kỷ từ 1975 đến nay, thì bí mật về chiến tranh Việt Nam đã gần như hoàn toàn được làm sáng tỏ. Chiến thắng trước Miền Nam của Bắc Việt là món quà của những thế lực bạn lẫn thù của Miền Nam. Nếu trong năm 1974, Nga Sô và Trung Cộng không viện trợ Hà Nội 1,7 tỉ mỹ kim tiếp liệu quân sự, thì quân đội Miền Bắc đào đâu ra súng đạn để tiến đánh Miền Nam. Con số này gấp hơn 5 lần con số Miền Nam chờ Quốc Hội chuẩn chi là 300 triệu mỹ kim, nhưng không một xu teng nào đến.

Cái thế thắng thua đã rõ ràng như vậy, ông Tổng Thống đã bí mật ra đi, cái thời hạn 30.6.1975 gần đến, là ngày khởi đầu Hoa Kỳ viện trợ cho tài khóa 1975-1976, toàn quân cán chính VNCH sẽ không lãnh được một đồng xu lương nào vì người Mỹ không tháo khoán viện trợ, tưởng chừng như quân đội sẽ tự động tan rã. Nhưng trong thực tế, toàn QLVNCH vẫn giữ vững mọi chiến tuyến, sẵn sàng trận thư hùng cuối cùng, dù xác thân có nát tan trong cơn bão lửa kinh thiên của binh đội Bắc Việt giáng xuống. Toàn quân chờ đợi một An Lộc của năm 1975, tuy biết rằng sẽ chiến đấu đến người cuối cùng. Hà Nội đâu có muốn san bằng Sài Gòn thành bình địa, bởi biết sẽ trả một cái giá rất đắt, vì mỗi NGƯỜI LÍNH của chúng ta thề cho bộ đội BV trả một cái giá đắt nhứt.

Một Câu Chuyện Về Vinh Dự Và Chiến Thắng Trong Cuộc Chiến Việt Nam ...

Người hào kiệt Trung Tá Lê Bá Bình

Những điều này hoàn toàn là sự thực nếu Hà Nội liều lĩnh muốn làm nhục QLVNCH ở ngưỡng cửa Sài Gòn, nên Hà Nội thích chọn “giải pháp Dương Văn Minh” hơn. Trong những chuỗi ngày dài như vô tận cuối tháng 4.1975 và trong những thời điểm nguy nan nhứt, anh hùng hào kiệt Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn tận trung báo quốc, thề thà poncho bọc thây hơn là cúi đầu buông súng đầu hàng. Những tên tuổi kiệt liệt nhứt, các đơn vị thiện chiến của QLVNCH vẫn giữ vững chiến tuyến và vẫn đem những cơn ác mộng đến cho binh đội Miền Bắc.

Từ trong cơn phong ba bão lửa ấy sừng sững hiện ra những dũng tướng đầy huyền thoại, người dân Hố Nai, Biên Hòa hân hoan biết ngần nào khi đón nhận Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến đến lập chiến tuyến bảo vệ thị trấn. Càng cảm thấy an toàn hơn, khi được biết trong đoàn quân Mũ Xanh ấy có một người hào kiệt lừng lẫy với cái tên từng được đồng bào và chiến sĩ vô cùng ngưỡng mộ: Trung Tá Lê Bá Bình và Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng Thủy Quân Lục Chiến. Tháng 4.1972, Trung Tá Bình cùng Tiểu Đoàn 3 Sói Biển TQLC của ông đã chận giặc tại chiến tuyến Đông Hà, không cho một chiếc dép râu nào bước lên bờ Nam sông Đông Hà ròng rã 30 ngày. Tháng 9.1972, Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng cùng Tiểu Đoàn 3 Sói Biển trong buổi sáng mù sương dưới bầu trời xám xịt lạnh giá vì cơn bão Flussy đã hò reo dựng cờ Vàng  Đại Nghĩa trên Cổ Thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị. Ngày ấy là ngày 16.9.1972. Giờ đây cũng chính ông và Tiểu Đoàn 6 Mũ Xanh sẽ viết một trang sử hào hùng khác: không cho binh đội BV bén mảng đến Sài Gòn. Chúng ta hãy cùng theo dõi trận đánh phi thường cuối cùng trong đời binh nghiệp của người hào kiệt Trung Tá Lê Bá Bình.

Ngày 20.4.1975, Sư Đoàn 18 Bộ Binh của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo triệt thoái ra khỏi thị xã Xuân Lộc theo lệnh của Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, để lập phòng tuyến bảo vệ phía Đông Sài Gòn. Thiếu Tướng Đảo và Bộ Tham Mưu của ông đã thiết kế một kế hoạch rút quân tuyệt hảo theo đường Liên Tỉnh Lộ Xuân Lộc – Bà Rịa, đem về hầu như toàn bộ quân số và vũ khí, tiếp liệu. Tư Lệnh Quân Đoàn III VNCH tái bố trí Sư Đoàn về khu vực Trảng Bom lập chiến tuyến. Trảng Bom là vùng đất nằm giữa Sài Gòn và Xuân Lộc, ở đây Thiếu Tướng Đảo chờ đợi cuộc tái ngộ với Quân Đoàn 4 Bắc Việt của Tướng Hoàng Cầm.

https://tusachonline.files.wordpress.com/2015/11/24.jpg?w=1000Thiếu tướng Lê Minh Đảo: “I will knock them down”

Ngày 27.4.1975, lúc 4 giờ sáng rạng đông, Sư Đoàn 341 BV tấn công phòng tuyến của Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Cuộc cường kích phục hận của 341 BV nửa tháng trước ở Xuân Lộc với thiệt hại rất nặng (một bộ chỉ huy trung đoàn bị Không Quân VNCH dội cho hai quả bom 7 tấn tan tành) diễn ra kinh thiên. Các chiến sĩ SĐ18BB chống trả quyết liệt, nhưng với quân số thiếu hụt chỉ giữ được chiến tuyến đến 8:30 sáng thì trận liệt bị vỡ. Thiếu Tướng Đảo cùng chiến sĩ của ông lùi về Long Bình để tái tổ chức, sau đó toàn Sư đoàn lại được điều đến giữ Trảng Bom.

Con đường Quốc Lộ 1 tiến về Sài Gòn của Quân Đoàn 4 BV đã rộng mở thênh thang. Mục tiêu kế tiếp của Quân Đoàn 4 BV là Hố Nai. Đến đây người đã gặp người, một con người mà quân Bắc chắc không muốn gặp: Trung Tá Lê Bá Bình và Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng Thủy Quân Lục Chiến. Chiến tuyến Hố Nai là khúc xương khó nuốt cuối cùng nằm chận đường tiến của Quân Đoàn 4 Bắc Việt.

Muốn hoàn thành Chiến Dịch 275, tức Chiến Dịch Hồ Chí Minh, Quân Đoàn 4 BV phải đánh gục Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng. Nhưng hãy hỏi Trung Tá Bình và 600 tay súng TQLC có đồng ý hay không. Đó là chưa kể một Chi Đội M48 từ Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái sẵn sàng nghênh đón đoàn tăng T54 và PT76 của quân Bắc. Lại kể thêm sự dũng cảm của lực lượng Nghĩa Quân và Nhân Dân Tự Vệ Hố Nai, mà đã từng chống cự ác liệt cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân 1968. Chúng ta sẽ thấy rằng những người anh hùng vô danh của Hố Nai sẽ dùng những hỏa lực yếu kém của các anh kháng cự với cơn bão lửa của Quân Đoàn 4 BV và hầu như hoàn toàn anh dũng hy sinh sau khi Tiểu Đoàn 6 TQLC triệt thoái ra khỏi Hố Nai, lại cũng theo lệnh của Quân Đoàn III VNCH.

M113, M48 và những Mũ Đen Kỵ Binh QLVNCH

Là một trong những sĩ quan xuất sắc của binh chủng Mũ Xanh, Trung Tá Lê Bá Bình từng được tưởng thưởng nhiều huy chương, từ Bảo Quốc Huân Chương cho đến Anh Dũng Bội Tinh, Huy Chương Cao Quý Hoa Kỳ Ngôi Sao Bạc và Đồng. Trung Tá Bình và tiểu đoàn của ông chờ đợi cuộc thư hùng với binh đội Quân Đoàn 4 BV. Ký ức của cuộc triệt thoái ra khỏi Đà Nẵng hồi cuối tháng 3.1975 của Lữ Đoàn 369 TQLC hãy còn hằn đậm nhức buốt trong tâm tưởng của từng người lính Mũ Xanh. Giờ đây, hãy cho bộ đội BV biết thế nào là cơn thịnh nộ của Thủy Quân Lục Chiến. Một cậu bé tí hon David Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng nghênh chiến gã khổng lồ Goliah Quân Đoàn 4 BV, mà sẽ tung ra ít nhứt 10 tiểu đoàn bộ binh.

Buổi sáng ngày 27.4.1975, cộng quân vẫn theo chiến thuật cổ điển Tiền Pháo Hậu Xung, đã dội một cơn bão lửa ầm ì lên khắp chiến tuyến của Thủy Quân Lục Chiến, đất trời rung chuyển dưới hàng ngàn quả đạn pháo, tiếp theo sau là một chi đội xe tăng cùng hai tiểu đoàn tùng thiết của Sư Đoàn 341 BV tiến quân vào vị trí của Tiểu Đoàn 6 Mũ Xanh. Trung Tá Bình lệnh cho chiến sĩ của ông cứ kiên nhẫn chờ cho quân địch tiến gần hơn. Rồi một cơn lửa đỏ cuồng nộ của Pháo Binh TQLC giáng lên đầu quân địch. Đội hình của những chú bé học sinh bộ đội 16, 17 tuổi thuộc Sư Đoàn 341 BV vỡ tan ra từng mảnh, một chiếc xe tăng cháy bùng. Sư Trưởng Trấn buộc phải lệnh cho quân của ông rút lui.

Ngày hôm sau, Sư Đoàn 341 BV lại bị thúc xông vào tử địa. Để hy vọng đạt được thắng lợi nhanh chóng, Sư Trưởng Trần Văn Trấn điều 5 chiếc T54 và một trung đoàn bộ binh tấn công Trung Tá Bình. Chi Đội M48 của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh phục sẵn bên chiến hào khai hỏa, trong phút chốc những khẩu đại bác 90 ly đã nướng sống 3 chiếc T54, trong khi Pháo Binh dội lên đầu trung đoàn bộ đội một cơn nhiệt nóng chết chóc khác. Nghĩa Quân Hố Nai ần náu trên những cao ốc nã súng dữ dội lên đội hình địch. Dẫu sao trung đoàn bộ đội cũng mở được ba lần tấn công cường kích, nhưng cuối cùng đều bị 600 tay súng Mũ Xanh đẩy lui. Quân địch tháo lui trong hỗn loạn, nhưng Trung Tá Bình đâu đã để yên, ông gọi pháo binh bắn đạn nổ chụp rải hàng trăm ngàn mảnh pháo lên trận liệt của giặc. Lần thứ hai, Sư Đoàn 341 BV buộc phải lùi xa ra khỏi trận địa liếm vết thương. Không chỉ Tiểu Đoàn 6 Mũ Xanh, mà trên toàn kháng tuyến của Lữ Đoàn 369 TQLC, quân Sư Đoàn 341 BV đều bị đẩy lui và chịu nhiều thiệt hại. Sau cuộc chiến bại Xuân Lộc, Sư Đoàn 341 BV cam chịu thất trận lần thứ hai. Xe tăng cháy nóng hừng hực và tử thi bộ đội nằm rải đầy trước chiến tuyến của Mũ Xanh.

VỊ MẶN QUÊ HƯƠNG

Người hào kiệt Thiếu Tá Phạm Châu Tài

Tướng Lê Trọng Tấn, Tư Lệnh B2, chịu trách nhiệm mặt trận phía Đông vô cùng sửng sốt trước sức kháng cự dũng mãnh của quân Nam mà đã khiến cho Sư Đoàn 7 BV thiện chiến bị khựng lại phía sau không tiến lên được. Tướng Tấn lệnh cho Sư Đoàn 341 BV giá nào cũng phải xông qua kháng tuyến Mũ Xanh. Ngày 29.4.1975, Sư Trưởng Trấn lại phải thúc những cậu bé học sinh bộ đội xông vào. Hai bên quầng nhau hơn hai tiếng đồng hồ, binh đội Bắc Việt lại vẫn phải cuốn vó chạy lui. Sau hai ngày giao tranh, Trung Tá Bình và chiến sĩ của ông cũng đã trả được ít nhiều mối hận ngoài Quân Khu 1 trong những ngày cuối tháng 3.1975. Nhưng niềm vui của chiến thắng không kéo dài được lâu. Tư Lệnh Quân Đoàn III VNCH ra lệnh Lữ Đoàn 369 triệt thoái ra khỏi Hố Nai hành quân về bảo vệ Biên Hòa và Long Bình. Nghĩa Quân và Nhân Dân Tự Vệ Hố Nai không chịu triệt thoái. Các anh ở lại thề viết trang sử cuối cùng của các anh. Đến khuya ngày 29.4.1975, Hố Nai thất thủ, những người anh hùng vô danh của chúng ta đã đền xong nợ nước. Tổ Quốc muôn đời Tri Ân các anh.

Trong lúc Thủy Quân Lục Chiến rút về Biên Hòa, thì mặt trận phía Tây Bắc cũng đã lên đến cường độ nóng đỏ nhứt, đến sắt đá cũng phải tan chảy. Sư Đoàn 10 BV, sư đoàn từng tham chiến ở Ban Mê Thuột và Liên Tỉnh Lộ 7B, từng gây chết chóc tang thương cho hàng ngàn đồng bào di tản theo chân các đơn vị Quân Khu 2 hồi trung tuần tháng 3.1975, giờ đây là mũi đột phá chánh ở mặt trận Tây Bắc. Ngày 29.4.1975, binh đội của Quân Đoàn 3 Bắc Việt đã tràn ngập Căn Cứ Đồng Dù của Sư Đoàn 25 Bộ Binh VNCH, Sư Đoàn 10 tiến quân về hướng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Các cấp chỉ huy của Trung Tâm Quang Trung đã dùng nhiều chiếc GMC nằm khóa chặt con đường Quốc Lộ 1 để làm chậm bước tiến của địch, các đơn vị cơ hữu của Trung Tâm (lúc này do Thiếu Tướng Trần Bá Di làm Chỉ Huy Trưởng) dũng cảm nồ súng chận địch. Công binh Bắc Việt đã đưa xe tăng lên kéo những chiếc GMC sang hết hai bên đường. Trung Đoàn 24 BV thúc tới.

Các tân khóa sinh của Trung Tâm với vũ khí yếu kém và trong thời kỳ huấn luyện không thể ngăn chận được cơn nước lũ. Nhưng đến đây người lại gặp người: Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đang chờ đón quân địch tại giao lộ Bà Quẹo. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ hai 1954-1973, bộ đội Bắc Việt đi B, tức vào Nam thường chuyền tai kể cho nhau những hiểm nguy đang chờ đón họ, rằng chớ nên chạm đến ba món độc Miền Nam: Nhảy Dù, Biệt Cách Dù và B52. Giờ đây các Trung Đoàn 24 BV sẽ đụng độ với một trong ba món độc Miền Nam. Các chiến sĩ Nhảy Dù vừa trở về từ cơn triệt thoái Phan Rang, đang hừng hực ý chí phục hận, dù quân số thiếu hụt và số tân binh bổ sung còn thiếu kinh nghiệm chiến trường, sĩ quan kỳ cựu hao mòn, các anh bố trí trong những cao ốc chung quanh giao lộ. Kiên nhẫn chờ cho những thành phần tiền phong của bộ đội đến gần trong tầm nhắm, các chiến sĩ Mũ Đỏ đồng loạt khai hỏa. Ba chiếc thiết xa đi đầu bị bắn cháy, những cột lửa màu cam vỡ bùng cùng với những cột nấm khói đen mù mịt bốc lên. Sư Đoàn 10 BV đã bị Tiểu Đoàn 3 Dù chận đứng.

War of Vietnam. The last soldiers of the just SoutNhững Thiên Thần Mũ Đỏ

Trong lúc quân Dù và quân BV còn đang kịch chiến ở Bà Quẹo thì Trung Đoàn 28 BV đã đánh thông được con đường Tỉnh Lộ 15 tiến về phi trường Tân Sơn Nhứt lúc 6 giờ chiều ngày 29.4.1975. Quân địch nhận lệnh dừng, chỉnh đốn quân số và nhận tiếp liệu. Cuộc tấn công phi trường sẽ khởi diễn vào lúc bình minh ngày 30.4.1975. Đến đây, Trung Đoàn 28 BV lại sẽ gặp món độc Miền Nam thứ hai: 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Từ ngày 26.4.1975, Liên Đoàn 81 BCD được trao nhiệm vụ trấn đóng bảo vệ phi trường và Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Người hào kiệt chịu trách nhiệm chỉ huy mặt trận là Thiếu Tá Phạm Châu Tài, biệt danh Hổ Xám, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật của Liên Đoàn 81 BCD (Liên Đoàn có 3 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, mỗi bộ chỉ huy có 4 biệt đội, mỗi biệt đội có 200 chiến sĩ). Dưới quyền điều động của Thiếu Tá Tài còn có một thành phần Lôi Hổ trở về từ Pleiku.

Những T54 Bv bị Nhảy Dù bắn cháy ở Bà Quẹo

Hổ Xám Phạm Châu Tài là một trong những mãnh hổ Mũ Xanh tung hoành trận địa ở An Lộc. Trong một đêm tháng 4.1972, ông cùng các tay súng Biệt Cách đã đánh bật quân cộng ra xa khỏi một nửa phía Bắc thành phố An Lộc mà chúng đã chiếm được mấy ngày trước. Giờ đây ông sẽ viết tiếp trang sử Liên Đoàn 81 BCD bằng những huyền thoại của chính ông.

Đêm 29.4.1975 sẽ là đêm dài nhứt của các chiến sĩ Biệt Cách Dù, Lôi Hổ và Nhảy Dù đang trấn giữ chung quanh, trong khu vực phi trường và Bộ Tổng Tham Mưu. Suốt đêm, các chiến sĩ phòng thủ lắng nghe tiếng cánh quạt phành phạch cùng tiếng động cơ ầm ĩ của đoàn trực thăng Hoa Kỳ từ Đệ Thất Hạm Đội bay vào Sài Gòn di tản người Mỹ và nhân viên Việt Nam, cùng những người có giấy tờ nhận cho di tản từ tòa đại sứ Hoa Kỳ. Trong màn đêm u ám, từ trên những tòa cao ốc, các chiến sĩ và người dân Sài Gòn có thể nhìn rõ những ánh đèn chớp liên hồi từ những chiếc trực thăng. Mặc dù có tin nhiều  chỉ huy cao cấp từ Tổng Tham Mưu Trưởng, đến Tư Lệnh Quân Đoàn III VNCH đều vắng mặt, hầu hết máy bay và tàu chiến đều đã ra khỏi Việt Nam với mục đích tránh để rơi vào tay giặc, quân ta vẫn bình tĩnh giữ vững vị trí thề chiến đấu bảo vệ mảnh đất cuối cùng: Sài Gòn. Nhưng liệu ông Tổng Thống tân nhiệm Dương Văn Minh có được dũng chí làm được công việc phi thường ấy không.

Trong lúc Quân Đoàn 3 Bắc Việt lập kế hoạch chiếm phi trường và BTTM để làm tê liệt sức chống cự của toàn QLVNCH, Thiếu Tá Tài gọi cho Đại Tá Phan Văn Huấn, Tư Lệnh Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù xin lệnh. Người anh hùng của thời Mùa Hẻ Đỏ Lửa An Lộc ra lệnh: “Nhiều vị tướng lãnh có thể đã ra đi, nhưng chúng ta không thể để đất nước rơi vào tay quân cộng sản, cho dù bất cứ chuyện gì xảy đến, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vẫn phải ở vị trí và tiếp tục chiến đấu”. Quân lệnh như sơn. Hổ Xám Phạm Châu Tài tuyệt đối tuân thủ, ông sẽ đánh quân giặc đến giờ thứ 25.

Lúc 7:15 sáng ngày 30.4.1975, Thiếu Tướng Vũ Lăng, Tư Lệnh Quân Đoàn 3 BV ban lệnh tấn công. Trung Đoàn 24 đã vượt qua được Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù ở Bà Quẹo, cùng đoàn thiết xa ầm ầm tiến về Ngã Tư Bảy Hiền, khí thế mạnh mẽ, hùng hổ tưởng chừng như  trời sắp sụp đất sắp lở. 800 tay súng Biệt Cách Dù, Lôi Hổ và một thành phần Nhảy Dù bình tĩnh chong súng chờ đợi. Chiến Đoàn 3 BCD có dồi dào súng phóng hỏa tiễn M72, mà sẽ là thứ vũ khí chết chóc luôn là tử thần đối với chiến xa địch.

Tiếng bánh xích chiến xa địch đã nghiến rổn rảng trên con đường nhựa thênh thang, tiếng động cơ gầm rú ầm ĩ, đe dọa, lính tùng thiết đi theo sau lúc nhúc như bầy kiến tìm mồi. Kia rồi, hai chiếc thiết giáp địch đã ở trong tầm bắn. Công đầu thuộc về các chiến sĩ Lôi Hổ. Các anh bắn xe tăng địch bằng súng không giật 90 ly, thép nào chịu cho nổi. Nên chiếc thứ nhứt bùng cháy dữ dội. Chiếc T54 thứ hai còn đang loay hoay chưa biết hành động ra sao, thì một quả đạn từ đại bác 90 ly của một chiếc M48 đã nướng cháy nó, khói bốc đen nghìn nghịt. Tuy nhiên, quân số biển người của Sư Đoàn 10 BV tiếp tục thúc tới dưới màn hỏa lực dữ dội từ trên những cao ốc của Lôi Hổ và Nhảy Dù, những đơn vị tiền phong tiến dần đến cổng phi trường, nơi Thiếu Tá Tài đang chờ đợi. Một tiểu đoàn bộ đội được ba chiếc T54 yểm trợ ào ạt tiến vào, để nhận được một trận bão hỏa lực từ Biệt Cách Dù. Trong phút chốc ba chiếc T54 đã bị súng phóng hỏa tiễn M72 hủy diệt.

Sinh Hoạt QLVNCH: NIỀM HÃNH DIỆN VÀ TỰ HÀO BCD. LÊ ĐẮC LỰC

Người Hùng An Lộc 1972: Đại Tá Phan Văn Huấn

Nếu quân cộng từng dùng CKC bắn tỉa quân ta, thì giờ đây những tay súng tuyệt kỹ của Biệt Cách Dù cũng bắn tỉa được nhiều lính cộng. Tổ súng nặng của quân cộng vội thiết trí súng phòng không 85 ly bắn trực xạ vào quân Mũ Xanh. Các tay súng 81 BCD đã hủy diệt ngay tổ phòng không ấy, thậm chí súng còn chưa kịp hạ nòng bắn viên đầu tiên. Một tiểu đoàn thứ hai cùng tám chiếc T54 xông vào. Những chiếc A37 còn lại của Không Quân VNCH từ Cần Thơ bay lên đánh bom nổ tung 2 chiếc T54. Lúc 10 giờ sáng, chỉ nửa tiếng sau toàn dân Miền Nam sẽ được nghe hiệu triệu của Tướng Minh, trong lúc quân cộng tiếp tục ủi vào cổng phi trường, những chiếc M72 bắn hạ thêm hai chiếc nữa. Một chiếc thứ ba xoay bánh xích ken két đánh một vòng muốn bọc hông, cũng bị M72 bắn cháy luôn. Tổng cộng có sáu chiếc T54 nằm rải rác trước cổng phi trường. Thiếu Tá Tài đã buộc Sư Đoàn 10 BV thất vọng vì không hoàn thành kế hoạch làm tê liệt sức kháng cự của QLVNCH, phải khựng lại không tiến lên được.

Cùng thời điểm đó, người hào kiệt Vương Mộng Long và Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân còn đang quần thảo với Quân Đoàn 2 BV ở Căn Cứ Nước Trong, sau khi triệt thoái từ Xuân Lộc về. Từ Quảng Đức với 410 chiến sĩ rút về Quân Khu 3 trong những ngày tháng 3.1975, giờ đây Thiếu Tá Long chỉ còn có 60 chiến sĩ và 4 sĩ quan sống sót. Nhưng khi đoàn quân này vượt cầu Tân Cảng tìm về Sài Gòn thì rơi vào bẫy phục kích của giặc. Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân bị xóa tên, nhưng Thiếu Tá Long may mắn thoát được cùng vài chiến sĩ.

Cac chien si TD37BDQ chien dau tai Khe Sanh. Hinh tren sach VN khoi luaChiến sĩ Biệt Động Quân đánh địch

Vận nước đã đến lúc suy vong. Nửa giờ sau, từ những chiếc máy thu thanh nhỏ, lúc 10:30 sáng, quân phòng thủ phi trường và Bộ Tổng Tham Mưu đã tức uất nghe được lệnh “các chiến sĩ hãy buông súng, ai ở đâu ở đó chờ quân giải phóng đến bàn giao”. Có nghĩa là buông súng đầu hàng. Thiếu Tá Tài đi vào Bộ Tổng Tham Mưu hy vọng tìm gặp vài viên chức cao cấp nào đó, để chỉ thấy những phòng ốc hoang vắng thê lương. Tuy nhiên điện thoại vẫn còn hoạt động được, Thiếu Tá Tài gọi vào Dinh Tổng Thống. Trả lời đầu dây là Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được Tổng Thống Minh bổ nhiệm làm Tổng Tham Mưu Trưởng. Thiếu Tá Tài xin được nói chuyện với Tổng Thống.

Được ông Minh tiếp chuyện, Thiếu Tá Tài tự giới thiệu tên, cấp bậc, chức vụ rồi xin lệnh. Tướng Minh bảo Thiếu Tá Tài hãy sửa soạn đầu hàng, ông cho biết xe tăng quân cộng đang trên đường đến Dinh Độc lập. Thiếu Tá Tài nói: “Nếu xe tăng Việt cộng vào Dinh Độc Lập chúng tôi sẽ đến cứu Tổng Thống”. Ôi, còn những lời nào cao cả, hào hùng và bi thiết hơn nữa không từ một người chiến sĩ đã dâng hết thời thanh xuân của mình cho đất nước. Giờ đây, trách nhiệm cuối cùng của ông là bảo vệ vị nguyên thủ quốc gia tránh sự nhục nhã của một tù binh chiến tranh. Hết sức sửng sốt và cảm động, ông Minh từ tốn trả lời: “Không cần đâu em”. Thiếu Tá Tài chỉ còn nghe có tiếng vo vo buồn bã trong ống liên hợp. Lúc 11:30 sáng, những chiếc dép râu tiến vào phi trường và Bộ Tổng Tham Mưu.

SAIGON 1967 - Duyệt binh lễ Quốc Khánh 1-11-1967 - Trường … | FlickrThiếu Sinh Quân VNCH: Những Trần Quốc Toản thời lửa binh

Thế là hết. Những chiến sĩ Lôi Hổ, Nhảy Dù Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật Biệt Cách Nhảy Dù ngậm ngùi bắt tay từ giã nhau. Một nhóm 7 chiến sĩ Mũ Đỏ Dù, trong đó có một ông Thầy Thiếu Úy, ngồi thành vòng tròn ở gần Ngã Tư Bảy Hiền nhìn nhau gật đầu chào vĩnh biệt. Một trái lựu đạn lăn giữa vòng nổ tung, những mảnh áo màu hoa rừng đẫm máu tung bay tơi bời lên thinh không.

Buổi trưa ấy, đột nhiên bầu trời tối sầm, mây đen sa xuống thấp đến nỗi những con người Sài Gòn đang ngơ ngác, ủ rủ cảm nhận được những luồng hơi nước lạnh giá. Từ trong cõi xám mờ mịt dậy lên những tiếng sấm động ùng oàng, liên miên, bất tận như truy điệu cái chết của Việt Nam Cộng Hòa. Cơn mưa đầu mùa tầm tả ầm ầm trút xuống một màn nước trắng xóa phủ lên thành phố đang hấp hối.

Nhưng đối với Thiếu Tá Trần Đình Tự và Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân đang hành quân ở Củ Chi, Hậu Nghĩa, cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Cùng với 90 chiến sĩ Mũ Nâu quyết theo ông đến phút cuối cùng, Thiếu Tá Tự bất tuân lệnh buông súng tiếp tục đánh cho đến lúc toàn quân sa vào tay giặc. Cấp chỉ huy địch buộc Thiếu Tá Tự cởi quân phục đầu hàng, ông cương quyết tử chối. Viên chỉ huy địch giận dữ rút súng bắn vào đầu ông. (Một tài liệu khác viết rằng, chỉ huy du kích Củ Chi trói Thiếu Tá Tự vào cột rồi dùng dao găm mổ bụng ông). Ôi, còn nỗi bi thương nào hơn thế không.

Mot thuong phe binh TQLC tai Saigon nam 1971

Thương nhưng không phế: vẫn chiến phục hào hùng

Buổi chiều ngày 30.4.1975, những chiến sĩ nhỏ bé Thiếu Sinh Quân ở Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu sau khi cầm cự suốt nửa ngày đành cam chịu buông súng. Nhưng những người chiến sĩ hậu duệ Trần Quốc Toản ấy đã trân trọng làm lễ Hạ Kỳ Quốc Gia, xếp lại Lá Cờ Vàng Việt Nam thiêng liêng, rồi u sầu chia tay nhau. Năm vị thần tướng Nước Nam không chịu khuất phục quân giặc đã tuẫn tiết: Thiếu Tướng Phạm Văn Phú uống thuốc độc; Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam bắn súng vào đầu; Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng bắn súng vào tim; Chuẩn Tướng Trần Văn Hai uống thuốc độc; Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ tự sát bằng súng. Trước bức tượng Thủy Quân Lục Chiến ở bùng binh Quốc Hội, Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long tử tiết bằng súng, chiếc nón của người anh hùng ấp ủ trên ngực ông. Ngày hôm sau, cựu Ngoại Trưởng Trần Chánh Thành tuẫn tiết tại nhà. Và còn nhiều nữa rất nhiều chiến sĩ mọi binh chủng, mọi cấp bậc không cam chịu nhục hàng giặc, anh linh đã cùng đi vào cõi thiên thu.

Sang ngày 1.5.1975, tiếng súng vẫn còn nổ ở Tiểu Khu Chương Thiện, Đại Tá Tỉnh Trưởng Hồ Ngọc Cẩn khi không còn gì để chiến đấu, ông điềm tĩnh chờ giặc vào trói ông. Người bạn cùng khóa 2 Hiện Dịch Đồng Đế với ông, Trung Tá Trịnh Tấn Tiếp, Quận Trưởng Kiên Long, cũng đánh đến cùng và bị bắt. Hai người anh hùng cuối cùng này của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị đem xử bắn ở vận động trường Cần Thơ vào ngày 14. 8.1975.

Những vị Thần Tướng Nước Nam đã thăng thiên cùng anh linh hai trăm ngàn chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong hai mươi năm đấu tranh bảo quốc, ba trăm ngàn chiến sĩ thương phế sống vất vưởng ngoài lề đất nước từ ngày 30.4.1975, đến nay là đã gần nửa thế kỷ. Nhưng có phải những người anh hùng ấy đã hoàn toàn bị quên lãng trong lòng dân tộc rồi chăng. Một cô em nữ sinh hậu phương ở Sài Gòn, cô Dương Thị Sớm Mai (hiện cư ngụ ở thành phố Ottawa, Canada) đã nói thay cho tình cảm của dân chúng Miền Nam dành cho NHỮNG NGƯỜI LÍNH QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA:

Buổi trưa ngày 30 tháng 4.1975 Ba tôi vừa khóc vừa nói với anh em tôi rằng: “Mình đã sống bình yên, hạnh phúc cho đến này hôm nay là do công giữ nước, giữ đất của Những Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ bằng mồ hôi nước mắt, mà còn bằng máu của các anh, bằng sự mất mát của gia đình các anh, bằng tất cả cuộc đời của các anh… Nhiều lắm, mình không trả nổi công ơn đó”.

Cuộc chiến này dù đã kết thúc như thế nào, người dân Miền Nam Việt Nam vẫn cúi đầu ghi nhớ công ơn các anh, sự hy sinh cao cả của các anh, bởi trên từng tấc đất mà họ đang sống đều được đấp bồi bằng máu của những người như các anh đã không sống hết tuổi thanh xuân của mình. Dương Thị Sớm Mai

PHẠM PHONG DINH


Chiến lược phát triển Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn nguyên giá trị.

 https://live.staticflickr.com/3868/32731991962_5f5f734408_b.jpg

Ngay từ khi thành lập ngày 26/10/1955, Việt Nam Cộng Hòa chọn con đường phát triển xã hội lấy con người (người dân) làm trọng tâm và tự chủ quốc gia làm mục tiêu chiến lược, nên đến nay vẫn còn nhiều ảnh hưởng để chúng ta tìm hiểu và học hỏi.

 

Tự cung tự chủ

Trong thời thuộc địa người Pháp tập trung xây dựng kỹ nghệ ở miền Bắc Việt Nam, nên ngay khi thành lập Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã hướng đến phát triển kỹ nghệ nhẹ và kỹ nghệ tiêu dùng phục vụ nhu cầu quốc nội.

Để có thể tự chủ về kinh tế, chính phủ khuyến khích các nhà tư sản ngoại quốc, đa số là người Hoa có quốc tịch Trung Hoa Dân Quốc, trở thành công dân Việt Nam Cộng Hòa.

Với chủ trương kinh tế tự do, Chính phủ chỉ giữ một số hoạt động công ích, như điện, nước, hỏa xa, hàng không, còn hầu hết mọi hoạt động kinh tế đều để tư nhân vận hành.

Đồng thời Chính phủ đề ra những chính sách khuyến khích phát triển công kỹ nghệ và ban hành luật pháp bảo đảm việc cạnh tranh của tư nhân thực sự công bằng và hợp pháp.

Nhiều công ty đã được thành lập và một số vẫn tồn tại đến nay (một số đã được đổi tên) như Sữa Ông Thọ, Sữa Foremost, Sữa bột SMA, Kem đánh răng Hynos, Xà bông Cô Ba, Dầu gió Nhị Thiên Đường, Cà Ri Ông Chà Và, Pin Con Ó, Sơn Nam Á, Giấy Đồng Nai, Bia Con Cọp, Bông gòn Bạch Tuyết, Giày Bata, Bia Larue 333, Phân bón Đầu trâu, Xe hơi Ladalat,…

Chính phủ còn thành lập các khu kỹ nghệ như Thủ Đức, Bình Dương, Long Bình, Biên Hòa, An Hòa, Nông Sơn,… hầu hết các khu kỹ nghệ này ngày nay vẫn được duy trì và phát triển.

Nhiều nhà máy được xây dựng như nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy thủy điện Đa Nhim, nhà máy vải sợi Vinatexco Đà Nẵng, Vimytex Sài Gòn, Nhà máy thủy tinh, mỏ than Nông Sơn… hầu hết các nhà máy đến nay vẫn còn hoạt động.

Các hãng xưởng lớn đa số thuộc tư sản Việt gốc Hoa, còn các hãng xưởng gia công nhỏ có tính cách gia đình thì đa số do người Việt được mở ra khắp nơi và sản xuất hầu hết các mặt hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu trong nước.

 

Hữu sản hóa tự cường

Chủ trương của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa là “dân có giầu thì nước mới mạnh” nên ngay khi thành lập chính phủ đã đưa ra Chương trình Hữu sản hóa (dân tộc) tự cường, chương trình này thành công rõ rệt nhất trong ngành phục vụ chuyên chở công cộng.

Chính phủ cho nhập cảng các phương tiện phục vụ công cộng rồi bán trả góp cho tư nhân, nhờ thế các tài xế xe taxi, xe lam, xe buýt, xe tải đều có thể làm chủ các phương tiện phục vụ công cộng.

Cuối thập niên 1970 xe gắn máy Nhật Honda, Yamaha, Suzuki,… được cho phép nhập cảng với số lượng lớn chủ yếu làm phương tiện di chuyển cá nhân, nhưng một số được sử dụng chuyên chở công cộng được gọi là xe ôm.

Nhờ thế, hệ thống chuyên chở công cộng ở miền Nam vừa hết sức thuận tiện, lại thật rẻ tiền, tạo nhiều công ăn việc làm mà không bị nạn tư bản độc quyền.

Nhờ vậy Chính phủ không phải điều hành các dịch vụ chuyên chở công cộng vừa lãng phí ngân sách quốc gia lại vừa thiếu hiệu quả, riêng tại Úc, xe lửa, xe tram, xe buýt,… đều hoạt động dưới một phần mười khả năng phục vụ.

Cũng nhờ đó, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa có điều kiện tài chánh để xây dựng và phát triển hạ tầng cơ sở, xây dựng đường xá, cầu cống, chợ búa,… thúc đẩy các hoạt động kinh tế, tạo thành một xã hội miền Nam luôn năng động và phát triển.

Các khu thị tứ, các cửa hiệu buôn sỉ, bán lẻ, khách sạn, tiệm ăn, các dịch vụ công cộng, được mở ra ở khắp nơi hết sức tiện lợi cho người tiêu thụ.

Chính phủ cũng xây dựng thành công một hệ thống ngân hàng tín dụng gồm nhiều ngân hàng tư nhân có chi nhánh hoạt động trên toàn lãnh thổ miền Nam, và đã đóng góp vô cùng tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế của miền Nam.

 

Người Cày Có Ruộng

Chương trình Cải Cách Điền Địa ở miền Nam bắt đầu từ năm 1956 nhưng mãi đến năm 1973 mới hoàn tất, mọi nông dân miền Nam đều làm chủ mảnh ruộng miếng đất họ cày cấy hay trồng trọt.

Chính phủ mua ruộng đất của điền chủ rồi bán lại cho tá điền qua phương cách trả góp hay phát không cho nông dân.

Chính phủ cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, đưa cán bộ về xây dựng nông thôn, khuyến khích nghiên cứu và áp dụng phương pháp canh tác mới với kỹ thuật mới thúc đẩy gia tăng năng suất.

Nông dân được vay nhẹ lãi để đầu tư trang bị máy cày, được hướng dẫn sử dụng phân bón hóa học, cải tiến giống lúa, trồng lúa Thần Nông, mở trang trại nuôi gia súc, tăng gia sản xuất.

Đến năm 1974, sản lượng gạo sản xuất đã tăng đến 7.2 triệu tấn hướng tới việc xuất cảng, đời sống của nông dân được cải thiện một cách rõ ràng, khoảng chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị được cân bằng.

Số điền chủ có ruộng bị truất hữu được nhận các các khỏan bồi thường lớn cũng được chính phủ giúp đỡ sử dụng vốn kinh doanh các dịch vụ cơ khí nông nghiệp, dịch vụ lưu thông hàng hoá nông sản phẩm, dịch vụ chế biến thực phẩm nông sản, hướng đến việc xuất cảng bán thành phẩm nông nghiệp, giúp nền kỹ nghệ miền Nam khởi sắc đóng góp xây dựng nền kinh tế quốc gia.

(xin xem bài https://www.bbc.com/vietnamese/forum/2014/09/140924_south_vn_land_reforms)

 

Viện trợ Hoa Kỳ

Trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa (1956-63), viện trợ của cho miền Nam được ước tính chừng 10% GDP nhưng chủ yếu là viện trợ quân sự, giáo dục và y tế hơn là viện trợ về kinh tế.

Năm 1963 khi Chính phủ Hoa Kỳ đe dọa cắt viện trợ, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã công khai ý định không muốn tiếp tục nhận viện trợ Hoa Kỳ, điều này cho thấy miền Nam đã có thể tự chủ về kinh tế.

Nhưng từ khi người Mỹ đổ quân vào miền Nam, chiến tranh càng ngày càng khốc liệt thì Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã phải phụ thuộc vào viện trợ quân sự của Hoa Kỳ.

Viện trợ Hoa Kỳ giúp tạo công ăn việc làm cho người miền Nam nhưng cũng tạo ra những ảnh hưởng xấu, như người Mỹ tiêu sài rộng rãi làm đồng tiền Việt Nam bị mất giá, tạo ra lạm phát ảnh hưởng đến đời sống của người dân và Chính phủ không thể thực hiện các chính sách vĩ mô một cách hiệu quả.

Đến khi Hoa Kỳ giảm viện trợ, rồi ngừng viện trợ, thì Việt Nam Cộng Hòa không còn khả năng chiến đấu để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

 

Phát triển giáo dục

Nhờ viện trợ Hoa Kỳ học sinh miền Nam đều có thể học hết bậc tiểu học hoàn toàn miễn phí, sách giáo khoa được nhà trường cung cấp, lại còn được ăn bánh mì, uống sữa vào giữa buổi học.

Nhưng người Mỹ chỉ giúp miền Nam về vật chất còn về mặt tinh thần, đạo đức và trí tuệ thì nhờ vào triết lý nhân bản, dân tộc, khai phóng và vào sự cống hiến của các thầy cô mới có được một nền giáo dục tốt nhất trong lịch sử Việt Nam.

Bởi thế bà cựu chủ tịch Quốc Hội cộng sản Nguyễn Thị Kim Ngân ngày 12/9/2018, phải thừa nhận kiến thức về sử ký và địa lý mà bà đã học từ thời Việt Nam Cộng Hòa nay vẫn nhớ không quên điều gì, bà Ngân biểu lộ lòng luyến tiếc vì giờ đây trẻ em học hành khổ sở, nhưng sử ký và địa lý nước nhà hầu hết đều không biết.

(Mời xem bài Văn hóa giáo dục VNCH để lại gì? - BBC News Tiếng Việt)




Về lâu dài giáo dục là nền tảng cho việc phát triển xã hội, điều đó đủ chứng minh Việt Nam Cộng Hòa đã xây dựng được viễn kiến phát triển quốc gia là một di sản đáng quý hậu sinh cần tìm tòi và học hỏi.

 

Đánh giá tổng quát

Dưới thể chế Việt Nam Cộng Hòa người dân không chỉ bình đẳng về chính trị mà còn có cơ hội bình đẳng về kinh tế, nên mặc dù chiến tranh khoảng chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa những người ở thành thị với nhau không mấy khác biệt.

Tôi lớn lên trong khu Bàn Cờ một khu lao động tại thủ đô Sài Gòn nên có thể thấy đời sống của bác Tư chạy xích lô chỉ cần vài cuốc chạy là đủ sống, của bác Hai có thùng xe kem (cà rem) đẩy bán quanh khu vực là đã đủ tiền để nuôi sống gia đình, bác thợ hớt tóc cũng đủ tiền nuôi con ăn học thành tài.

Đa số gia đình ở miền Nam (kể cả gia đình tôi) chỉ người cha làm việc nuôi sống gia đình, còn người mẹ ở nhà chăm sóc con cái.

Nhờ cuộc sống tương đối đầy đủ và thoải mái những người lao động đã không bị cộng sản tuyên truyền ảnh hưởng, nên Tết Mậu Thân 1968 khi cộng sản tấn công vào thủ đô Sài Gòn và các thành phố ở miền Nam đã không được dân chúng ủng hộ như họ kỳ vọng.

Ngược lại người dân còn đứng về phía Chính phủ bởi thế mới có những đoàn người miền Nam chạy trốn cộng sản hay cảnh thuyền nhân vượt biển được báo chí ví như những cuộc bỏ phiếu bằng chân.

Chính phủ và Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam đưa ra chính sách dung hòa quyền lợi giữa chủ và thợ vì thế cộng sản không thể lợi dụng giới thợ thuyền tổ chức những cuộc biểu tình hay đình công gây bất ổn chính trị.

Trong khi miền Nam có hai mục tiêu phải thực hiện là bảo vệ chủ quyền đất nước và phát triển xã hội thì miền Bắc lại tập trung toàn lực để “giải phóng” miền Nam.

Nhưng Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện được một phần của mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội nên cộng sản miền Nam đã không thể nổi dậy cướp chính quyền mà phải dựa vào quân đội chính quy Bắc Việt vượt vĩ tuyến 17 thực hiện việc “giải phóng” miền Nam vào ngày 30/4/1975.

 

Cần đổi mới lần 2

Đảng Cộng sản đã tiếp thu trọn vẹn hạ tầng cơ sở công nghệ kỹ thuật, cả khối chuyên viên và các doanh nhân miền Nam, nhưng đáng tiếc vì quá say sưa với chiến thắng và cuồng nhiệt với chủ nghĩa cộng sản nên họ nhanh chóng đưa cả nước vào đường đói kém và lạc hậu.

Năm 1986 khi Liên Xô cắt viện trợ kinh tế, đảng Cộng sản phải mời gọi tư bản ngoại quốc đầu tư khai thác nhân công rẻ và thị trường Việt Nam, nhưng hệ thống chính trị vẫn chưa thay đổi.

Công nhân và nông dân là hai thành phần chiếm đa số dân chúng Việt Nam đến nay làm vẫn không đủ sống, tình trạng giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các thành phần xã hội càng ngày càng chênh lệch.

Tôi vừa đọc một bản tin là vào ngày 12/4/2021 tại cửa hàng M.P đường Trần Hưng Đạo, quận 1, TP HCM, khoai lang tím nhập cảng từ Úc có giá niêm yết là 350,000 đồng/kg, có nơi còn bán tới 400,000 đồng/kg, cùng ngày giá khoai lang Nhật trồng tại Việt Nam chỉ chừng 10,000 đồng/kg.

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp nhưng nhiều mặt hàng nông sản phải nhập cảng đã là một điều đáng quan tâm, giá cả các mặt hàng được nhập cảng gấp vài chục lần giá hàng nội địa còn cho thấy tình trạng chênh lệch giàu nghèo và mất niềm tin vào phẩm chất của nông sản nội địa đã đến mức không thể hiểu nổi.

Gần đây lại dấy lên những đòi hỏi đảng Cộng sản phải “đổi mới (chính trị) không thì chết”, nhưng đổi mới chính trị chỉ là điều kiện cần, quay lại với nền kinh tế phục vụ người dân, của người dân và do người dân quản trị, như thời Việt Nam Cộng Hòa mới là điều kiện đủ để dân giàu, nước mạnh không lệ thuộc kinh tế ngoại bang.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

13/4/2021


Hôm qua trong chỗ làm của tôi có 4 người bị dương tính con cúm Háng. Họ phải đóng cửa một tuần. Tôi đi làm mấy chục năm, đây là lần đầu tiên bị đóng cửa như vậy. Mặc dù bao lâu nay thì thỉnh thoảng cũng có người bị cúm Háng, nhưng một lúc cùng 4 người bị là lần đầu tiên.
Rõ ràng là từ trước đây con cúm Háng chỉ là con cúm thường như hàng năm vì số người bị chết cũng chưa tới 0.04% . Nhưng được thổi phồng thành như là một đại dịch. Sự chích vaccine trên qui mô toàn cầu vào thời điểm này đã làm cho con cúm Háng lờn thuốc và biến thể. Người chích rất có thể không còn khả năng chống lại các biến thể khác của con cúm sau này. Rất có thể đây là nằm trong âm mưu diệt chủng của Bill Gate cho CNTC.

 
Web Statistics