ATTENTION: UK-ĐẤU TRANH Will Be Permanently Retired on December 30th, 2017.

Thursday, 20 July 2017

Cu Tèo phân biệt bác Hồ ác thật

Bác Hồ ác thật





Ngày xửa ngày xưa, khi liếc qua báo Nhân Dân thấy có bài “Địa chủ ác ghê” ký tên C.B, Cu Tèo cực kỳ “bức xúc” bởi chưa lúc nào thấy tác giả viết tắt tên mình cộc lốc như “me xừ” C.B này.



“Động não” mãi vẫn không ra C.B là ai, C.B là “con gì đây”, Cu ta chỉ còn con đường duy nhất để cứu n...ão là “tiến lên chủ nghĩa” để suy đoán:



Tác giả C.B phải là một tay Cầu Bơ Cầu Bất nào đó Chẳng Biết cái đờ-ếch gì; thấy người ta lắm của, nhiều tiền liền “không có gì quý hơn” đi theo con đường thổ phỉ bách chiến bách thắng vô địch muôn năm; thế là cứ Chửi Bừa Chửi Bậy người ta, đem người ta ra đấu tố, rồi bắn Chết Bỏ hầu tịch thu trọn gói tài sản của người ta một cách ngon ơ như có bác hồ trong ngày vui (nhờ) đại bịp mà thắng.



Cu lý luận như rứa là dựa trên cơ sở: từ trước đến giờ Cu chỉ đọc và nghe bà địa chủ Nguyễn Thị Năm là đại đại ân nhân của Mặt trận Việt Minh trong thời kỳ kháng khiến, chứ có bao giờ nghe ai nói, đọc thấy đâu viết bà Năm ác, dù là ác một chút “tí ti ông cụ”, chứ đừng nói là “ác ghê” như C.B “vừa đi vừa phịa chuyện” (1).



Phải đợi cho đến hôm nay, sau hơn 60 năm từ ngày có Đấu (tố), khi từng người tình bỏ ta đi (2)... à lộn, khi từng nhà “lão thành cách mạng” bỏ đảng “ta” đi, tiết lộ nhiều sự thật thâm cung bí sử, trong đó có ông Trần Đĩnh, người đã một thời sát cánh với “bác”, bật mí cho biết “bí mật” C.B trong cuốn tự truyện Đèn Cù của ông: C.B là viết tắt Của Bác; “Bác” đây đương nhiên là “bác-tự-xưng” Hồ, chứ còn ai trồng khoai đất nầy nữa.



Như vậy, té ra, bà Nguyễn Thị Năm “ác ghê” đâu không thấy, nhưng dưới ánh Đèn Cù của ông Trần Đĩnh, Cu Tèo thấy lồ lộ giữa ban ngày cái ác thật của bác Hồ.



Quả là bác Hồ ác thật, chứ không phải “ác ghê” kiểu Của Bác Chụp Bừa lên vị đại ân nhân của mình là bà Nguyễn Thị Năm - Cát Hanh Long.



“Đồ ăn cháo đá bát”! Ngày xưa còn bé, hễ mỗi lần nghe ai chửi như thế, Cu Tèo cực kỳ phản cảm, không tin; nghĩ làm gì có kẻ ăn cháo xong lại đi đá bát; nếu có ai đó “đá bát” chăng, là vì bị ăn phải “cháo lú”, hoặc bị người ta đưa cho bát đựng thứ cháo gì đó không phải dành cho con người ăn, nên giận quá mà đá luôn cả bát lẫn cháo, chứ đàng này xơi sạch cháo rồi mới đá bát.



Quả quyết như thế, nhưng rồi sau đó bắt chước “phong trào xét lại chống đảng”, Cu Tèo xét lại chống đá bát. Cu “đổi mới tư duy”, nghĩ: Tục ngữ có nói oan cho ai bao giờ; chắc chắn là phải có kẻ ăn cháo xong rồi đá bát nên dân gian mới có câu “Ăn cháo đá bát” để răn đời đừng chơi “đểu”, nói trắng ra là, làm trò mất dạy vô ân bội nghĩa.




Cu Tèo phân biệt bác Hồ với bác Hổ - Tranh HatKa



Nếu có kẻ nào đó ăn cháo xong rồi đưa chân đá bát, dù với bất cứ lý do gì đi nữa, thì cũng đều bị loài người kết tội là phường bạc ác. Đàng này ông “bác” nhà ta ăn cháo giá trị 800 lượng vàng xong, chẳng những không chỉ đá bát, mà còn đấu (tố) bát, đập bát, khi bát đã tan tành, bỏ vào hòm “bát” Nguyễn Thị Năm còn bị (các cháu ngoan của) “bác” đạp (3).



Bác Hồ ác thật.



PS. Cu Tèo kết luận “Bác Hồ ác thật” là căn cứ vào sách vở tài liệu đàng hoàng. Nếu có ai dờ lờ vờ (DLV) hay tơ lơ mơ “phản cảm”, thì xin phản bác lại sách vở và tài liệu tác giả dẫn chứng. Chớ dại dột đấu tố Cu này “ác ghê”, kẻo bị “Giáo sư Gu Gồ” chê cái đầu bã đậu.



*



Ghi chú:



1. “Vừa đi vừa kể chuyện” - T. Lan.



(2) “Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ” - Trịnh Công Sơn.



(3) Sau khi bị đấu tố và bắn chết, thi thể của bà Nguyễn Thị Năm không vừa khổ với quan tài quá nhỏ, các ”đồng chi du kích” phải đứng lên xác người chết đạp xuống cho lọt; người ta nghe xương chân tay gãy. Trong đám người đứng xem có “bác” Hồ đứng bịt râu giấu mặt (theo Đèn Cù của Trần Đĩnh). 



19.07.2017




Dân Muốn Biết: Hàng ngày nhận diện mặt nội thù

Nhận diện mặt nội thù 






  Bây giờ là Thế kỷ 21 mà người Cộng sản Việt Nam (CSVN) vẫn suy tư và hành động như khi họ còn ăn hang ổ chuột để lừa dân vào “kháng chiến chống Pháp dành độc lập” và “chống Mỹ cứu nước”. Có muôn vàn chuyện để chứng minh, nhưng chỉ cần nêu ra vài chủ trương rất độc tài, lạc hậu và kệch cỡm để thấy đảng CSVN đã bị tụt hậu sau lưng thế giới đến mấy chục năm.



Đó là khi người Cộng sản muốn che giấu tham quyền cố vị thì họ đòi việc gì cũng phải do “đảng lãnh đạo” và “nhà nước quản lý” cho phù hợp với chủ trương đảng cầm quyền là “yêu cầu tất yếu của lịch sử”. 



Chả có lịch sử Việt Nam nào đã cho phép đảng CSVN khua môi như thế. Đảng đã tự chiếm quyền làm chủ đất nước của dân để cai trị dân chứ có người dân Việt Nam nào đã bỏ phiếu hay trao quyền cai trị cho đảng đâu.



Ngay cả khi Hồ Chí Minh viết trong Di chúc năm 1969: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền...” cũng không có nghĩa là Quốc hội của đảng CSVN được phép quy định trong Điều 4 Hiến pháp cho phép đảng “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. 



Hành động của Quốc hội tước bỏ quyền tự quyết của dân là độc tài và phàn dân chủ. 



Chẳng những thế, đảng còn tự ý nhét chữ vào mồm dân để vu oan rằng: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta.” (trích Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Xã hội Chủ nghĩa - bổ sung, phát triển năm 2011).



Viết ẩu như thế chưa đủ hay sao mà nhiều cái loa tuyên truyền của Ban Tuyên giáo đảng vẫn còn bịp bợm để khoe lời ông Hồ Chí Minh nói rằng “đảng ta là đạo đức, đảng ta là văn minh”, hay “đảng bao giờ cũng đúng” để tiếp tục ép dân phải đeo vào cổ chiếc tròng Chủ nghĩa Cộng sản lạc hậu và giết người ngoại lai Mác-Lênin.



Nhưng đảng càng khua chiêng gõ mõ khoe khoang thì đảng viên càng suy thoái đạo đức nên thay vì phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” như khẩu hiệu mị dân của Hồ Chí Minh thì họ đã quay lưng lại với đảng để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để “thoái hóa” và “biến chất”.



Che đậy được không? 



Nhưng tại sao lãnh đạo đảng lại cứ tránh né không dám thừa nhận đảng CSVN đang thoái trào, đảng viên và nhân dân hết còn tin vào chủ trương và chính sách cai trị tụt hậu và chậm tiến của nhà nước sau hơn 40 năm thống nhất đất nước? 



Có phải vì lãnh đạo sợ mất miếng ăn và chiếc ghế cầm quyền nên cứ kéo dài lòng tham để lôi dân, kéo nước đến bờ vực thẳm? 



Lãnh đạo còn không biết xấu hổ khi Quốc tế đánh giá khả năng lao động và tri thức của dân Việt Nam thấp hơn nhiều dân tộc trong khu vực, thậm chí sau lưng cả hai nước láng giềng đàn em Lào và Campuchia?



Như vậy, sau 30 năm gọi là "Đổi mới", Việt Nam vẫn chưa ra khỏi công thức làm công cho nước ngoài. Việt Nam tiếp tục lệ thuộc sâu và rộng vào nền kinh tế của nhà nước cực kỳ nham hiểm Trung Quốc. Việt Nam tiếp tục phải nhập khẩu từ cây kim sợi chỉ và hầu hết nguyên liệu và máy móc sản xuất từ Trung Quốc để mang nợ cho dân.



Bằng chứng là: “Trung Quốc vẫn tiếp tục là thị trường mà Việt Nam nhập siêu lớn nhất với 28 tỷ USD trong năm 2016.” (theo Thời báo Kinh Doanh/Phòng Thương mại và Công nghệ Việt Nam, ngày 06/01/2017)



Vậy mà khi có những nhà trí thức và người dân lên tiếng yêu cầu đảng và nhà nước phải “đổi mới chính trị”, tôn trọng các quyền tự do và thực thi dân chủ, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, cho tư nhân ra báo và mời gọi chuyên viên người Việt Nam ở nước ngoài về nước đóng góp của để phát khởi cứu nguy Việt Nam thì nhà nước lại quyết liệt chống đối.



Bằng chứng là đảng đã chỉ thị cho cả guồng máy tuyên truyền và phản tuyên truyền của Ban Tuyên giáo đảng, Bộ Quốc phòng và Công an phối hợp với nhau đánh phá và vu oan cáo vạ cho những người có thiện chí và yêu nước.



Những tổ chức Xã hội dân sự ở Việt Nam cổ võ cho một nhà nước pháp quyền thật sự và một xã hội công bằng có dân chủ và tự do đã bị báo Quân đội Nhân dân đưa lên bàn mổ để phanh thây xé thịt.



Báo này lu loa rằng: “Trong Chiến lược “Diễn biến hòa bình” với nước ta, các thế lực thù địch triệt để sử dụng các thủ đoạn phi quân sự, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... để phá hoại từ bên trong nội bộ, hòng tạo ra lực lượng chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước. Trong đó, chúng đặc biệt quan tâm, lợi dụng xã hội dân sự (XHDS).” (QĐND, ngày 17/07/2017)



Vậy báo này nhìn các tổ chức XHDS ở Việt Nam ngày nay bằng lăng kính nào? 



Tác giả bài viết Nguyễn Đức Quỳnh giải thích: 



”Đối với Việt Nam, trong những năm qua, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng XHDS để thực hiện Chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá nước ta; chúng tập trung vào một số hoạt động cơ bản sau:



Một là, tuyệt đối hóa tính độc lập tương đối của XHDS nhằm từng bước làm cho các tổ chức XHDS trở thành tổ chức chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước… Với lập luận, XHDS là “đối quyền của quyền lực nhà nước” để tập trung đòi thực hiện trách nhiệm xã hội, chia sẻ quyền lực chính trị cho XHDS; thực chất là cổ vũ tư tưởng coi Nhà nước đối lập với XHDS; kích động thái độ vô chính phủ, lấy phá hoại thay cho xây dựng hòng từng bước đưa XHDS thành lực lượng đối trọng với Đảng và Nhà nước...”



Hai là, lợi dụng XHDS để gây sức ép về dân chủ, nhân quyền, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; đòi Nhà nước phải bảo đảm tự do vô giới hạn trong các lĩnh vực xã hội. Các thế lực thù địch coi hình thành XHDS độc lập về chính trị là điều kiện, tiền đề cho việc bảo đảm quyền con người, cổ xúy tự do cá nhân thông qua thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do biểu tình... 



Ba là, các thế lực bên ngoài tìm cách xâm nhập, tác động, chuyển hóa các tổ chức chính trị, xã hội ở nước ta hòng “phi chính trị hóa” các tổ chức này, từng bước biến chúng thành các tổ chức XHDS theo tiêu chí phương Tây. Thông qua thúc đẩy phát triển XHDS để tác động hình thành trong nội bộ các cơ quan, tổ chức chính trị; đặc biệt là các cơ quan dân cử xu hướng hoạt động “độc lập”, thậm chí “đối lập” với sự lãnh đạo của Đảng ta…” 



Bốn là, thông qua các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức quần chúng trong nước để tổ chức các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn có nội dung đòi hỏi thực hiện quyền con người như: Quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí, lập hội... theo tiêu chí phương Tây, bất chấp đặc thù lịch sử, văn hóa và chế độ chính trị nước ta. Tìm cách thúc đẩy, khuyến khích cán bộ, đảng viên và người dân tích cực tham gia phản biện chính sách, phản biện xã hội, tác động và gây sức ép đòi thay đổi chính sách, hệ thống pháp luật và lĩnh vực tư pháp, đặc biệt là sửa đổi, ban hành các luật thực hiện các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí, lập hội theo tiêu chí phương Tây.” 



Thông qua môi trường XHDS các thế lực tìm cách lôi kéo quần chúng vào các “hoạt động vì mục tiêu chung” như: Đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường v.v.. hòng tạo ra tâm lý phản kháng, kích động quần chúng chống lại chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước ta; tuyên truyền, lừa bịp, lôi kéo quần chúng tham gia đòi đa nguyên, đa đảng và khởi kiện, vu cáo Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về nhân quyền...”



Chống ai - ai chống? 



Để chống lại kế hoạch có bài bản của các tổ chức XHDS, theo cách vẽ để gán ghép của báo QĐND, tác giả Nguyễn Đức Quỳnh đề nghị đảng: “Để góp phần đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng XHDS của các thế lực thù địch, cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các hội, đoàn thể quần chúng và các NGO ở Việt Nam. Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với cả hệ thống chính trị, trong đó có các tổ chức chính trị, xã hội. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gồm cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức quần chúng. Trong đó, Mặt trận Tổ quốc cần phát huy chức năng phản biện, giám sát, vận động nhân dân cùng tham gia giám sát, phản biện, góp ý kiến trong việc hoạch định cơ chế, chính sách nhằm góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tiếp tục phát huy tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. 



Nhưng mặt trái của điều gọi là “dân chủ đại diện” là người dân được đại diện bởi Quốc hội và các Hội đồng nhân dân. Ai mà không biết Quốc hội và Hội đồng nhân dân là của đảng. Các Đại biểu Quốc hội và nhân viên của Hội đồng nhân dân đều là đảng viên được đảng cử cho dân bầu ra thì dân được gì?



Còn cái gọi là “dân chủ trực tiếp” thì còn khôi hài hơn. Một trong cách trực tiếp là “đi bầu” người của đảng cử, xuyên qua điều được gọi là giới thiệu và hiệp thông của Mặt trận Tổ Quốc, tổ chức ngoại vị của đảng. Cách thứ hai là ra ứng cử vào các chức vụ Đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân. Nhưng mà ở Việt Nam không có quyền ứng cử tự do. Nếu không được tổ chức đề cử, không được Mặt trận Tổ quốc đồng ý thì coi như “đi tầu bay giấy” ngay!



Bằng chứng có cả trăm người tự ứng cử vào Quốc hội khóa XIV năm 2015 đã bị loại chỉ vì họ là thanh phần tranh đấu chống chủ trương và chính sách cai trị độc tài của nhà nước.



Như vậy xem ra đảng CSVN đang phải tứ bề thọ địch đấy chứ chẳng phải bình yên đâu. Nhưng mà kẻ thù của họ là ai hay chỉ là con ma cà rồng, hoặc ma vú dài viển vông “Diễn biến Hòa bình” (DBHB) không ai nhìn biết mặt mũi ra sao?



Cho đến nay, Ban Tuyên giáo chỉ biết cáo buộc không bằng chứng những người có thiện chí thi hành chỉ thị từ các thế lực thù địch để chống đảng và phá hoại chính sách xây dựng và phát triển kinh tế của nhà nước.



Cái gọi là âm mưu DBHB được đội ngũ dư luận viên nêu tên là thủ phạm đứng đầu sau lưng kế hoạch gây ta tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” để làm cho đảng suy yếu, mất vị trí lãnh đạo.



Nhưng DBHB là ai?



Đảng trả lời: “Trong những năm qua, tùy từng đối tượng và phạm vi tác động mà các thế lực thù địch, cơ hội trong và ngoài nước đã sử dụng những thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khác nhau. Trong đó chúng đặt trọng tâm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ. Bởi đây là nơi hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của nước ta. Khi quan điểm, đường lối không chuẩn thì sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước là khó tránh khỏi. Và khi đường lối, chủ trương không vì cuộc sống, lợi ích của nhân dân thì niềm tin của quần chúng đối với Đảng, với Nhà nước và chế độ sẽ bị xói mòn, mất niềm tin.” (Tạp chí Tuyên giáo, 30/05/2017)



Nhưng chẳng lẽ cán bộ, đảng viên đã suy thoái tư tưởng, lập trường đã bị chao đảo xuống cấp dữ lắm hay sao mà hai nguy cơ “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” đã có thế len lỏi vào thượng tầng lãnh đạo của nhà nước? 



Nhưng chúng là ai, ở đâu ra và do thế lực nào ở bên ngoài đã móc ngoặc với bên trong để tạo nội gián đánh phá đảng từ bên trong mà Công an và tình báo đảng không hay? 



Hay là đảng cũng mù mịt như mọi người nên Tuyên giáo chỉ biết tung hỏa mù để rung cây dọa khỉ như báo cơ quan đã vẽ vời: ”Như chúng ta đã biết, “diễn biến hòa bình (“DBHB”) và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ khăng khít, không tách rời, trong đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là âm mưu, thủ đoạn và cũng là mục tiêu của chiến lược “DBHB” mà chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang tiến hành đối với cách mạng Việt Nam.”



Viết như thế mà không nêu được đích danh tên “chủ nghĩa đế quốc” là nước nào, hay “thế lực thù địch” là ai thì Tuyên giáo đã phản tuyên truyền vì lối lý luận cụt đuôi này chỉ làm cho những kẻ nội thù trong hàng ngũ đảng nổi bật lên.



Vì vậy, không ai ngạc nhiên khi thấy báo Tuyên giáo cũng chỉ biết hô hoán: ”Bởi vậy, tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch; ngăn chặn đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề có ý nghĩa quyết định làm thất bại chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch.” 



Cứ kéo lưỡi ra để lu loa như thế tưởng đâu không ai nhận ra kẻ thù của đảng là ai. Họ chính là hàng ngũ cán bộ, đảng viên không còn thiết tha đứng trong hàng ngũ đảng; cũng chẳng muốn trung thành với chủ trương lệch lạc, lỗi thời và đi theo con đường lầm lạc của đảng nữa.



Một bằng chứng khác là ngoài Diễn biến Hòa bình, Tự diễn biến, Tự chuyển hóa hiện nay đảng còn phải lo xoắn vó lên với tình trạng đang có nhiều bài viết, thư tố cáo lãnh đạo bị đảng lên án có mục đích gây chia rẽ nội bộ Đảng và Quân đội



Bài viết của Nguyễn Văn Minh trên báo Quân đội Nhân dân ngày 17/07/2017 đã chứng minh rằng: “Những chiêu thức ấy đang được các thế lực thù địch sử dụng triệt để ngày hôm nay bằng các thủ đoạn xuyên tạc, bịa đặt những thông tin xấu về nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội. Chúng không từ một thủ đoạn gì, từ lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình đến cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.”



Minh còn cho biết kế hoạch mới có nội dung: “Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, gây bất lợi, phá hoại quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng Trung Quốc, Lào, Campuchia...”



Bài viết nhìn nhận rằng: “Những đơn thư mạo danh đó có thể làm tổn hại cả thanh danh của những cán bộ, tướng lĩnh trung kiên, cả một đời hy sinh, cống hiến nay bị mang tiếng “đổi màu”, “trở cờ”, “tự diễn biến” trong mắt đồng chí, đồng đội và nhân dân. Với thủ đoạn đó, chúng đồng thời đạt được mục đích vừa tấn công vào những cán bộ lãnh đạo đương chức, vừa hạ thấp uy tín các vị lãnh đạo lão thành, nghỉ hưu; vừa gây nghi kỵ, mâu thuẫn trong nội bộ, giữa đội ngũ cán bộ đi trước và lớp trẻ, giữa cấp trên và cấp dưới...”



Với tình hình nêu trên, có ai ở Việt Nam còn chưa tin đảng và nhà nước cũng đang “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trước mặt kẻ nội thù?



20.07.2017




Tuesday, 18 July 2017

Lời thú tội đảng viên gộc phản tỉnh tuyên bố đòi thay đổi chế độ Tận Gốc Rễ...

Dân oan biểu tình tại Hà đông.
-----------------
Đảng viên Gộc Phản Tỉnh tuyên bố đòi thay đổi chế độ Tận Gốc Rễ...
-------------------
Lời thú tội của bác sỹ Trung Quốc mổ cướp nội tạng
-------

Dân Muốn Biết:CHÚNG TA ĐANG TỰ LỪA NHAU

CHÚNG TA ĐANG TỰ LỪA NHAU
alt
Viết ra những dòng này, đó là một niềm đau xót cho quê hương đất mẹ. Bởi vì chúng ta đang tự lừa nhau…
Muốn thắng được cộng sản gian dối, chính chúng ta phải ngay thẳng. Đó là một yếu tố kiên quyết. Nhưng đằng này, chúng ta cũng đang học thói quen của cộng sản đó là “né tránh”, “bao che” cho người thân quen hoặc những gương mặt “nổi” cho nên thực ra chính chúng ta đang tự lừa dối chúng ta trong sự ảo tưởng về cái gọi là đoàn kết chống cộng.
Một mảng bê tông, nếu chúng ta để cho thép gỉ hoen làm cốt thì vẫn có thể có một mảng bê tông đẹp mắt. Thế nhưng rất nhanh chóng, tấm thép hoen rỉ đó sẽ làm cho mảng bên tông bị rã ra. Nếu chúng ta tự lừa dối nhau, không làm trong sạch hàng ngũ thì chúng ta chẳng có cơ hội giật sập cộng sản. Ngược lại, chính chúng ta sẽ thất bại.
Vạch ra cái xấu để sửa chữa là một điều tối cần thiết để trong xã hội dân chủ. Chúng ta muốn hướng tới dân chủ thì ắt chúng ta phải tự làm điều đó trước tiên. Nhưng tiếc rằng chúng ta đang cố tình chấp nhận mảng bê tông chất lượng kém chỉ vì số lượng mà không hề quan tâm đến chất lượng.
Có thể ví dụ, có những kẻ đã lợi dụng đấu tranh để kiếm tiền hải ngoại, tung hô lá cờ đỏ, ngợi ca cộng sản. Nhưng còn rất nhiều người lên tiếng bênh vực với cái gọi là “vì mục tiêu chung”. Mục tiêu gì đây khi người đó ăn tiền Quốc Gia và thờ Cờ Tàu ? Mục tiêu của các bạn là bảo vệ biểu tưởng nô lệ hay sao ? Đó là một điều chứng minh nếu ai đó bênh vực cho những kẻ cuội thì chính các bạn đang lừa dối các bạn.
Một ví dụ khác, có một tên hòa thượng việt cộng là Thích Nhật Từ đến Mỹ và Canada để tuyên truyền cho cờ đỏ, phỉ báng cờ Vàng, ca tụng Hồ Chí Minh. Hắn ta bị phản đối ở Mỹ. Trong khi đó, hắn đến Canada thì lại được tiếp đón hân hoan bởi chính một số người là quân dân cán chính VNCH, hoặc người thân của những kẻ mang danh chống cộng. Vậy mà không ai lên tiếng, cộng đồng lặng thinh chỉ vì quen biết, nể nang.
Một ví dụ khác, một người luôn tự cho mình “chống cộng”, phỏng vấn các gương mặt nổi tiếng nhưng đã đi làm tay chân cho ca nô Đàm Vĩnh Hưng. Tuy nhiên cả cộng đồng ùn ùn đi biểu tình chống Đàm Vĩnh Hưng, Thu Phương thì được trong khi không ai dám động đến nhân vật đó. Chỉ bởi quen biết, nể nang.
Chính chúng ta đang tự lừa dối chúng ta. Chính chúng ta cũng đang bị “cộng sản hóa” bởi vì chúng ta không dám minh bạch những sai lầm trong hàng ngũ chúng ta. Chúng ta đang bước theo con đường bao che cho cái xấu của bọn cộng sản. Đó là sai lầm.
Ai cũng có thể sai, ai cũng có thể lầm. Chúng ta có thể bỏ qua và cho họ cơ hội sửa chữa. Nhưng ít nhất chúng ta phải lên tiếng để những người mắc sai lầm sửa chữa và xin lỗi đồng bào. Nhưng đằng này, chúng ta im lặng đồng lõa với cái xấu. Chúng ta nói rằng “vì mục tiêu chung”, “vì đại cục”. Thực ra, chúng ta đang tự hại chúng ta bằng hành động tự lừa dối chúng ta.
Hậu quả thì sao ? Những gương mặt dân chủ cuội khi không bị vạch mặt tiếp tục lừa gạt lòng tin của nhiều người hải ngoại. Những gương mặt đón tiếp sư Việt cộng linh đình vẫn ung dung lên tiếng “chống cộng”. Gương mặt làm tay sai cho ca nô Đàm Vĩnh Hưng thì vẫn lừa gạt được khối người vì cái gọi là “yêu nước” của y. Trong khi đó, những người nói lên sự thật, đòi hỏi làm sạch đội ngũ thì bị thù ghét, bị gán cho tội “phá hoại” đoàn kết. Thậm chí bị cộng đồng xa lánh, dè bỉu. Đó là công bằng ư ? Đó là dân chủ ư ? Không hề có điều đó. Chúng ta đang tự lừa chính chúng ta mà thôi.
Mỗi một con người, đều có sai lầm. Lên tiếng chỉ ra cái sai của người đó chính là dân chủ. Cá nhân người viết mong muốn những ai đã sai cần phải xin lỗi và sửa chữa sai lầm. Chúng ta cho họ cơ hội xin lỗi và sửa chữa chứ chúng ta không thể dung túng cho cái sai tày đình của họ được.
Nếu tiếp tục con đường này, thái độ này thì mảng bê tông đẹp đẽ kia sẽ sớm bị hoen rỉ và vỡ nát. Câu chuyện ngày hôm nay tôi đã từng nói 6 năm về trước và vẫn nói lại rất, rất nhiều lần. Nhưng chẳng mấy ai nghe, chẳng mấy ai để ý và họ còn dè bỉu tác giả với thái độ kinh người. Nhưng…lại là nhưng…ngày hôm nay thì khắp nơi vỡ ra chuyện dân chủ cuội, chuyện tiền bạc, chuyện mồm nói chống cộng mà tay thì bợ đỡ Việt cộng….Và câu chuyện chắc chắn chưa dừng lại bởi tôi biết còn rất nhiều dân chủ cuội chưa lộ nguyên hình mà nếu bây giờ tác giả có nói, có bằng chứng cũng chẳng ai chịu tin. Đơn giản bởi chúng ta đang tự lừa chúng ta sau cái câu quen thuộc của chính cộng sản “Vì đại cục”
Rất buồn, nhưng biết làm sao khi cái dối trá đang lên ngôi. Âu đó là định mệnh buồn của dân tộc Việt. Và xa hơn, muốn thay đổi định mệnh buồn đó, chính chúng ta phải thôi lừa dối chúng ta.
Đặng Chí Hùng
14/07/2017

Câu chuyện người tù thế kỷ gặp được phép mầu trong xà lim



 



        NGƯỜI TÙ THẾ KỶ NGUYỄN HỮU CẦU


CÂU CHUYỆN VỀ PHÉP LẠ "BỔNG DƯNG ĐI ĐƯỢC"
Viết theo lời kể của "Người tù thế kỷ"

Tôi là Nguyễn Hữu Cầu, sinh ngày 5/7/1947, cựu Đại úy QL.VNCH, Vì chống tham nhũng, hối lộ, tôi đã bị nhốt 32 năm tù (1982-2014). …Xin nhắc lại, đây là vụ án mà tôi, Nguyễn Hữu Cầu đã tố giác Ông Viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Nguyễn Thế Đồng - Tỉnh Kiên Giang, đã hiếp dâm bốn bé gái can tội vượt biên. Vì sự tố cáo này mà nhà cầm quyền cs đương thời Kiên Giang đã trù dập Nguyễn Hữu Cầu tôi bằng bản án"tử hình" sau đó được giãm xuống " chung thân"....Rồi nhờ sự can thiệp của quốc tê và cộng đồng người Việt Hải Ngoại, cuối cùng tôi đã được trả về nhà vào 9 giờ tối ngày 21 tháng 3 năm 2014.

Câu chuyện người tù thế kỷ gặp được phép mầu trong xà lim


Cách đây hơn 14 năm; Mắt tôi sắp mù hoàn toàn, vì trại tù đã cố tình cho khói thải của vỏ hạt điều vào khu giam riêng. Chân tôi sắp bị liệt vì lần tường đi cũng đi không quá ba bước là sụm bà chè! Thân xác của tôi chỉ còn 37 kg! tôi bị đau nhức khắp nơi do hậu quả những lần lấy lời khai vào những năm 1982-1983! và những lần bị cùm chân với thời gian dài trong lúc bị biệt giam.

Tôi vẫn còn nhớ ngày Lễ Phục Sinh năm 1986. Trong buổi làm lễ rửa tội chui cho tôi trong tù; Cha Giuse Nguyễn Công Đoan ( Cha Tuyên Úy/ Bạn đồng tù) đã dặn tôi rằng :" Người Công Giáo mà tự tử thì bị mang tội trọng và linh hồn thành tro bụi! Tôi luôn cầu nguyện Thiên Chúa xin hãy cho tôi được chết tự nhiên, tôi không chịu nỗi đau đớn nữa rồi! Đúng 24 giờ, nếu tôi không chết tự nhiên theo lời cầu xin ! tôi sẽ bò vào đường mương , vì tôi đã chuẩn bị lâu rồi : "Tay phải nắm sợi dây điện xanh ,tay trái kéo xuống dây điện đỏ, như thế là xong".....Lúc đó gần 12 giờ đêm tôi đọc kinh lần cuối! Bổng nhiên,tôi có cảm giác như trần nhà của phòng xà lim biến mất ....sao trời hiện ra chi chít, ánh trăng non thật dịu dàng ...Một bà đầm hiện ra trước mắt tôi, bà mặc chiếc Robe trắng, thắt chiếc đai xanh.....vẩy tay..vẩy tay... với nụ cười thật hiền hòa, miệng bà luôn nở nụ cười hiền thật hiền, vừa nở nụ cười dịu hiền bà vừa tay vẩy về hướng tôi.. tay vẩy..vẩy.. nhưng không nói lời nào. Tôi thầm nghĩ nếu:" Bà ơi bà là Đức Quan Âm Bồ Tát hay Đức Mẹ Maria hằng cứu giúp ? Bà ơi xin ban phép lành cho con được chết một cách nhẹ nhàng! con đau đớn lắm Bà ơi " .....Rồi tôi chồm chồm tìm cách đứng dậy và nhón chân lên ....độ năm phút sau, tôi bước vào hồ nước bên trong.... tôi vừa bước đi chầm chậm và tự nghỉ:" Ủa mà tại sao mình đi được sau mấy tháng bại liệt?", đây có phải là phép lạ mà Bà Đầm mặc áo trắng đã ban cho tôi chăng?. Thế là cơn bại liệt hai chân từ nhiều tháng qua đã biến mất và từ đó tôi đã đi được mặc dù có chậm bước, một kỳ tích thật huyền diệu đến với tôi, một người tù khổ sai trong chế độ cộng sản.

Sáng hôm sau, cán bộ quản giáo ( cai tù) mở cửa phòng bước vào và khi thấy tôi đi được ông ta ngạc nhiên hỏi: Ủa anh đi lại được rồi à ? Mấy ngày sau, có đội tù hình sự xuống khu biệt giam để dọn cỏ, trong số có vài em đạo công giáo, sau khi nghe tôi kể chuyện, mấy em nói :_"ĐỨC MẸ MÂN CÔI ĐÓ CHÚ ƠI" ...Hôm nay tháng 7 năm 2017 nơi nhà tù lớn, tôi chợt nhớ lại những ngày này cách đây 14 năm vào đêm 20.3.2003 tôi đã gặp được đấng linh thiêng và may mắn nhận được sự nhiệm mầu từ ơn trên ban cho tôi, để tôi có thể được đứng thẳng người lên, thêm can đảm bước đi tiếp tục trong bóng tối của cuộc đời nơi nhà tù nhỏ.

Tôi Nguyễn Hữu Cầu, một người oan tù, với ước nguyện cuối đời là nhận được sự trã lời của những vị lãnh đạo tại cấp tỉnh nơi tôi đang cư ngụ hay cấp cao hơn.., đồng thời cứu xét lại vụ án oan mà tòa án Tỉnh Kiên Giang đã tuyên án để làm sáng tỏ vụ án cách đây 35 năm. Tôi tin rằng những gì ghi trong hiến pháp 2013 được các cấp thi hành nghiêm chỉnh, hầu những người dân như chúng tội thấy được cán cân công lý dưới mái nhà CHXHCNVN giao động một các tự nhiên hoàn toàn mà không bị ảnh hưởng bởi bất cứ ngoại lực nào khác.

Chúng cháu ghi lại những gì được nghe thấy được từ bác Nguyễn Hữu Cầu kể trong thời gian qua - trên các báo chí hải ngoại và trong FB cá nhân của bác. Chúng cháu chúc bác Nguyễn Hữu Cầu một sức khỏe trường tồn, để nhìn thấy được chính nghĩa và ánh sáng công lý sẽ rạng rỡ trên quê hương VN trong những ngày sắp tới.

Vo Thi Linh  5.7.2017.
-----

Monday, 17 July 2017

Vùng xôi đậu và Cái Hòm Thiếc

 Vùng xôi đậu
Công tác xây cất trường tiểu học Sao Mai tại làng Hà Bằng được thành công nhanh chóng là nhờ sự hiện diện của đoàn quân tăng cường cho đồn Ty Hạ. Sở dĩ nhiều người khẳng định như vậy là vì trước khi đơn vị tăng cường cho đồn Ty Hạ được chuyển đến đây – tuy có đồn Nghĩa Quân nơi đèo Quảng Cau – mọi công trình kiến tạo của chính phủ V.N.C.H. đều bị Việt Cộng phá hoại.
Image result for Vùng xôi đậu
Trước lễ khánh thành trường Sao Mai, hội đồng xã tận dụng được một số nhân công tình nguyện để trang hoàng khuôn viên ngôi trường. Nhóm người này ghép gỗ thành một khán đài “dã chiến”. Nhóm người kia chặt lá dừa, xén lại cho gọn, bọc chung quanh mấy trụ gỗ cho có vẻ tươi mát. Nhóm người nọ treo cờ, giăng giây điện để cắm micro. Nhóm người khác đem băng ngồi của học trò sắp ngay ngắn trước khán đài để hôm khánh thành quan khách và phu huynh học sinh ngồi.

Sáng sớm của ngày khánh thành trường Sao Mai, nơi mái hiên, các cô giáo duyên dáng trong những chiếc áo dài tha thướt. Các thầy giáo mặc quần đậm màu, áo dài tay, gài nút ở cổ tay và thắt cà- vạt. Vài thầy hướng dẫn toán học sinh vào giàn chào, dọc theo lối vào từ cổng trường. Vài thầy lăng xăng dợt lại bài Quốc Ca cho toán học sinh phụ trách hành lễ, ngay cột cờ, giữa sân.

Trên gương mặt của mỗi người như toát ra sư vui tươi, trang trọng mà từ lâu lắm người dân tại làng Hà Bằng hằng mong đợi.

Khoảng chín giờ, dân chúng trong làng đều quần áo chỉnh tề, cùng nhau đến trường Sao Mai dự buổi lễ quan trọng. Một số nông dân vẫn ra đồng, ra rẫy, làm công việc thường lệ. Riêng Thêm và đứa em trai – viện lý do là ngày giỗ – không tham dự lễ khánh thành.

Nhân ngày giỗ, Thêm mời người yêu, tên Duệ – hiệu thính viên của đại úy Phong, chỉ huy trưởng đoàn quân tăng phái cho đồn Ty Hạ – đến nhà ăn giỗ. Duệ từ chối, vì biết ngày đó Phong bận đón phái đoàn của ông Quận Trưởng đến dự lễ. Thêm năn nỉ rồi giận hờn làm cho Duệ khó xử. Duệ đành xin phép Phong.

Nhận thấy buổi lễ dự trù kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ, không có gì quan trọng phải cần đến hiệu thính viên; nếu trường hợp khẩn cấp Phong có thể dùng máy truyền tin của ông Quận Trưởng, Phong cho phép Duệ vào làng dự đám giỗ.

Khi Duệ vừa qua khỏi hàng rào bông bụp thì nghe tiếng em trai của Thêm hát: “…Các anh đi, đến bao giờ trở lại…Các anh về, tưng bừng trước ngõ. Lớp lớp đàn em hớn hở theo sau. Mẹ già bịn rịn áo nâu. Vui đàn con ở rừng sâu mới về…”(1) Dù là một người không chơi nhạc, Duệ cũng thoáng giật mình vì câu “…đàn con nhỏ rừng sâu mới về!” Duệ tự hỏi “Đàn con nào mà ở rừng sâu? Chỉ có đàn con Việt Cộng mới ở rừng sâu.” Hơi khó chịu trong lòng, Duệ chưa kịp đến hỏi đứa bé thì Thêm xuất hiện, niềm nở chào hỏi và mời Duệ vào nhà. Duệ hỏi “hai bác” đâu? Thêm đáp Ba Má của Thêm phải đi xuống đầm Ô- Loan mua lác về dệt chiếu gấp. Duệ chẳng để ý, miễn được gặp và ăn cơm cùng người yêu là Duệ vui trong lòng.

Trong khi Duệ chia xẻ những giây phút ấm cúng với Thêm thì trước sân trường Sao Mai, dân làng tề tựu rất đông. Các bô lão mặc áo dài đen, đội khăn đóng, được mời ngồi nơi hàng ghế đầu tiên.

Chiếc Jeep “lùn” và một chiếc Dodge chở lính hộ tống dừng lại bên lề quốc lộ. Toán lính hộ tống từ chiếc Dodge nhảy xuống. Ông Quận Trưởng và Phong – được ông Quận Trưởng ưu ái ghé đồn Ty Hạ đón, đưa đến nơi hành lễ – từ chiếc Jeep bước xuống trong khi quý vị trong ban tổ chức từ trong trường đi nhanh ra cổng, đón tiếp hai vị thượng khách.

Khi ông Quận Trưởng, Phong cùng toán binh sĩ theo đại diện của ban tổ chức vào nơi hành lễ thì mọi đôi mắt chăm chú nhìn theo. Trong lòng mỗi người dân hiện diện tại buổi lễ đều nảy sinh mỗi ý nghĩ khác nhau. Người thì thở dài, thầm ước: Phải chi con trai của họ đi “lính Cộng Hòa” thì sẽ được sống tự do, ăn mặc tươm tất, oai phong chứ không phải sống chui rúc, rách rưới nơi xó xỉnh, hầm cống nào đó; thỉnh thoảng mới lẻn về xin gạo, xin tiền! Kẻ thì thầm tiếc, phải chi đơn vị của Phong về đây sớm hơn, chắc chắn đồn Nghĩa Quân đã không bị Việt Cộng dùng chiến thuật biển người “đánh úp” để con của họ phải chết! Có người lại buồn; vì từ ngày đồn Ty Hạ được thành lập – và nhất là từ ngày đơn vị của Phong tăng phái cho đồn Ty Hạ – thằng con của họ cứ trốn miết trong rừng, không dám về!

Sau phần nghi lễ thông thường, ông Hiệu Trưởng trường Sao Mai, đại diện ban tổ chức cảm tạ sự hiện diện của quan khách và đồng bào. Tiếp theo, ông Quận Trưởng – đại diện chính quyền – ngõ lời cùng đồng bào. Sau khi một vị bô lão nói lên cảm tưởng của dân làng đối với sự lưu tâm của chính phủ V.N.C.H. dành cho con em của làng Hà Bằng, một đại diện học sinh cũng lên khán đài bày tỏ lòng biết ơn và niềm tin tưởng tốt đẹp của các em vào chính thể Quốc Gia.

Người cuối cùng được ban tổ chức mời lên khán đài là đại úy Phong. Phong được giới thiệu như là một người đã đem yên bình cho thôn làng; người được cảm tình của hầu hết dân làng và – quan trọng hơn cả – chính Phong chủ xướng và đề nghị lên Quận về công tác thiết yếu để xây trường Sao Mai. Ngoài ra, Phong còn liên lạc với đại úy cố vấn cũ – Gary Card, hiện là cố vấn cho ông Quận Trưởng – để xin xi- măng, tôn và các vật dụng xây cất.

Đây không phải là lần đầu tiên Phong xuất hiện trước đám đông, cũng không phải là lần đầu tiên chàng ban huấn từ; nhưng tại sao lần này Phong cảm thấy xúc động lạ thường!

Nhìn quanh, Phong thấy như gốc chuối này, bờ tre nọ, khóm sậy đong đưa, bụi cam đường oằn trái, khóm lan leo tím nhạt bên bờ rào thưa, v.v… vẫn còn vương vấn bóng dáng thằng bé “đầu cá trê”! Danh từ “đầu cá trê” được dân làng dùng cho những đứa bé – vì gia đình đơn chiếc và nghèo quá – suốt ngày Mẹ phải bỏ đứa bé nằm trong một cái thúng, gánh theo để đi mót lúa, mót khoai hoặc bán dạo những thứ vặt vảnh như kẹo thèo lèo, đậu phọng rang, ổi, cốc, v.v… vì vậy, đầu của đứa bé bị dẹp ở phía sau, trông giống “đầu cá trê”.

Người dân làng Hà Bằng không thể nào tìm thấy vết tích của thằng bé “đầu cá trê” năm xưa qua nhân dáng vạm vỡ, đạo mạo và thái độ lịch lãm của Phong. Nhưng, quanh đây, nhìn đâu Phong cũng tưởng như thấy lại cu Phong với những trưa lang thang dưới gốc vong đồng, rình bắn mấy con chim sẻ với chiếc ná bằng giây thun; những buổi chiều chơi “u mọi” dưới bóng cây đa già; những buổi sáng – với đôi bàn chân cáu bẩn, đầy ghẻ – bước nhè nhẹ, rón rén trên khóm đá cuội im lìm bên con suối cạn để bắt mấy con chuồn chuồn kim…

Không ai có thể tìm lại để sống với quá khứ của mình. Nhưng, tại Hà Bằng, Phong đã tìm lại được chàng. Từ lúc tìm lại được chính mình, Phong cảm thấy thương yêu mảnh đất này như thương yêu tuổi thơ đã mất. Và Phong thầm nguyện sẽ bảo vệ an ninh tuyệt đối cho ngôi làng này!

Ý tưởng của Phong vừa đến đây và bước chân của Phong còn cách micro một khoảng ngắn thì nhiều và rất nhiều trái đạn pháo kích của Việt Cộng rơi ngay địa điểm khánh thành trường tiểu học Sao Mai!

Phong quỵ xuống. Trong cảnh hỗn loạn của đạn rơi, của tiếng nổ, của tiếng la khóc, của bụi đất và mảnh đạn bay mịt mờ, Phong không hiểu tại sao chàng không thể gượng dậy được! Trước khi chìm vào hôn mê, Phong tưởng như chàng thấy rõ hình ảnh cu Phong đứng chàng hãng, giăng hai tay ngang cửa, không cho cán bộ Lục vào nhà…

Trong số những cán bộ cao cấp cùng đơn vị với ông Thưởng – Bố của cu Phong – đến nhà học Pháp văn do ông Thưởng dạy, cu Phong không hề thấy Lục. Nhưng mỗi khi ông Thưởng đi công tác thì Lục lại đến thăm bà Thưởng! Lần nào cũng vậy, Lục mặc quân phục màu “cứt ngựa”, bên hông đeo “súng lục”, chân mang dép Bình Trị Thiên và cởi ngựa – chứ không đi xe đạp hoặc đi bộ như ông Thưởng và các “đồng chí” cùng đơn vị với ông Thưởng. Sau khi vào sân nhà bà Thưởng, Lục xuống ngựa, cột giây cương vào gốc tre trước nhà rồi thong thả đi vào.

Thấy cu Phong vẫn trong tư thế đứng chàng hãng ngang cửa chứ không né tránh, Lục gọi: “Chị Thưởng ơi!” Bà Thưởng từ bếp chạy ra: “Dạ, chào cán bộ. Ông nhà tôi không có ở nhà.” Lục cười: “Biết rồi. Chị khỏe chứ? Tôi muốn ghé thăm chị.” Trước khi bà Thưởng kịp đáp lời Lục, cu Phong nhìn thẳng cán bộ, hỏi: “Ba tui hỏng có ở nhà mà sao bác cứ tới thăm Má tui ‘wài’ dậy?” Đã bị cu Phong cản trở nhiều lần, lần này, Lục chuẩn bị trước, lấy từ túi quần viên đường thẻ màu nâu đậm, gói trong lá chuối, trao cho cu Phong: “Hôm nay bác có cái này, ngon lắm, cháu cầm đi.” Cu phong nghênh mặt: “Hỏng thèm!” Mẹ xoa tóc cu Phong: “Con phải trả lời bác một cách lễ độ.” Cu Phong uất quá, òa lên khóc! Bà Thưởng khom xuống, ôm con, hôn con như thầm cảm ơn con trong khi Lục hơi chần chừ một chốc rồi quay gót, đến bên con ngựa.

Con ngựa đưa Lục đi xa nhưng hệ lụy do Lục để lại thì không thể nào ông bà Thưởng – và cả cu Phong – có thể ngờ được!

Ông Thưởng bị thuyên chuyển lên Chùa Lầu, một vùng núi thâm u, chỉ dành riêng cho những nhân vật thiếu tinh thần giác ngộ! Vì Chùa Lầu là nơi “chó ăn đá, gà ăn muối” cho nên chỉ có ngôi chùa cổ cạnh con suối cạn. Sư trù trì là ni sư Mẫu Đơn. Ni sư Mẫu Đơn phải “tình nguyện ủng hộ” chánh điện để bộ đội cư ngụ và phục vụ cho Đảng và bác Hồ; còn ni sư Mẫu Đơn và các ni cô khác phải dọn dẹp hậu liêu rồi thỉnh tượng Phật xuống thờ nơi hậu liêu!

Vì điều kiện sinh sống ở vùng núi quá khó khăn, “đồng chí” nào đem theo vợ con thì tự tìm cây rừng và tranh để dựng lên những túp lều trống trước hở sau. Trong thời gian chờ dựng lều tranh, gia đình cu Phong được ni sư Mẫu Đơn cho tá túc dưới mái hậu liêu. Cu Phong theo ông Thưởng chặt cây rừng, gặt tranh để dựng lều.

Lều chưa dựng xong, ông Thưởng phải đi công tác xa. Bà Thưởng trông em gái của cu Phong. Cu Phong lén bà Thưởng âm thầm đi gặt tranh.

Đến tối vẫn không thấy cu Phong về, bà Thưởng bế em bé đi quanh chùa, vừa khóc vừa gọi tên Phong.

Đến khuya, vẫn nghe tiếng gọi đã khàn của người Mẹ mất con, các đồng chí từ chánh điện quát: “Có im đi để người ta ngủ hay không?” Bà Thưởng vẫn gào khóc: “Các đồng chí làm ơn tìm giùm con tôi.” Một giọng vang lên: “Ai đồng chí với chị? Toàn dân vùng lên chống thực dân Pháp mà vợ chồng chị cứ dạy con học tiếng Tây; thế mà đòi là đồng chí với chúng tôi à!”  Chợt nhớ, từ khi tản cư đến Hà Bằng, bà Thưởng đã nghe đồn Chùa Lầu và đèo Quảng Cau là hai nơi cọp nhiều nhất, bà Thưởng van lơn: “Các ông tìm giúp con tôi chứ ở đây cọp nhiều lắm!” Không nghe trả lời, bà Thưởng thất vọng, trở về hậu liêu khi tiếng niệm kinh của các ni cô cũng vừa dứt.

Ni sư Mẫu Đơn bước ra sân, thấy bà Thưởng đang khóc ngất trong khi đứa bé gái ngủ say trong lòng Mẹ. Ni sư Mẫu Đơn hỏi nguyên nhân.

Sau khi biết nguyên nhân, ni sư Mẫu Đơn đưa Mẹ con bà Thưởng vào hậu liêu và dặn bà Thưởng không được ra ngoài. Ni sư Mẫu Đơn cùng các ni cô thắp bốn ngọn đèn lồng, cầm theo giây dừa, gậy gộc và một “phèng la”.

Ni sư Mẫu Đơn cùng các ni cô vừa rời hậu liêu một tý, bà Thưởng nghe tiếng “phèng la” vang lên cùng tiếng la hét của những người con của Phật đã quen chống chọi với thiên nhiên để tồn tại. Lúc này bà Thưởng mới nghĩ – có lẽ – tiếng “phèng la” và tiếng la hét là để dọa cho cọp sợ.

Đi dọc con suối cạn, không thấy dấu vết gì lạ, ni sư Mẫu Đơn chợt nhớ giếng lạng – giếng cạn, không xây thành – gần vườn xoài. Ni sư Mẫu Đơn vội ra dấu cho nhóm ni cô theo ni sư rẻ phải, đi lên vườn xoài.

Đến vườn xoài, ni sư Mẫu Đơn ra dấu im lặng. Đang vạch cỏ và tranh để bước đi, cả nhóm người cùng nghe tiếng kêu khóc văng vẳng. Ni sư Mẫu Đơn ra dấu cho nhóm ni cô tiến về giếng lạng – đã bị tranh phủ đầy. Càng đến gần giếng lạng, tiếng khóc la nghe đã khàn hẳn.

Sau khi ra dấu cho các ni cô cẩn thận và đứng xa bờ giếng, ni sư Mẫu Đơn một tay vin vào cành xoài, một tay thòng đèn lồng khỏi bờ giếng, hỏi lớn: “Có ai dưới đó không?” Tiếng cu Phong khóc òa: “Dạ, con! Cứu giùm con!”

Được ni sư Mẫu Đơn và nhóm ni cô thòng giây dừa, kéo lên khỏi miệng giếng, người cu Phong tái ngắt và run lặp cặp…

Nhớ ơn cứu tử ngày xưa và cũng vì tình hình quân sự tại Chùa Lầu rất căng thẳng, sau khi đem đơn vị đến tăng cường cho đồn Ty Hạ, Phong tổ chức cuộc hành quân truy lùng toàn vùng Hà Bằng và Chùa Lầu.

Đến Chùa Lầu, Phong gặp lạ ni sư Mẫu Đơn. Ni sư Mẫu Đơn vẫn nhớ từng chi tiết. Chính lúc đó ni sư Mẫu Đơn mới cho Phong biết rằng: Ông bà Thưởng đã khuyên ni sư Mẫu Đơn nên cùng gia đình ông bà Thưởng trốn về Thành; nhưng ni sư không thuận. Đã không thuận mà ni sư cũng không hề tiết lộ cho bất cứ ai về việc gia đình Phong trốn về lại “vùng tạm chiếm”.

Trong khi tâm trí của Phong cứ miên man chìm vào quá khứ thì Duệ chạy “như bay” khi được tin Việt Cộng pháo kích ngay vào buổi lễ khánh thành trường Sao Mai. Chiếc xe Lam chạy cùng chiều với Duệ dừng lại. Bác Sáu Nhỏ – chủ và lái xe Lam – chồm ra, hỏi:

–  Tụi nó pháo kích ở đâu dẩy?

Nhận ra người dân làng tốt bụng, Duệ thở gấp:

– Tụi nó pháo vô chỗ khánh thành trường Sao Mai. Bác cho tôi “quá giang” tới đó giùm.

Vì vội vàng – và cũng vì biết bác Sáu Nhỏ lúc nào cũng cho “lính Cộng Hòa” “quá giang” mà không nhận tiền – đến nơi, Duệ không kịp cảm ơn bác Sáu Nhỏ, vội chạy vào tìm Phong.

Nhìn hiện trường la liệt xác thường dân và trẻ em, Duệ uất đến lặng người! Trong đời lính, thấy biết bao xác người, bạn có, thù có, nhưng toàn là những người có liên hệ trực tiếp đến cuộc chiến cho nên trong lòng Duệ chỉ thương tiếc, ngậm ngùi, ngao ngán chứ không có cái ghê tởm, uất nghẹn như bây giờ! Đang phụ khiêng xác chết của một bé trai gom chung một chỗ với những xác chết khác, Duệ bị thiếu úy Cảnh – người vừa đem quân từ đồn Ty Hạ đến – vỗ vai:

– Ổng đâu, mày?

– Ý, chết tui! Bị thấy con nít chết nhiều quá, tui nổi “xùng”, tui rối trí, quên ổng luôn!

Cảnh và Duệ đi nhanh đến chỗ đông người và thấy ông Quận Trưởng bị thương nhẹ, đang tựa vào gốc cây bàng để được chăm sóc; Phong nằm im trên đất với đôi chân bê bết máu và được kẹp bằng hai thanh tre nhỏ. Duệ và Cảnh cùng khom xuống, sờ vào ngực Phong, thấy nhịp tim vẫn đập – nhưng yếu. Thấy Phong hé mắt, Duệ hỏi:

– Ông thầy! Ông thầy biết em là ai không”

– Biết. Duệ.

– Dạ. Ông thầy làm em “teo” wá! Em cứ sợ dại…

Nghe tiếng trực thăng văng vẳng xa xa, Cảnh và Duệ đều thầm mừng, vì nghĩ rằng văn phòng Quận đã biết tin và gọi trực thăng tải thương.

oOo

Sau khi thăm viếng, vấn an, đại úy cố vấn Gary Card bắt tay kiếu từ ông Quận Trưởng. Gary vừa xoay lưng, ông Quận Trưởng chợt nhớ, vội gọi:

– Gary!

Gary quay lại “Vâng”. Ông Quận Trưởng tiếp:

– Anh nhớ đại úy Phong mà cách nay vài tháng đã xin dụng cụ xây cất để xây trường Sao Mai không?

– Vâng. Hồi trước Phong cùng trong Lực Lượng Đặc Biệt với tôi.

– Đúng rồi! Phong cũng bị thương cùng ngày với tôi.

– Vậy sao? Hiện tại Phong như thế nào? Đang điều trị tại đâu?

– Cũng điều trị tại bệnh viện này, cách phòng tôi khoảng vài phòng; tiếc rằng tôi không nhớ số phòng.

– Tôi sẽ tìm Phong. Cảm ơn. Giữ gìn sức khỏe.

Gary vừa đi chầm chậm vừa nhìn vào từng phòng. Đến phòng số 9 Gary nhận ra Phong ngay. Hai người xúc động, nắm tay nhau thật lâu. Phong cười, mai mỉa:

– Gary thấy không? Tôi đúng là “đi sông đi biển không chết, về nhà sụp lỗ chân trâu”!

Vừa nhìn đôi chân của Phong được băng bột, trở nên to, cứng và sậm màu, Gary – tay phải vẫn nắm tay Phong – đưa tay trái vỗ vỗ lên tay Phong:

– Vì bạn là con hổ dũng mãnh!

Phong cười, chưa kịp nói gì thì Phong chợt cảm thấy như đang bị say sóng, nghe tiếng “u u” bên tai và hơi nóng hừng hực nơi cổ.

Thái độ của Phong và hơi nóng hâm hấp từ cơ thể của Phong lan qua bàn tay của Gary khiến Gary lo ngại, nói với Cảnh và Duệ:

– Nắm tay Phong, tôi biết Phong đang bị sốt. Nhiệt độ cao, có thể vết thương đã nhiễm trùng. Hai bạn nghĩ mình có nên đưa Phong ra tàu bệnh viện của Đệ Thất Hạm Đội để chữa trị hay không?

Duệ nhìn Cảnh vì Duệ chẳng hiểu gì. Cảnh đáp lời Gary:

– Sorry, tôi không dám có ý kiến trong việc này; vì việc này thuộc pham vi chuyên môn của các bác sĩ thuộc quân y viện này.

– Thôi được, tôi sẽ hỏi ý kiến Phong. Nếu Phong đồng ý, tôi sẽ can thiệp bằng mọi cách.

Gary khom xuống gần tai Phong, gọi nhỏ:

– Phong! Tỉnh dậy đi, Phong! Tỉnh dậy đi, Phong!

Nghe gọi, Phong cố mở mắt. Rất trầm tỉnh, Gary hỏi từng tiến:

– Phong! Anh tỉnh chưa? Anh nghe tôi rõ không? Tôi có một việc hệ trọng, muốn hỏi anh. Anh tỉnh chưa?

Phong nhìn Gary, môi cười méo xệch:

– Có gì quan trọng quá vậy, Gary?

– Tôi muốn đưa anh ra tàu bệnh viện của Đệ Thất Hạm Đội nhờ chữa trị. Anh nghĩ thế nào?

Phong giật mình, tỉnh hẳn, không ngờ Gary dành cho chàng nhiều ưu ái đến như vậy! Trong khi mọi người đang chờ sự quyết định của chàng thì Phong nhớ lại – trong lần đầu tiên Phong đưa quân càng quét vùng Hà Bằng, Chùa Lầu và biết mắt của ni sư Mẫu Đơn bị lòa – Phong đã thầm nguyện là sẽ gặp lại ni sư Mẫu Đơn và sẽ tìm phương tiện giúp ni sư chữa bệnh mắt. Bây giờ, nghe những lời chân thành của Gary, Phong biết điều khấn nguyện của chàng đang trở thành hiện thực. Phong đáp lời Gary với giọng đầy xúc động:

– Không ngờ Gary tốt với tôi đến như vậy! Tôi xin ghi ơn bạn suốt đời. Có điều, tôi xin Gary hãy giúp đỡ một người thiếu phương tiện hơn tôi. Người ấy rất xứng đáng nhận đặc ân của bạn. Xin bạn hãy giúp người ấy.

Gary ngạc nhiên, nhìn Phong:

– Phong! Anh thật là lạ! Anh bị thương nặng, vết thương đang làm độc. Tôi ngại bác sĩ ở đây không đủ dụng cụ, thuốc men, rồi anh sẽ mất đôi chân; vậy mà anh lại từ chối để nhường cho người khác. Tại sao?

Phong nhìn vào mắt Gary; trong ánh nhìn đó Gary đọc được tất cả sự khẩn khoảng của Phong:

– Nếu Gary có lòng giúp tôi thì xin Gary giúp người ấy. Tôi ở đây có bác sĩ; vả lại, bạn nhớ rằng tôi “sẽ không chết vì lổ chân trâu” đâu!

– Người ấy là ai? Cha Mẹ, vợ con của bạn, phải không?

– Không. Người này không họ hàng gì với tôi.

– Anh nói gì? Không họ hàng với anh mà tại sao anh lo cho người đó hơn là lo cho anh?

– Người ấy cũng như Mẹ tôi; vì người ấy đã cứu tôi thoát chết khi tôi còn bé. Người ấy là một ni sư.

Gary lập lại nho nhỏ:

– Một ni sư!

Giọng của Phong trở nên khẩn thiết vô cùng:

– Gary! Làm ơn cứu ni sư. Tôi thề sẽ làm tất cả những gì Gary muốn để Gary giúp ni sư thấy được ánh sáng mặt trời.

– Bà ấy bị mù à?

– Chưa mù hẳn; nhưng nếu Gary không giúp thì bà sẽ…

Gary nhíu mày, ra vẻ khó nghĩ vừa khi bác Sáu Nhỏ đến thăm Phong. Thấy nét mặt mọi người quanh Phong đều có vẻ nghiêm trọng, bác Sáu Nhỏ lặng lẽ đến bên Duệ.

Phong tiếp:

– Kỹ thuật giải phẫu mắt tại Việt Nam còn phôi thai lắm, Gary ạ! Hơn nữa, cuộc đời của một ni sư thì làm thế nào bà ấy có tài chánh để trang trải cho cuộc giải phẫu tốn kém như vậy. Please, Gary!

– Phong đưa tên họ và địa chỉ của ni sư cho tôi. Tôi không dám hứa gì cả. Tôi sẽ cố gắng trong khả năng của tôi.

Gary cười, vỗ vỗ vào vai Phong. Phong bảo Cảnh viết vào mảnh giấy nhỏ: Ni sư Mẫu Đơn, Chùa Lầu, Hà Bằng. Nhìn mảnh giấy, Gary ngạc nhiên:

– Sao không thấy tên đường và số nhà?

Bây giờ Cảnh mới dám lên tiếng:

– Trời ơi! Chùa Lầu là “ổ” Việt Cộng mà ai dám một mình lên đem ni sư đi, đại úy?

Vì Cảnh nói tiếng Việt, Duệ hiểu cho nên Duệ góp ý:

– Lên Chùa Lầu phải cỡ trung đội mới dám lên đó, ông Thầy.

Bây giờ Phong mới thấy sự hiện diện của bác Sáu Nhỏ, vội vẩy mấy ngón tay:

– Chào bác Sáu. Cảm ơn bác đã đến thăm tôi.

– Chu cha! Nhiều người muốn đi thăm đại úy lắm mà tui hỏng dám cho đi; vì tui hỏng biết mình tui có thăm đại úy được hay không mà chở “cả đám”, rủi “nẫu” hỏng cho vô thăm thì làm sao!

Quay sang Gary, Phong trở lại đề tài lúc nãy:

– Gary! Nếu có người đưa ni sư ra Qui Nhơn, bạn nghĩ bạn có thể giúp ni sư được không?

– Tôi sẽ cố gắng. Tôi sẽ liên lạc trực tiếp với anh về việc này.

– Xin đa tạ lòng nhân đạo của anh. Khi nào anh lo xong thủ tục, giấy tờ, xin cho tôi biết. Tôi sẽ nhờ người đưa ni sư đến Qui Nhơn, nghỉ tạm nhà bà con của tôi rồi tôi sẽ liên lạc với anh, cho anh địa chỉ của ni sư – tại Qui Nhơn.

– Tốt! Bạn có thể tin tưởng rằng ước nguyện cao cả của bạn sẽ được Đức Chúa trợ giúp. Bây giờ tôi cần tên họ, ngày, tháng, năm sinh của ni sư. Khi nào có những chi tiết cần thiết này, bạn liên lạc với tôi.

Sau khi Gary từ giã, Phong nhìn bác Sáu Nhỏ:

– Bác Sáu! Có lẽ bác đã biết bệnh tình của ni sư Mẫu Đơn rồi, phải không, bác?

– Dạ, biết.

– Nhờ bác lên Chùa Lầu thưa với ni sư Mẫu Đơn là tôi cần biết ngày, tháng, năm và nơi sinh của ni sư.

– Dạ, dễ mà. Tui dân dả đi lên Chùa Lầu hỏng sao đâu. Để tui lo.

– Cảm ơn bác. Sau này, bác có thể giúp đưa ni sư Mẫu Đơn từ Chùa Lầu xuống Hà Bằng; rồi bác chở ni sư đến Qui Nhơn, gửi ni sư ngụ tại nhà người bà con của tôi, mọi phí khoảng tôi sẽ ứng trước hoặc hoàn lại cho bác, được không, bác Sáu?

– Cái gì chớ cái đó có gì khó khăn đâu! Đại úy cứ tịnh dưỡng cho mau lành. Bất cứ lúc nào đại úy cần, cứ nói chú Duệ cho tui hay thì mọi việc đều xong. Tiền nong mình tính sau, nhen, đại úy!

– Cảm ơn bác Sáu vô cùng! Tôi sẽ không để bác Sáu thiệt thòi đâu. Thôi, chiều rồi Bác Sáu, Cảnh và Duệ về đi.

oOo

Trên đường đến chỗ xe Lam đậu, bác Sáu Nhỏ chợt nhớ một chi tiết lạ, vội hỏi Duệ:

– Nè, chú Duệ! Chú là “đệ tử” của Ổng, tại sao hôm Ổng bị thương chú không ở bên Ổng mà chú lại chạy ngơ ngơ ngoài đường dậy?

– Tại bữa đó cô Thêm mời tôi ăn giỗ.

– Con Thêm bà con với chú hả?

– Không phải. Thêm là “bồ” của tôi.

– Chú “bồ” với con Thêm hả? Chết cha! Coi chừng nghe, chú!

– Dạ. Sao, bác Sáu?

– Bữa đó nhà con Thêm giỗ ai?

– Dường như tôi nghe Thêm nói giỗ bà Ngoại thì phải.

Bác Sáu Nhỏ dừng bước, nhìn Duệ:

– Bà Ngoại của con Thêm còn sống sờ sờ đó mà ai nói với chú là giỗ bà Ngoại của nó? Chú cẩn thận, đừng để ông đại úy bị liên lụy, nhen, chú!

Duệ hoang man, nhớ lại câu hát của thằng bé “…Vui đàn con ở rừng sâu mới về…” Và, hôm đó, Duệ thấy một cụ bà lưng còng, ngồi trên phản, lặng lẽ têm trầu chứ không ăn cơm; mà bữa cơm cũng chẳng có gì ra vẻ là bữa giỗ! Lại cũng chẳng thấy nhan, đèn, vàng bạc gì cả! Mà bữa giỗ thì tại sao Ba Má của Thêm lại đi mua lác dệt chiếu? Duệ lại nhớ, mỗi lần “hai đứa” hẹn nhau bên bụi dù dẻ hoặc bên gò mối, Thêm cứ hỏi dò Duệ: “Cái máy gì mà anh cứ đeo trên lưng rồi ‘nẫu’ nói ra, anh nói dô trong đó dậy?” Duệ tìm cách không đáp lời Thêm.

Bây giờ, nhận ra được nguyên nhân của sự việc, Duệ – dù rất thương Thêm – cũng cảm thấy uất trong lòng vì chàng đã bị lợi dụng và lừa dối! Duệ bật lên tiếng chửi thề:

– Chết mẹ rồi!

Cảnh hỏi:

– Cái gì vậy, Duệ?

– Dạ, không có gì, thiếu úy.

Đáp lời Cảnh như vậy, nhưng trong lòng, Duệ đã quyết định: Sau khi Phong xuất viện, Duệ sẽ trình bày mọi việc và xin Phong cho chàng được thuyên chuyển đến đơn vị khác!

ĐIỆP MỸ LINH

----------
 Cái Hòm Thiếc
(truyện có thật, tác giả hư cấu vài chi tiết)    
“Một chàng phiêu lãng
Ôm đàn tới giữa đời…”
(Tà Áo Văn Quân – Phạm Duy Nhượng)
oOo
Gần cuối tháng Tư/ 1972, từ miền Tây, tôi trốn phép về thăm nhà. Vừa gặp nhau, vợ tôi nói ngay:
– “Anh L. vừa từ Đà Nẵng gọi về. Anh ấy nói tình hình Quảng Trị không êm, Việt Cộng đã vượt Bến Hải, không chắc giữ được Quảng Trị. Anh ra ngoài ấy đi.”
Nếu Quảng Trị chạy loạn thì nhiều khó khăn lắm. Gia đình tôi, bên ngoại và gia đình nội-ngoại bên vợ tôi đều là dân Quảng Trị cả. Không biết bà con chạy cách nào, chạy đi đâu!
Hôm sau nữa, xin được máy bay quân sự, mới sáng sớm, tôi nhờ xe trực ở Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp đưa vô phi trường Tân Sơn Nhứt.
Ở trạm hành khách, một số đông người đang chờ lên máy bay. Phần đông là quân nhân, mặc đồ lính. Binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan cấp úy. Một số là dân sự: đàn ông, đàn bà. Không có trẻ em. Tôi nghĩ thầm: Toàn dân nhà nghèo không! Mấy ông lớn chắc là đi Air Việt Nam, khỏe hơn.
Chờ chưa được nửa tiếng, một anh Trung sĩ Không quân, đứng ngay cửa ra phi đạo hô lớn: “Ai đi chuyến bay số xxxx, theo tôi lên máy bay.”
Nhiều người sắp hàng đi ra. Tôi đi gần chót, trước mặt là hai ông bà già, có lẽ vợ chồng nhà quê. Người chồng mặc áo sơ mi trắng, màu cháo lòng, lưng áo lỗ chỗ nhiều vết thâm, vết chất dơ giặt không đi. Vậy mà cũng “áo bỏ vô thùng”, quần tergal hay dacron gì đó, màu xanh sẫm, chân mang đôi “dép mũ” màu trắng.
Bà vợ áo kiểu bà ba, mầu nâu nhạt, quần đen, chân mang dép Nhật. Ông chồng thì xách cái va-li bằng thiếc, không to lắm, thứ hàng nội hóa, Chợ Lớn sản xuất, chợ Việt Nam nơi nào cũng có bán.
Cái va-li còn mới lắm, mới dùng lần đầu. Người vợ xách cái bị vải lớn, hơi nặng. Có lẽ đựng áo quần. Cả hai đều già, khoảng gần 70 tuổi. Người nhà quê lam lũ, thường già trước tuổi. Sau lưng tôi là mấy anh lính trẻ.
Tới gần cửa máy bay, mấy anh lính chen lên, cố giành lên trước. Tôi cũng dợm tranh với họ, nhưng hai ông bà già trước mặt, vẫn đi bình thường, làm tôi thấy kỳ, nếu tôi vượt mặt họ, nên thôi.
Tấm bửng sau chiếc C-119 hạ thấp xuống để mọi người vô trong máy bay. Một anh Trung sĩ Không quân khác, đứng ngay chỗ mép cửa, hỏi giấy phép lên máy bay từng người. Ông già nhà quê đưa giấy tờ ra, ông đã cầm sẵn ở tay. Bà vợ đứng bên cạnh im lặng.
Anh trung sĩ coi giấy tờ xong, đưa mắt nhìn vào cái va-li thiếc hơi lâu một chút. Tôi không rõ vì sao. Xong, anh bảo: “Lên đi”. Hai người đi vào. Tôi là người lên máy bay sau cùng.
Vào tới bên trong, tôi thấy chỉ còn một cái ghế vải sát cạnh hai ông bà già. Tôi liền ngồi xuống đó. Tiếng động cơ đang chạy ầm ầm, có lẽ chuẩn bị cất cánh.
Loại ghế trên máy bay quân sự là loại ghế xếp dã chiến, nằm sát thân tầu. Ngồi xuống thì cũng có giây “beo”, cũng gài vào móc một cái cạch như ghế xe hơi bên Mỹ vậy. Trong máy bay, ai muốn thắt giây “beo” thì thắt, còn không thì thôi. Mấy ông trung sĩ phục vụ trên máy bay chẳng nhắc nhở ai, không như ở Air Việt Nam, tiếp viên hàng không đi nhắc nhở và kiểm soát từng người.
Tiếng động cơ gầm rú mạnh hơn, rồi thân máy bay giựt mạnh một cái. Nhìn qua ô cửa tròn nhỏ, tôi thấy ngôi nhà kế phi đạo đang chạy lui. Vậy là máy bay ra phi đạo.
Tới cuối đường để ra phi đạo rồi, tiếng máy bay lại gầm rú. Tôi nghĩ là phi công chuẩn bị cất cánh. Nhưng tiếng động cơ lại rú lên, lại xuống, lại rú lên, lại xuống, mấy lần như vậy. Cuối cùng, tôi có cảm tưởng như máy bay quay lui.  Máy bay dừng lại. Tôi nhìn ra qua ô cửa tròn, mái nhà lúc nãy lại hiện ra. Có nghĩa là máy bay không cất cánh, trở về chỗ cũ.
Mọi người vẫn ngồi yên trong phi cơ. Tôi lại nghe tiếng xe hơi ngừng lại bên ngoài máy bay. Cửa phía phi hành đoàn mở. Hai người mặc đồ không quân lên chỗ phòng lái. Lại có tiếng động cơ gầm rú hai ba lần như thế.  Cuối cùng, hai người mới lên lại xuống. Tiếng động cơ gầm lên. Máy bay lại di chuyển. Có lẽ lại ra đầu phi đạo.
Cũng tới ngay chỗ cũ, hồi nãy, tôi lại nghe tiếng động cơ gầm rú. Tiếng rú lại hạ xuống, lại gầm rú lần nữa. Mấy lần như thế. Cuối cùng, máy bay ra đầu phi đạo. Tiếng động cơ rú lên, dài hơn, và máy bay cất cánh. Nhìn qua cửa ô tròn nhỏ, tôi thấy những cái dấu mốc hai bên phi đạo chạy lui rất nhanh.
Máy bay đã rời mặt đất. Bây giờ nhìn ra phía ngoài, chỉ thấy trời và mây. Máy bay lên chưa cao lắm, tôi có cảm tưởng máy bay nghiêng vòng. Chắc là để lấy hướng, tôi nghĩ vậy. Nhưng không phải. Tiếng động cơ kêu nhỏ trở lại. Một chốc tôi lại nghe tiếng bánh xe chạm phi đạo, và tiếng bánh xe đang chạy. Máy bay lại hạ cánh. Tôi không rõ chuyện gì.
Khi máy bay dừng lại chỗ cũ, chỗ đầu tiên lên máy bay. Mọi người được lệnh xuống, không nói rõ vì sao! Cánh quạt đã ngưng quay.  Hành khách kẻ đứng người ngồi xổm bên cạnh thân phi cơ.  Tôi thấy người Trưởng phi hành, mang “loon” thiếu tá, tên ở ngực là Lan, có thể là Lân – Đàn ông ít ai có tên đàn bà, – đến trước mặt tôi. Tôi tưởng ông ta muốn nói gì với tôi, nhưng không. Ông nhìn ông già tôi nói ban nãy, đang đứng cạnh tôi, tay đang ôm cái va-li.
Thiếu tá Lân hỏi xẵng giọng:
-“Ông có giấy phép không?”
-“Dạ có.” Ông già trả lời lí nhí.
-“Giấy phép cái va-li kìa!” Thiếu tá Lân vẫn gằn giọng.
Ông già lập cập lấy trong túi áo một tờ giấy quay rô-nẹ-ô, có chữ viết tay. Xem xong, Thiếu tá Lân trả lại cho ông già, bỏ đi.  Ông già gần như khóc, hai mắt đỏ hoe. Bà vợ khóc thút thít, không dám khóc to.
Tò mò, tôi hỏi:
-“Cái chi dzậy?”
-“Dạ! Ông Thiếu tá hỏi giấy phép đem hài cốt lên tàu bay. Tui có giấy đó.” Ông già trả lời, giọng nhỏ, từ tốn.
-“Bác bốc mộ cho ai?” Tôi lại hỏi.
-“Con trai tui. Nó đi lính Nhảy Dù, tử trận.”
Tôi im lặng. Dân “Quảng Trị tui” có cái lạ! Đi lính, ưa đi “thứ dữ”. “Hùng móm” em út tôi cũng vậy. Ra trường, cố đi cho được Nhảy Dù. Cẩm, bạn tôi, em Đại tá Bé, là “dân Biệt Động Quân”, trước đó là “Nha Kỹ Thuật.” Ông Lô, cũng Nhảy Dù. Dục, bạn tôi và hai ông em nó, Dưỡng, Lữ đều Thủy Quân Lục Chiến.
Rồi tôi nghĩ tới việc ông Thiếu tá Lân hỏi giấy phép mang hài cốt đứa con của ông già. Dân xứ tôi hay tin dị đoan. Đem hài cốt lên xe đò, xe hàng hay lên máy bay là xui. Có khi tài xế không cho mang hài cốt lên xe, nên thân nhân phải giấu. Chỉ đi xe lửa là không ai hỏi.
Thân phụ tôi “đi kháng chiến” qua đời trên chiến khu năm 1948. Năm 1954, hòa bình rồi, anh em tôi lên chiến khu bốc mộ đem về. Tới nhà, mẹ tôi phải dựng một cái chái tranh bên kia đường, chỗ đất trống để cái va-li thiếc đựng hài cốt ở đó. Theo tục lệ, người ta cử đem hài cốt vô nhà. Anh Xạ Thử, lý trưởng phường tôi, nói với mẹ tôi: “Nể tình chị, chớ tục của mình, đem về làng, người ta cũng cấm.”
Nghĩ tới đó, nhìn lại, tôi thấy ông bà già có vẻ sợ hãi chớ không như lúc đầu, khi tôi mới gặp ông. Có lẽ ông sợ người ta sẽ không cho ông đem hài cốt con ông lên máy bay.  Một lúc sau, mọi người được hướng dẫn lên một chiếc C-119 khác. Người ta đổi máy bay nhưng cũng toán phi hành cũ. Chuyến bay bình thường, cất cánh rời phi đạo, êm ru.
Ngồi trên máy bay lâu quá, tôi hơi bồn chồn. Tôi nghĩ sao máy bay chưa hạ cánh. Họ có bay lạc không? Tôi có cảm tưởng như máy bay đã ra tới Đồng Hới, không chừng Việt Cộng bắn lên mà rớt máy bay như không. Hỏi ra, anh Trung sĩ Không quân cho biết “Mới tới Quảng Ngãi.”  Máy bay chi mà chậm như rùa, như “Chuyến Xe lửa mồng năm” của Trần Văn Trạch.
Suốt trong chuyến bay, có lúc tôi hỏi chuyện ông già. Một là vì thấy ông là người cùng quê: Quảng Trị. Quê ngoại tôi ở đó, bên kia sông, làng Nhan Biều. Bên nầy sông là thị xã Quảng Trị.
Tôi sinh ra, lớn lên, học hành thời thơ ấu là ở thị xã. Năm 16 tuổi, tôi trốn nhà đi xa, làm một kẻ, như các bạn tôi thường gọi: “Thằng lãng tử”. Vậy là gần hai mươi năm, tôi từ miền Tây Nam Bộ, cực nam của nước Việt Nam Cộng Hòa, về thăm Quảng Trị, ở vĩ tuyến 17, cực Bắc Việt Nam Cộng Hòa. Vậy là không biết, trong đời nầy, có ai đi xa hơn tôi?
Thứ hai, tôi thấy tội nghiệp cho hai ông bà già. Lặn lội đường xa, từ ngoài kia, “về Thủ Đô”, không phải để làm một du khách, thưởng ngoạn mà làm kẻ bốc mộ cho con, đem về quê.
Tôi hỏi:
-“Con bác chôn ở đâu?
-“Ở nghĩa trang Quân Đội Gò Vấp.” Ông già trả lời.
-“Tui tới đó rồi. Nghĩa trang đó cũng đẹp lắm, để nó ở lại đó cho có bạn bè, đem về quê làm chi?” Tôi lại nói.
-“Đem về cho nó nằm chung với ông bà, cho ấm mồ ấm mả thiếu úy à!” Ông già nói. Ông gọi tôi là thiếu úy vì thấy tôi đeo trên cổ áo một bông mai vàng.
-“Quê bác ở mô?” Tôi hỏi.
-“Ở Lai Phước. Thiếu úy biết làng đó không?”Ông già hỏi lại tôi.
-“Làng đó có cây cầu trên Quốc lộ 1. Còn có cây cầu sắt trên đường xe lửa nữa, phải không?” Tôi hỏi.
-“Thiếu úy rành lắm!” Ông già trả lời tôi.
-“Hồi còn nhỏ, tui học ở thị xã mà, hay ra Đông Hà chơi! Con gái Đông Hà đẹp lắm! Ông biết không?” Tôi vừa cười vừa nói chuyện với ông.
-“Tui quanh quẩn trong làng, không biết chi hết. Ngày mô (nào) đi làm củi, tui đi dọc theo đường từ cầu ván, lên cầu sắt rồi lên rú.”
Tôi hiểu cầu ván là cầu xe hơi trên Quốc lộ, còn cầu sắt là cầu xe lửa.
Cuộc nói chuyện với ông già không có gì hứng thú; một là vì tiếng động cơ kêu đều nhưng cũng to, nhiều khi không nghe rõ ông ta nói gì, tôi chỉ đoán chừng. Thứ hai, tôi cũng thấy buồn ngủ. Khi còn ở đơn vị, tôi ít ngủ. Hai hôm về nhà thì một hôm đưa vợ đi nghe nhạc ở Queenbee, về khuya. Sáng nay lại dậy sớm ra phi trường.
Xuống máy bay, vô tới “trạm hành khách” thì tình hình náo động lắm. Kẻ lui người tới vội vã, người nầy người nọ bàn tán xôn xao.
Té ra là Quảng Trị đã mất hôm qua, ngày 1 tháng 5. Quân đội đang trên đường rút lui. Bấy giờ chưa mấy ai biết lệnh Tổng Thống buộc binh sĩ phải dừng lại bên nầy sông Mỹ Chánh, lập tuyến phòng thủ.
Đồng bào Quảng Trị chạy tán loạn về Huế. Việt Cộng từ trong núi pháo kích ra, hàng ngàn người chết trên “Quốc Lộ mới”, đoạn phía Nam Cầu Dài, phía dưới kia, trên Quốc lộ 1 cũ là cầu Bến Bá, còn gọi là cầu Trường Sanh, trên sông Trường Sanh, còn có tên là sông Diên Trường (1). Mấy hôm sau, báo chí đưa tin, đặt tên cho đoạn đường nầy là “Đại Lộ Kinh Hoàng”.
https://i1.wp.com/motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/ToiAcCSVN/DailoKinhHoang/horror_highway11.jpg?resize=478%2C318
https://daohieu.files.wordpress.com/2014/02/dai-lo-kh-02.jpg?resize=479%2C321
https://i1.wp.com/www.svqy.org/57-Adistraughtfatherrusheshisdeadso.jpg
“Đại Lộ Kinh Hoàng” 1972
Huế cũng hoảng loạn theo. Chợ Đông Ba bị đốt cháy. Dân Huế tranh nhau vượt đèo Hải Vân, chạy trốn vào Đà Nẵng.
Tôi lo lắng, băn khoăn, lúng túng không biết phải làm gì bây giờ. Tôi tìm một chỗ ít ồn hơn, ở phía góc trong của “trạm hành khách”, bình tĩnh một chút, tôi nghĩ thầm để coi phải làm gì trong khung cảnh náo nhiệt hỗn loạn và đầy lo lắng nầy.
Tới góc phòng, tôi thấy hai ông bà già đang ngồi lọt thỏm trong góc nhỏ. Ông già vẫn còn khư khư ôm cái va-li thiếc trước ngực. Thấy tôi, ông nhìn tôi, như muốn hỏi gì đó mà không dám hỏi.
Tôi thấy ái ngại cho ông, lên tiếng trước:
-“Bác nghe tin gì chưa?”
-“Dạ, nghe rồi!” Ông già trả lời.
-“Không chắc về Quảng Trị được đâu. Tình hình nầy là chạy hết rồi, làm “răng” (sao) về?” Tôi nói.
-“Tui ở “già” (nhà) quê, chắc không phải chỗ hai bên đánh “dau” (nhau), về được.” Ông già trả lời.
-“Không chắc có xe mà về. Người ta chạy vô, có ai chạy ra.” Tôi giải thích.
-“Dạ! Không biết răng!” Ông già nói. Giọng nói nhỏ và yếu, tưởng nhưng không mấy hy vọng.
Bất thần có người gọi tôi “Cậu”. Nghe giọng quen, tôi quay lại. Té ra Tịnh, một người cháu gọi tôi bằng cậu, sáng nay nghe vợ tôi gọi điện thoại ra, cho biết “Cậu ra Đà Nẵng rồi” nên lái xe đến đón tôi. Anh làm tiểu Đoàn Phó cho Tiểu Đoàn Truyền Tin, được cấp xe Jeep riêng. Trước khi quày đi theo người cháu, tôi nói với ông già: “Bác liệu tìm xe ra ngoài đó. Nhớ tránh mấy chỗ đang đánh nhau.” Chưa kịp nghe ông già trả lời gì, tôi len vào đám đông đi mất.
Tối hôm đó, tôi định mượn xe gắn máy của Tịnh để đi tìm thân nhân chạy loạn từ ngoài kia vào. Tịnh nói:
-“Cậu không đi được đâu! Hai bữa nay, Đà Nẵng giới nghiêm 6 giờ chiều. Để Tịnh đưa cậu đi. Xe cháu có phép đi trong giờ giới nghiêm.”
Hôm đó, nhờ Tịnh, tôi đi thăm vài nơi. Em gái tôi, cùng mấy đứa con, chạy từ Huế vào tạm trú nhà bà con ở đường Bạch Đằng, người chồng nó phải ở lại với đơn vị, Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương Huế; chị và anh rể vợ tôi từ Quảng Trị chạy vào tạm trú bên Sơn Chà. Gia đình anh tôi và mẹ tôi thì đã chạy vào Qui Nhơn. Nhiều người nữa, nhưng không liên lạc được, không biết địa chỉ…
Sau khi đưa tôi về nhà, Tịnh lại vào doanh trại.
Khuya lắm, anh ta mới về. Tôi vẫn còn thức, đang băn khoăn, lo lắng, không ngủ được. Chúng tôi ngồi ở phòng khách uống nước. Tịnh nói:
-“Lệnh Tổng thống không cho quân đội rút lui nữa, phải lập phòng tuyến chận địch ở sông Mỹ Chánh. Tin còn mật, nhưng vài người ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đã biết: Tướng Trưởng ra thay Tướng Lãm – (2). Mai cháu phải đi Huế. Nhiều đơn vị Tổng Trừ Bị đang trên đường ra Đà Nẵng. Khuya nay hay sáng mai họ đến. Phải giữ Huế, không được mất. Lệnh Tổng Thống đấy.”
-“Có chuyện chi gấp không mà phải đi trong tình hình nầy?” Tôi hỏi.
-“Vừa quan trọng vừa gấp. Tiểu đoàn ở đây, (3) lo việc liên lạc giữa Quân Đoàn với Saigon. Tịnh phải ra củng cố và phát triển một đài truyền tin của Tiểu Đoàn ở Huế, giữ nhiệm vụ truyền tin, không được trở ngại hay gián đoạn của các đơn vị đang đánh nhau liên lạc với Quân Đoàn. Truyền tin mà có chuyện gì thì mệt lắm!”
Một lúc, tôi nói:
-“Tui đi với được không?”
-“Được thì được, nhưng cậu ra làm gì ngoài? Về tới Huế thôi, không về Quảng Trị mình được.”
-“Dĩ nhiên, dù sao ở Huế cũng gần hơn, hỏi thăm được tin tức, coi có ai còn kẹt lại.” Tôi nói.
-“Không an toàn lắm đâu!” Tịnh giải thích.
-“Ông ở truyền tin, ông biết chỗ nào đánh nhau, chỗ nào không. Biết thì tránh được. Chắc không can gì!” Tôi nói.
-“Chỉ sợ bắn sẻ, nhất là ở trên đèo (4). Mới rồi, một người bà con bên mợ bị bắn sẻ ngay trên đèo. Trúng ngay đầu.” Tịnh nói.
Sáng hôm sau, Tịnh vô đơn vị sớm. Chị tôi, mẹ của Tịnh cũng dậy sớm, nấu bún bò cho tôi ăn sáng. Khi đó hai vợ chồng Tịnh đã đi rồi. Tịnh vô trại, còn vợ Tịnh đi làm.
Bún bò bà chị tôi nấu không có giò heo, giống như ở quê tôi hồi trước, nhưng thịt bò xào lăn thì hết sẩy. Biết tôi thích ăn những món do bà nấu, chị ấy bảo tôi: “Cậu ở chơi vài “bựa” (bữa) chị kho cá nục cho ăn.”  Tôi không chắc chị tôi biết nấu những món cao lương mỹ vị, nhưng cá nục kho, cá ngừ kho, rau muống luộc, tôm chua thịt heo, v.v… thì ăn một bữa, một đời khó quên.
Gần trưa thì Tịnh về, ăn qua loa vài chén cơm cùng với tôi rồi hối tôi mặc quần áo quân nhân đi gấp. Tịnh nói đùa:
-“Đi với cháu là đi hành quân, không phải vô lớp giảng bài đâu mà thắt cà vạt.” (5)
-“Mặc xi-vin dễ thành mục tiêu cho tụi nó bắn sẻ, ông sợ tôi chết trước ông chớ gì. Còn lâu! Số tôi thọ lắm. Nhưng có chuyện gì cũng mệt đấy.”
-“Mệt gì?” Tịnh hỏi.
-“Tui trốn phép, lỡ có bị thương hay gì, khó khai báo. Đơn vị ở trong Nam mà tôi bị thương ngoài Trung, lại không có giấy phép hay công tác gì cả.” Tôi nói.
-“Kệ! Không can gì đâu. Có gì cháu lo.”
Xong, chúng tôi lên đường. Thấy tôi nhìn chiếc xe Dodge, không đi xe Jeep, có vẻ ngạc nhiên, Tịnh nói ngay:
-“Cháu phải đi xe Dodge vì có thêm mấy chuyên viên, chở theo linh kiện. Cậu ngồi phía sau, ngay sau lưng cháu.”
Thế rồi chúng tôi lên đường, sau khi chào bà chị, Tịnh thì chào mẹ. Vợ Tịnh đi làm chưa về. Xe có tất cả 7 người: Tài xế, Tịnh, mấy trung sĩ chuyên viên truyền tin và tôi.
Xe bon bon ra hướng Liên Chiểu. Tới ngã ba Cây Lan, chỗ Quốc lộ 1 có đường rẽ đi về phía Nam, xe và người đông quá, nên tài xế chạy chậm lại. Tôi chợt nhìn qua bên đường, thấy ông già và vợ ông, người đồng hành hôm qua, đang đứng bên đường. Tay ông vẫn khư khư ôm cái va-li thiếc ở ngực, tôi chợt nói: “Ông bà già!”
Tịnh hỏi ngay:
-“Ông bà già cậu kể hồi tối hả?”
Tôi nói: “Đúng họ.”
-“Chắc họ không kiếm được xe ra Huế. Bây giờ làm gì có xe ra!”
Rồi Tịnh ra dấu cho tài xế biểu ngừng xe lại.
-“Tịnh cho ông ta quá giang hả?” Tôi hỏi.
-“Để cháu hỏi lại coi.” Xong, Tịnh bảo tài xế cho xe “de” lui.
Thấy ngại, tôi nói:
-“Ông ta có cái hài cốt đấy. Tịnh có ngại không?”
-“Cháu biết! Cháu muốn làm phước cậu à. Để cái đức cho con. Tin dị đoan làm gì.” Tịnh giải thích.
oOo
Chúng tôi ra tới Huế, trời cũng còn sáng. Trời mùa hè! Tịnh cho xe chạy thẳng ra bến xe Nguyễn Hoàng, nói với ông bà già: “Hai bác xuống đây. Không có xe về Quảng Trị đâu, hai bác phải liệu cách.”
Hai ông bà già xuống xe, tôi xuống theo. Tôi nói với Tịnh: “Để chỉ đường cho ông ta đi, họ không biết đường đâu!”
Tôi đứng trước mặt ông già, nghiêm trọng nói:
-“Từ đây, bác có thể ra Mỹ Chánh bằng xe ôm. Không có xe đò gì đâu! Từ Mỹ Chánh ra, bác không thể đi theo Quốc lộ được. Hai bên đang đánh nhau. Vô đó là chết. Đi đường nầy may ra êm hơn: Từ Mỹ Chánh, bác đi dọc theo con đường bên sông Ô Lâu mà về làng Vân Trình. Từ đó, bác ra ngã làng Trung Đơn mà về Ngô Xá. Từ Ngô Xá, băng qua Vân Hòa, Đại Hào, rồi qua sông Thạch Hãn mà qua Trung Kiên. Từ đó mà về Lai Phước thì dễ lắm.”
Ông già cứ ôm cái va-li thiếc vào mình, nói luôn miệng:
-“Cám ơn thiếu úy. Cám ơn ông Đại úy. Cám ơn mấy thầy. Thiệt phúc hậu quá. Vợ chồng tôi gặp may.”
Tôi hơi bực mình, nói:
-“Cám ơn chi nói hoài. Mấy cái làng tui nói tên, bác có nhớ mà đi qua không?”
-“Dạ nhớ! Mấy làng đó tui biết.” Ông già trả lời.
Tịnh hỏi tôi:
-“Sao cậu rành địa thế vậy? Đi chơi khi nào mà biết hết!”
-“Đi chơi đâu!” Tôi nói, “Hồi chạy tản cư, vùng đó tui có chạy qua. Dân Quảng Trị mà!”
Tôi quay qua nói với ông già:
-“Mình người cùng quê giúp nhau. Ông Đại úy nầy, – Tôi chỉ Tịnh – người làng Cổ Thành. Ngoại tui là bên Nhan Biều, gần làng bác đó!”
Ông già vẫn cứ khư khư ôm cái va-li thiếc vào ngực, mặt mếu máo, nói:
-“Thiệt là hai vợ chồng tui gặp may. Ông bà với con tui phù hộ mới gặp được mấy thầy. Cám ơn Trời Phật, Cám ơn Trời Phật.”
Tịnh nói: “Thôi bác vô trong bến xe tìm xe ôm đi đi. Ra tới Mỹ Chánh là trời tối lắm. Lại còn đi theo con đường cậu tôi chỉ, không dễ lắm đâu.”
Ông già nói: “Dạ! Cám ơn Đại úy. Tui biết đường!”
Khi ông già tính quay đi, Tịnh nói theo:
-“Vừa đi vừa hỏi dò đường người ta. Nghe chỗ nào có lính, có súng nổ thì đừng tới. Nghe chưa?”
Ông già lại “dạ, dạ” thêm mấy tiếng nữa, rồi đi nhanh vô bến xe.
Tịnh nói với tôi: “Con sống cũng khổ, con chết cũng khổ. Thiệt làm cha mẹ…”
 hoànglonghải
………………………………..
(1)-Sông Trường Sanh, còn gọi là sông Diên Trường, có “bến đò Diên Trường”, chỗ có câu hò:
Trăm năm “diều” (nhiều) nỗi hẹn hò,
Cây đa bến “cộ” (cũ) con đò khác đưa
Cây đa bến cộ còn “lưa” (còn lại)
Con đò đã “thác” (chết) năm xưa “tê” (kia) rồi.
(2)-Tịnh là em rể Tướng Lãm, có lẽ vì vậy nên anh ta biết tin ấy sớm hơn những người khác.
(3)-Tiểu Đoàn 610 Truyền Tin, đóng ở Đà Nẵng – đơn vị của Tịnh
(4)-Tôi đi dạy 10 năm trước khi nhập ngũ.
(5)-Đèo Hải Vân, xe Quân Đội qua đèo, thường bị bắn sẻ.
Thousands of people held a candlelight march in Hong Kong last night for Liu Xiaobo, the pro-democracy Nobel laureate who died in Chinese custody.

 
Web Statistics