Vui xuân nhưng không quên..

Việt cộng tấn công Sài Gòn Tết Mậu Thân 1968.
------
Chúa Xuân trên đường đến thế gian
Nhìn Nước Việt Nam ... Xuân ngỡ ngàng
Đường phố thênh thang nhiều kẻ khổ
Dòng người tấp nập lắm dân oan
Đảng Cộng tham nhũng cười đón Tết

Dân lành mất đất khóc xuân sang
Thằng gian, thằng ác làm lãnh đạo
Cho nên Nước Việt mãi tóc tang.
----------------

Sunday, 7 February 2016

Dân Muốn Biết:THÚY NGA PARIS quảng cáo kêu gọi học tập và làm tấm gương đạo đức cáo Hồ

THÚY NGA PARIS QUẢNG CÁO NHẠC XUÂN BÍNH THÂN 2016 NHƯNG KÊU GỌI "HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH"

Trung tâm Ca Nhạc Thúy Nga Paris quảng cáo lớn đa quốc gia kêu gọi khánh thính giả
"Học Tập Và Làm Theo Tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh"
Trang quảng cáo DVH Mừng Xuân Bính Thìn 2016 của Thúy Nga Paris đăng hình
rước Cờ Đỏ Sao Vàng và hoan hô "Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Muôn Năm"
VietPress USA (02-2-2016): Thể theo ý kiến của hằng nghìn đọc giả của VietPress USA khắp nơi liên lạc hỏi thăm rằng Trung tâm Ca Nhạc Thúy Nga Paris hiện nay còn đặt trụ sở chính và sản xuất Băng Đĩa Nhạc tại Little Saigon Thủ Đô của người Việt Quốc gia tỵ nạn csVN tại phố Bolsa nam California Hoa Kỳ hay đã dời về Hà Nội hoạt động cho đảng csVN? Nhiều dư luận đã được đưa lên các Diễn đàn Internet về mục quảng cáo nầy với nhiều thắc mắc về Thúy Nga Paris nhưng không được Thúy Nga Paris trả lời.
Hình kêu gọi của Thúy Nga Paris khi quảng
cáo chương trình nhạc xuân Bính Thân 2016
Nhiều đọc giả của Thông Tấn Xã VietPress USA (www.vietpressusa.com) từ khắp nơi đã gọi điện thoại, gởi Email và nhắn tin trên Facebook hỏi VietPress USA rằng tại sao Trung tâm Thúy Nga Paris nay đăng quảng cáo lớn trên Website của Công ty Quảng cáo Đa quốc gia của Mỹ là Yelp.com để hoan hô "Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Muôn Năm" và kêu gọi khán thính giả "Học Tập Và Làm Theo Tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh"? VietPress USA chỉ đưa thông tin và ước mong Thúy Nga Paris làm rõ để những người ái mộ được biết và tiếp tục ủng hộ Thúy Nga Paris. VietPress USA khẳng định không nói Thúy Nga Paris thuộc bên nào trong chính trị, không nói Thúy Nga Paris là Công Sản vì có thể trong trang quảng cáo nầy của Thúy Nga Paris có ai đó đưa hình ảnh xen vào.. Nhưng vấn đề là Thúy Nga Paris nên lên tiếng cho công luận được biết thì hay hơn là im lặng.
Website của tổ chức "Ba Cây Trúc" tại Link (http://bacaytruc.com/index.php?option=com_content&view=article&id=9333%3Atin-khn-cp-tt-thuy-nga-ng-qung-cao-tren-mng-ca-m-q-yelpq-v-gia-h-va-ng-csvn&catid=34%3Adin-an-c-gi&Itemid=53) báo "Tin Khẩn Cấp:  TT Thúy Nga đăng quảng cáo trên mạng của Mỹ "Yelp" về già Hồ và Đảng CSVN". 
Một đọc giả trên Facebook là VanXung Tran gởi cho VietPress USA link quảng cáo của Thúy Nga Paris trên mạng Yelp.ocm tại Link:  http://www.yelp.com/biz/thuy-nga-westminster.
Hình quảng cáo của Thúy Nga Paris đăng sau khi Đại hội
Đảng csVN lần XII kết thúc hoan hô "Nước Cộng Hòa
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Muôn Nam".
Hôm nay ngày Thứ Ba 02-2-2016, chỉ còn mấy ngày nữa sẽ đến Tết Bính Thân 2016. Ngày Mồng 1 Tết sẽ rơi vào ngày 08-2-2016. Trung tâm Ca Nhạc Thúy Nga Paris đang quảng cáo rầm rộ cho DVD "Hội Ngộ Táo Quân" nhân mừng Xuân Bính Thân 2016. Để làm nỗi bật đề tài và lập trường của Thúy Nga Paris hiện nay, nhất là sau ngày Đại hội Đảng csVN lần thứ XII vừa kết thúc bầu lên ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng "kế thừa" nối ngôi cựu Tbt Trọng Lú.., Thúy Nga Paris đã quảng cáo rầm rộ trên Website đa quốc gia của Mỹ là Yelp.com với những tấm hình nỗi bật của Hồ Chí Minh với lời kêu gọi của Thúy Nga Paris "Học Tập Và Làm Theo Tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh". Thúy Nga Paris cũng đăng một hình Panorama rộng cảnh quân đội mặc quân phục trắng cầm Cờ Đỏ Sao Vàng đi qua một hàng gồm 7 lá Cờ Đỏ Sao Vàng và hàng chữ viết lớn trên tấm biển dài ghi "Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Muôn Năm".
Trang quảng cáo nầy được thành lập từ ngày 21-2-2015 đến nay chỉ thiếu mấy ngày nữa là đúng 1 năm, do "T.T."
đứng tên  và ghi tên cũng như các quảng cáo, địa chỉ là của Thúy Nga Paris. Cộng đồng nghi rằng đây là
chữ viết tắt tên của bà Tô Ngọc Thủy, con gái ông Tô Văn Lai, hiện là Tổng Giám Đốc của Thúy Nga Paris?
VietPress USA rất ngạc nhiên vì từ bao năm qua Trung tâm Thúy Nga Paris được người Việt Quốc gia tỵ nạn csVN tại Hoa Kỳ nói riêng và tại khắp hải ngoại nói chung đùm bọc, hỗ trợ, mua giúp các Băng, Dĩa Nhạc để Thúy Nga Paris nay thành một Trung tâm lớn lao như thế nầy. Tại sao bây giờ Thúy Nga Paris lại quay sang đạp vào mặt những người Việt Quốc gia tỵ nạn csVN để hết lòng hoan hô "Nước Công Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Muôn Năm" và đăng hình Hồ Chính Minh với lời kêu gọi khách hàng, khán thính giả phải "Học Tập Và Làm Theo Tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh"?

Một số đọc giả và khán thính giả của Thúy Nga Paris nói rằng chắc có ai đó giả danh đăng các quảng cáo như thế. VietPress USA thấy rằng Tài khoản (Account) trên Yelp.com đứng tên người thành lập là "T.T." và đã mở ra từ ngày 21-2-2015 đến nay chỉ thiếu vài ngày sẽ đúng 1 năm. Nội dung quảng cáo ghi rõ Thúy Nga Paris, địa chỉ, số điện thoại là trụ sở của Thúy Nga Paris tại Bolsa Ave., Westminster, nam California ngay trung tâm Little Saigon. Quảng cáo nầy được cập nhật vì hiện nay đang quảng cáo cho DVD "Hội Ngộ Táo Quân" mừng Xuân Bính Thân 2016. Nhiều bài viết trên các Diễn Đàn Internet đưa ra vấn đề nầy, tại sao không thấy Thúy Nga Paris đính chính? Ai ăn rồi đi rãnh công quảng cáo cập nhật cho Thúy Nga Paris, nếu không nói là có liên hệ hay chính là của Thúy Nga Paris? Một số người cho rằng tên viết tắt "T.T." là tên của bà Tô Ngọc Thủy làm Tổng Giám Đốc của Thúy Nga Paris; là con gái của ông Tô Văn Lai chủ nhân khai sáng ra Thúy Nga Paris. Điều nầy VietPress USA chỉ nêu sự kiện của dư luận để bạn đọc tìm hiểu và để Thúy Nga Paris có thể giải thích.

Nếu mục quảng cáo nầy có ai đó mạo nhận làm giả tên của Thúy Nga Paris thì tại sao đã một năm qua nhiều người xôn xao bàn tán mà Thúy Nga Paris không lên tiếng phủ nhận, bác bỏ và yêu cầu họ xóa đi ?! Kể cũng lạ..!
Các hình ảnh quảng cáo của Thúy Nga Paris. bên cạnh có lời ghi của một đọc giả tên Tom N.
ghi rằng "Mì ăn lin Thúy Nga đang làm trò gì vy tri!"
Phải chăng Hô Chí Minh chủ trương "Cải cách ruộng đất" đã giết chết 1 triệu dân Miền Bắc VN (theo "Cuốn Sách Đen về Tội ác Cộng Sản -  Black Book of Communism" Link: https://en.wikipedia.org/wiki/The_Black_Book_of_Communism ) là đạo đức? Phải chăng đảng csVN do Hồ Chí Minh thành lập đã 70 năm nay đưa đất nước và dân tộc Việt Nam vào tận cùng đau thương; bán nước cho Tàu Cộng qua Hội Nghị Thành Đô (https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_Th%C3%A0nh_%C4%90%C3%B4 và tiết lộ của Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng về Hội Nghị Thành Đô trong hai ngày 3 và 4-9-1990: http://hoquang.org/2015/05/30/ly-bang-tiet-lo-hoi-nghi-thanh-do-1990/); dâng Biển Đông và các Đảo Hoàng Sa, Trường Sa qua Công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng ký theo lệnh Hồ Chính Minh vào năm 1958 (http://conghambannuoc.tripod.com/) là đạo đức mà Thúy Nga Paris đang kêu gọi mọi người mua Băng, Dĩa Nhạc của Thúy Nga Paris nên học tập theo ? CsVN tuyên truyền ông Hồ Chí Minh độc thân hy sinh đời mình để lo cho dân tộc; nhưng nay thì cà thế giới đã biết ông Hồ Chính Minh có nhiều bà vợ, kể cả vợ Tàu là Tăng Tuyết Minh (https://www.youtube.com/watch?v=shJJjmyqXps).

VietPress USA dùng iPhone thu hình Video mẫu quảng cáo của Thúy Nga Paris trên mạng Yelp.com qua màn hình Vi tính và trích các hình ảnh Thúy Nga Paris đang quảng cáo để tùy nghi đọc giả, khán thính giả và các tổ chức cộng đồng người Việt tỵ nạn csVN tại Hoa Kỳ và khắp hải ngoại tùy nghi xem xét. Có thể tài khoản trên Yelp.com không phải của Thúy Nga Paris trực tiếp làm; nhưng tại sao có ai đó làm giúp với tên và địa chỉ của Thúy Nga Paris, quảng cáo sản phẩm cho Thúy Nga Paris đã một năm nay mà Thúy Nga Paris không lên tiếng đính chính và tố cáo có kẻ mạo danh để yêu cầu Cảnh sát can thiệp? Nếu kẻ mạo danh ở Việt Nam thì cũng có cách để InterPol (Cảnh sát Quốc tế) can thiệp.. 
MỜI XEM VIDEO QUAY QUẢNG CÁO TUYÊN TRUYỀN CHO CSVN CỦA THÚY NGA PARIS TRÊN WEBSITE YELP.COM :


VietPress USA
www.vietpressusa.com
www.twitter.com/vietpressusa
https://www.facebook.com/VietPressUSA/
Email: vietpressusa@gmail.com

Saturday, 6 February 2016

Tết Mậu Thân 1968 và gnười Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa


Vui Xuân Không Quên Diệt Cộng; đó là câu khẩu hiệu mỗi lần Tết đến, của một thời đã được Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn phải chi nhớ trong công cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do, bảo vệ đồng bào, không bao giờ được xao lãng.

Thế nhưng, vào Tết Mậu Thân,1968; bởi tin rằng, lệnh ngưng bắn ba ngày để cho đồng bào được vui Xuân,
trong lúc mọi người đang hướng lòng tưởng niệm công đức của tiền nhân và tổ tiên của mình, thì bất ngờ tại chùa phổ Quang và chùa Nam Thiên Nhất Trụ, là nơi ẩn náu của hai tên tướng Việt cộng Trần Hải Phụng, Nguyễn Văn Bá và cũng là hai nơi trú đóng an toàn cho những "Lực lượng Biệt động thành Sài Gòn-Gia Định, thuộc Lữ đoàn 316, của cộng sản Bắc Việt, đã được lệnh của  "Hòa thượng" Thích Trí Dũng và Trần Hải Phụng là "điểm khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất".
Mặc dù người đứng đầu của chính phủ và cũng là Tổng Tư lệnh quân đội đã cùng thê tử dìu dắt nhau đi du Xuân, bỏ mặc cả nước cho cộng sản Bắc Việt xua quân đánh chiếm.  Nhưng giữa lúc sinh tử ấy, vì để bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật vẫn quyết liệt chiến đấu để giành lại từng tấc đất đã bị cộng quân đánh chiếm. Riêng tại cố đô Huế, vì có "Hòa thượng" Thích Đôn Hậu đã sẵn sàng  nội công tại các "chùa" Từ Đàm, Từ Hiếu, Tường Vân ... nên cộng quân đã chiếm đóng đến gần cả một tháng trời, và những tên đao phủ, được mang danh là "nhà sư" như  Đệ tam Tăng thống Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho các đệ tử xuống tay tàn sát hàng ngàn người dân vô tội, kể cả những em bé một cách vô cùng man rợ. Những hình ảnh của những bộ xương đã bị gẫy đứt, những chiếc xương ống tay, ống chân vẫn còn bị trói, là chứng tích của những cách giết người còn thua cả loài ác thú.

Chúng ta hãy nhìn xem: Hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa bên cạnh một phụ nữ với tấm thân nhuộm đầy máu, hoặc đang bế cụ già, hay ôm xác một em thơ giữa vòng lửa khói, và còn một hình ảnh khác của người chiến sĩ với khuôn mặt bị thương, đã được băng kín, chỉ còn chừa đôi mắt, nhưng vẫn không rời tay súng, sẵn sàng hy sinh ngay cả mạng sống của mình để bảo vệ đồng bào, để giành lại từng tấc đất đã bị cộng quân đánh chiếm. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ thân yêu, đã tận hiến đời mình cho Chính Nghĩa-Quốc Gia-Dân Tộc. 












 

Và, chúng ta cũng hãy nhìn xem: Những hình ảnh của người Mẹ đang ôm xác con thơ, của người vợ đang gào thét bên xác chồng... là những nạn nhân đã bị giết chết dưới những bàn tay tàn ác của Phật Giáo Khối Ấn Quang và cộng sản Bắc Việt, trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968. Tất cả những hình ảnh ấy đời đời sẽ còn lưu lại cho hậu thế còn biết đến những hành vi giết người một cách tàn khốc, kinh hoàng nhất.

 Ôi ! còn nỗi đau đớn nào có thể sánh bằng, khi chúng ta nhìn thấy hình ảnh của người Mẹ đang ôm xác đứa con ruột thịt của mình đã chết bởi những viên đạn thù của giặc cộng, với tiếng kêu gào xé ruột, đứt gan như Nhạc sĩ Anh Bằng đã chứng kiến, và đã ghi lại qua bài hát:
Chuyện Một Đêm:
Show message history

 

 


 
Nhưng chưa hết, vì còn quá nhiều những hình ảnh của đồng bào vô tội đã bị hành quyết một cách vô cùng tàn ác và dã man. Vậy, xin hãy nhìn xem những xác chết không toàn thây, đầu lìa khỏi cổ... Những oan khiên, máu lệ này sẽ không bao giờ phai mờ trong tâm khảm của mọi người có lương tri ở trên thế gian này.



tên Việt cộng mặc áo cà sa, Thích Trí Dũng!

 
Đức Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy chúng sinh:  Không được sát sinh - Không được vọng ngữ, tức không  được nói láo.  Nhưng than ôi ! Giữa đêm giao thừa Tết Mậu Thân, 1968,  ngay tại Thủ Đô Sài Gòn, lại có một "cao tăng" của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tức Khối Ấn Quang; đó chính là "Hòa thượng" Thích Trí Dũng đã hạ lệnh "khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhát"; còn tại Huế, thì do "Hòa thượng" Thích Đôn Hậu, Chánh Đại diện Phật giáo miền Vạn Hạnh, tức miền Trung cũng của Khối Ấn Quang, đã ra lệnh cho các tay chân bộ hạ xuống tay chặt đầu, cắt cổ những lương dân vô tội. Chẳng những vậy, mà có những nạn nhân đã bị trói vào gốc Bồ Đề ở các chùa như: Từ Hiếu, Từ Đàm, Tường Vân, Quang Tự ... rồi bị bắn chết, và máu của họ đã tưới lên thân cây Bồ Đề và đã nhuộm đỏ cội Bồ Đề tại Huế.

Xin quý vị Phật tử chân chính hãy bình tâm suy nghĩ
: Cội Bồ Đề luôn nhắc nhở mọi người nhớ đến hình ảnh của Đức Thích Ca Mâu Ni từng ngồi tĩnh tâm, để tìm chân lý, để chỉ cho chúng sinh: "Tự đốt đuốc tìm đường mà đi", hầu mong thoát khỏi lầm mê, quay về bờ giác. Nhưng cội Bồ Đề tại các chùa tại Huế, lại là nơi nhuộm đầy những dòng máu thắm của đồng bào vô tội !!!

Riêng tại thành phố Đà Nẵng, như loạt bài gồm 10 kỳ, với tựa đề: "Lịch Sử Đình Nại Hiên-Chùa An Long", đã chứng minh cho những điều tôi đã viết qua các bài: Cuộc Thảm Sát Thanh Bồ-Đức Lợi, 24-8-1964 - Cuộc Bạo Loạn Bàn Phật Xuống Đường, mùa hè 1966 - Tưởng Niệm Bốn mươi năm Cuộc Thảm Sát Mậu Thân: 1968-2008 và 30-4-1975: Máu và Nước Mắt.

Nên nhớ, chùa An Long tại Đà Nẵng trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tức Khối Ấn Quang. Xin nhắc lại: tên gọi Khối Ấn Quang là do chính "Hòa thượng" Đệ ngũ Tăng thống Thích Quảng Độ, đã xác định bằng giấy trắng mực đen, chứ không phải do người khác tự nghĩ, tự đặt ra như một số người đã lầm tưởng.

Chính vì những lẽ đó, nên tất cả những lời ngụy biện, để chạy tội cho những kẻ đội lốt là "nhà sư" nhưng không bao giờ xóa được những tội ác, vì chính họ là những tên đồ tể, vì đôi tay của "Hòa thượng" Thích Trí Dũng và của "Hòa thượng" Thích Đôn Hậu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tức Khối Ấn Quang đã nhuộm đầy máu của những nạn nhân đã chết một cách vô cùng đau đớn, như mọi người đã nhìn thấy qua những tấm hình này.

 Trở lại với Tết Mậu Thân, 1968, và người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa: chính những tấm hình biết nói ấy, nó đã tự cho mọi người biết được rằng người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa là tất cả những gì hào hùng nhất, cao quý nhất, vì đã luôn luôn giữ tròn lời Tâm Niệm: Bảo Quốc An Dân.

"Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ ?!". Ngước mặt nhìn Trời cao, để rồi tự hỏi: Những người Chiến Sĩ năm xưa, bây giờ, ai còn, ai mất, ai đau thương với những tấm thân tàn phế, ai u buồn trong kiếp sống lầm than, ai cô đơn nơi đất khách quê người, mà lòng rưng rưng tiếc nhớ về những năm tháng cũ... !!!

Và mỗi mùa Xuân đến, là trong chúng ta, có những tâm hồn lại cứ trào dâng lên những niềm thống hận, cứ rơi nước mắt, vì hồi tưởng về một mùa Xuân Mậu Thân, 1968, với khói lửa, máu và nước mắt đã lan tràn khắp nẻo đường quê !!!

 Nguyện xin Hồn Thiêng Sông Núi Việt cho ánh mặt trời được soi rọi đến tận cùng của những nỗi thương đau; xin cho Quê Hương Việt Nam sớm thoát khỏi bàn tay của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc; xin cho người dân Việt sớm có ngày Tự Do-Dân Chủ và Thanh Bình thực sự, cho những người Việt Nam đang sống đời tỵ nạn cộng sản khắp nơi tại hải ngoại, sớm được trở về đoàn viên nơi cố lý.

Pháp quốc, 19/1/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
------------------------------------------------------------------
 
* "Tài Trí Việt Nam: Người dựng Chùa Một Cột tại Miền Nam: Hòa Thượng Thích Trí Dũng đã đóng góp cho cách mạng rất nhiều, ông là nhà sư được Hồ Chủ Tịch viếng thăm và mời cơm… Tên tuổi ông được gắn liền với quá trình xây dựng Chùa Một Cột (Nam Thiên Nhất Trụ) ở miền Nam …. Chùa Nam Thiên Nhất Trụ (NTNT) hiện tọa lạc tại số 1/90 đường Nguyễn Du, thị Trấn Thủ Đức, (TP Hồ Chí Minh), được khởi công xây dựng theo mẫu chùa Một Cột tức chùa Diên Hựu- một công trình văn hóa nỗi tiếng có từ thời Lý, ở thủ đô Hà Nội".
 
"Hòa Thượng Thích Trí Dũng kể lại:
 
"Khi xây dựng chùa Nam Thiên nhất Trụ (Chùa Một Cột tại miền Nam) chính quyền Ngô Đình Diệm đã nhiều lần ngăn cản vì sợ chùa sẽ khơi dậy trong lòng người dân đang sống ở nửa miền đất nước bị người Mỹ chiếm đóng, ý thức dân tộc, sự mong muốn đấu tranh cho nước nhà thống nhất, độc lập và tự do. Lúc đó, đại diện văn phòng phủ Tổng Thống Sài Gòn bảo rằng: Hòa thượng muốn làm gì thì làm nhưng không được xây Chùa Một Cột. Tôi hỏi tại sao, họ trả lời: "Nếu Chùa Một Cột được xây dựng thì sau này cộng sản Bắc Việt sẽ vào cư ngụ ở đây". (Ôi! Tổng Thống Ngô Đình Diệm là vị đã Tiên Tri được tất cả mọi sự, lời người viết). Nhưng bất chấp tất cả, chùa Nam Thiên Nhất Trụ vẫn được xây dựng. Chính trong quá trình đào hồ Long Nhãn để định móng xây chùa, những người thợ đã phát hiện ra tảng đá lớn dài 1,3m, dày 0,2m. Nhờ mãnh vỡ, mọi người mới biết đây không phải là đá, khi đập ra, họ thấy bên trong có một cổ vật bằng bạch kim, hình tròn, đường kính 0,38m, dày hơn 1cm, nặng 6,2kg, trên mặt khắc 4 chữ Hán "Ngũ Tử Đăng Khoa" và 21 hoa văn đặc sắc, cổ vật này được nhà tư sản người Hoa là Lý Long Thân đòi mua với giá 4 triệu đồng (bốn triệu đồng) và 200 lượng vàng (hai trăm lượng vàng) thời giá lúc đó. Người Mỹ khi khảo sát cổ vật cũng đã ngỏ ý được đổi bằng một bệnh viện 3 tầng với 600 giường, có đầy đủ dụng cụ Y khoa. Cả Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi biết cũng đã cử người xuống thương lượng xin được lấy cổ vật ấy, hứa sẽ đáp ứng mọi yêu cầu, nhưng tôi (HT Thích Trí Dũng) là người chủ trì việc xây cất chùa vẫn một mực chối từ và đem giấu cổ vật đi. Cho đến khi nước nhà thống nhất tôi đã tình nguyện hiến cổ vật cho nhà nước: Ngày 25-8-1988, Phó Thủ tướng Phan Văn Khải, Thượng tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Trần Hải Phụng, giáo sư Trần Văn Giàu cùng các nhà nghiên cứu khảo cổ đã đến tiếp nhận cổ vật đem vế trưng bày ở phòng "Sài Gòn xưa" của Bảo tàng cách mạng TP. Hồ Chí Minh.
 
* Hòa Thượng Thích Trí Dũng kể về những thành tích cách mạng:
 
"Năm 1947, hơn 2000 nhân sĩ, trí thức yêu nước bị phái Công Giáo phản động bắt giam ở nhà hầm Phát Diệm. Lúc đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Hồ Tử Du với lá thư riêng của Hồ Chủ Tịch đã đến Đồng Đắc ủy nhiệm cho tôi - trên cương vị Đại diện Phật giáo Cứu quốc Trung ương - bằng mọi cách phải giải thoát. Nhờ sự hậu thuẫn của cách mạng, việc giải thoát đã thành công. Với thành tích này, tôi được Hồ Chủ Tịch khen thưởng và được tướng Nguyễn Sơn mời làm cố vấn.  Sau khi giải thoát cho 2000 nhân sĩ, trí thức, tôi bị bọn Công Giáo phản động tuyên án tử hình. Để tránh sự trả thù và thể theo yêu cầu của một số Phật tử Nam Kỳ, năm 1953 tôi vào miền Nam.
 
  Từ khi vào Nam tôi đã xây chùa Linh Giác ở Đà Lạt, chùa Phổ Chiếu, Phổ Minh ở Gò Vấp, chùa Phổ Quang ở Tân Bình, tôi quyết đinh xây dựng Chùa Một Cột tại làng Đại Học Thủ Đức, phỏng theo mô hình Chùa Diên Hựu (Một Cột) ở Hà Nội. Bị chính quyền Ngô Đình Diệm cản ngăn, tôi về mướn người rào kín khu đất định xây chùa lại, thuê thợ đến làm từ 4 giờ chiều đến 11 giờ đêm. Biết được sự kiện tôi lén xây dựng chùa, chính quyền Diệm sai người đến yêu cầu tôi phá ngay vì lý do chính trị. Tôi nói với họ: Tôi chỉ biết xây chứ không biết phá. Cản ngăn không được, họ lại đưa tiền cho tôi để tôi xây dựng chùa khác, nhưng tôi không chịu. Thế là họ đành để tôi xây dựng chùa mà không lấy tiền lại.
 
Năm 1964, tại Chùa Một Cột (Nam Thiên Nhất Trụ) Thủ Đức qua trung gian là anh Bùi Kỳ Vân, anh Nguyễn Đức Lộc là  Chính trị viên đội Biệt động Thủ Đức, tôi gặp anh Nguyễn Văn Bá, ông Nguyễn Văn Thăng hiện đều là anh hùng Quân đội Nhân dân Việt Nam và đều ở Đội Biệt động Sài Gòn-Gia Định ngày ấy. Họ đã nhờ tôi tạo điều kiện cho Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316 xây dựng cơ sở bí mật tại Chùa Một Cột và Chùa Phổ Quang ở gần sân bay Tân Sơn Nhất-là hai ngôi chùa do tôi kiến tạo và trụ trì. Tôi đồng ý, thế là hai ngôi chùa này trở thành hai cơ sở hoạt động bí mật của Biệt động Sài Gòn-Gia Định cho đến ngày 30-4-1975.
 
Trong cuộc Tổng công kích Mậu Thân 1968, Chùa Phổ Quang là điểm khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất; ở đây tôi đã qua mắt địch, để che giấu một số lượng lớn vũ khí và Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316.  Chùa Phổ Quang cũng là nơi ở của Thiếu tướng Trần Hải Phụng và anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Bá, chùa thường xuyên bị địch để ý. Để che mắt địch, chúng tôi đã cạy nắp mồ Ngô Đình Cẩn em ruột Ngô Đình Diệm, chôn trong chùa Phổ Quang để giấu vũ khí. Chính vì vậy, địch không ngờ tới. Còn sự di chuyển của các chiến sĩ Lực lượng Biệt động thì đích thân tôi đã lái xe hơi chở họ nên địch không thể ngờ được. Vì thế, vũ khí và con người được giữ gìn cho đến giờ chót".
----------------------------------------------------------

LỊCH SỬ PHẬT TỬ GHPGVNTN CHỐNG VNCH, CHỐNG MỸ, TREO CỜ MTGPMN) ĐÌNH NẠI HIÊN-CHÙA AN LONG

- Ông Nguyễn Đình Liệu đã cho giương cao cờ của Mặt trận Giải Phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam tại vườn hoa Diên Hồng và vườn hoa phía trước Cổ Viện Chàm. Đây là lần đầu tiên cờ của Mặt trận Giải phóng công khai xuất hiện tại Đà Nẵng.

- Tháng 3.1966, Nguyễn Đình Liệu và Thượng tọa Thích Minh Tuấn cho thành lập “Lực lượng thanh niên phật tử cứu quốc”.
 
Ngày 22.8.1964, từ chùa An Long và chùa Tỉnh hội, ông Nguyễn Đình Liệu, Phan Chánh Dinh, Thượng tọa Thích Minh Tuấn, Thích Minh Chiếu … dẫn đầu đoàn biểu tình đi đến sân vận động Chi Lăng dự mít-ting hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ-Khánh”.
 
-         Trong tháng tư, ông Nguyễn Đình Liệu chỉ đạo cho các thanh niên phật tử Nại Hiên và học sinh trường Bồ đề thực hiện chiến dịch “đốt xe Mỹ”, đã có một vụ đốt xe như vậy xảy ra ở đầu đường Bạch Đằng, trước Cổ viện Chàm: một chiếc xe Jeep nhà binh trên xe có hai sĩ quan, một Mỹ và một Nam Hàn vừa chạy trờ đến, thì các thanh niên phật tử từ chùa An Long xông ra chặn đường và lôi hai sĩ quan này xuống đất, hai sĩ quan này hốt hoảng kêu cứu thì bị đánh, cùng lúc các thanh niên phật tử khác tưới xăng vào xe và châm lửa đốt. Hai sĩ quan này may mắn chạy vào khách sạn Moderne gần đấy nên thoát chết.
 
 - ngày 1.7.1967, Ông Lê Duẫn viết thư ban khen GHPGVNTN-AQ  trong bức thư gửi Thành ủy Sài gòn - Gia định đề ngày 1.7.1967, ông Lê Duẩn, bí thư thứ nhất BCHTW Đảng, đã viết:

  “Cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng chống Thiệu – Kỳ từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1966, tuy không đem lại thắng lợi, nhưng đã cho ta một bài học bổ ích về lợi dụng mậu thuẫn nội bộ địch. Lúc đầu cuộc nổi dậy đó là không phải do ta chủ động mà nhân cơ hội nội bộ địch chống đối lẫn nhau, ta đã biết tập hợp, phát động quần chúng đứng lên làm chủ thành phố. Mặc dù cơ sở Đảng mỏng và lực lượng cách mạng trong thành phố không nhiều, các đồng chí ở Đà Nẵng đã làm được việc đó. Nhưng thiếu sót ở đây là các đồng chí ở Đà Nẵng chưa tranh thủ được thuận lợi để phát triển thực lực cách mạng … Bài học về cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng rất phong phú”.


(Kỳ 10: Chùa An Long trong Tết Mậu thân 1968)

Kỳ 9: Chùa An Long trong cao trào đấu tranh Phật giáo (chống VNCH) tại Đà Nẵng:

Lễ Phật đản năm 1963, chính quyền Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo tại Huế. Đông đảo tăng ni, phật tử kéo đến đài phát thanh Huế để phản đối. Thiếu tá Đặng Sĩ, tỉnh phó nội an Thừa Thiên - Huế, đã huy động cảnh sát, xe thiết giáp đến đàn áp cuộc đấu tranh, bắn giết đồng bào phật tử. Trước tội ác của địch, phong trào đấu tranh Phật giáo nổ ra khắp miền Nam. Đồng bào phật tử ở Đà Nẵng cũng xuống đường phối hợp đấu tranh.

Nhận chỉ thị của Thành ủy chủ trương vận động nhân dân đấu tranh dưới hình thức “ngọn cờ Phật giáo, ngòi pháo học sinh”, ông Nguyễn Đình Liệu lãnh đạo đông đảo tăng ni, phật tử, thanh niên trong khuôn hội Nại Hiên Tây tổ chức cầu siêu trong mùa Pháp nạn, thuyết pháp, biểu tình, hô vang khẩu hiệu “đả đảo chế độ độc tài Ngô Đình Diệm!”. (Chống VNCH)

Từ chùa An Long, ông đã dẫn đoàn biểu tình tiến về chùa Tỉnh hội Đà Nẵng (nay là chùa Pháp Lâm, số 500 đường Ông Ích Khiêm) đồng thời làm công tác binh vận, lôi kéo các binh lính theo đạo Phật đứng về với nhân dân. Cảnh sát, An ninh quân đội vùng 1 chiến thuật đi đàn áp đoàn biểu tình đã bị thanh niên phật tử chống trả quyết liệt. Ngày 3 tháng 11 năm 1963, dưới sự hậu thuẫn của ông trùm đảo chính Logde, một nhóm tướng tá Nam Việt Nam tự xưng là Hội đồng quân nhân Cách mạng do Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn … cầm đầu đã tiến hành đảo chính, và sau đó giết chết anh em Diệm-Nhu. Nhiều thanh niên phật tử trong khuôn hội Nại Hiên Tây tham gia phong trào diệt “dư đảng Cần lao”, truy quét ác ôn ở địa phương.

Nhưng chỉ sau đó 3 tháng, ngày 30 tháng 1 năm 1964, được sự ủng hộ của Mỹ và "nhóm các tướng trẻ", tướng Nguyễn Khánh đã thực hiện cuộc "chỉnh lý" cướp quyền, truất phế các tướng lĩnh chủ chốt của cuộc đảo chính là Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân. Nguyễn Khánh tự xưng là chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng kiêm Tổng tư lệnh quân đội. Ngày 28 tháng 2 năm 1964, Nguyễn Khánh phế truất chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ và lên làm thủ tướng. Ngày 16 tháng 8 năm 1964, ông ta ban hành "Hiến chương Vũng Tàu", theo đó ông ta là Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, kiêm Quốc trưởng, kiêm Thủ tướng của Việt Nam Cộng hòa, cũng như là Tổng tư lệnh, kiêm Tổng tham mưu trưởng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Uy quyền của ông ta lên đến mức tột đỉnh. Tuy nhiên, tướng Khánh đã vấp sự phản đối quyết liệt của quần chúng nhân dân. Các cuộc biểu tình chống tướng Khánh nổ ra khắp nơi. Ông Nguyễn Đình Liệu lại tham gia lãnh đạo phong trào phật tử phối hợp với lực lượng học sinh sinh viên đấu tranh chống độc tài, đòi xé bỏ “Hiến chương Vũng Tàu”. Để bảo vệ cho các cuộc biểu tình, ông Nguyễn Đình Liệu và Thượng tọa Thích Minh Tuấn cho thành lập “Lực lượng thanh niên phật tử cứu quốc”.
 
Ngày 22.8.1964, từ chùa An Long và chùa Tỉnh hội, ông Nguyễn Đình Liệu, Phan Chánh Dinh, Thượng tọa Thích Minh Tuấn, Thích Minh Chiếu … dẫn đầu đoàn biểu tình đi đến sân vận động Chi Lăng dự mít-ting hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ-Khánh”.

Sau đó đoàn biểu tình kéo xuống Tòa Thị Chính Đà Nẵng. Khi đến trước Tòa Thị Chính ở đường Bạch Đằng, Lực lượng thanh niên phật tử cứu quốc đã dùng loa phóng thanh kêu gọi Hải quân Đại tá Lê Quang Mỹ, Thị trưởng Đà Nẵng, phải ra trình diện và phải bàn giao chức Thị trưởng Đà Nẵng cho nhân dân. Đại tá Lê Quang Mỹ hốt hoảng trốn ra cửa sau, rồi chạy đến Bộ tư lệnh Hải quân vùng 1 Duyên hải ở Tiên Sa để tị nạn. Nhân dân đã làm chủ Tòa Thị Chính trong vòng 9 ngày (22.8 à 2.9.1964). Trong những ngày sôi động đó, ông Nguyễn Đình Liệu đã cho giương cao cờ của Mặt trận Giải Phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam tại vườn hoa Diên Hồng và vườn hoa phía trước Cổ Viện Chàm. Đây là lần đầu tiên cờ của Mặt trận Giải phóng công khai xuất hiện tại Đà Nẵng và đây cũng là một thắng lợi chính trị to lớn của nhân dân Đà Nẵng nói chung và nhân dân Nại Hiên nói riêng.

Tình hình miền Nam dưới sự quản lý của tướng Khánh ngày càng loạn lạc, giai đoạn tướng Khánh nắm quyền là giai đoạn nổ ra nhiều cuộc đảo chính nhất, uy tín của tướng Khánh càng lúc càng xuống thấp và ngày càng mất lòng dân. Nhóm các tướng trẻ, do đó, thống nhất truất phế tướng Khánh. Hai tướng trẻ Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ lên nắm chính quyền.

Tháng 3.1966, trong cao trào đấu tranh phật giáo tại Đà Nẵng chống Thiệu – Kỳ, “lực lượng nhân dân tranh thủ cách mạng vùng 1 chiến thuật” được thành lập, Đặc khu uỷ đã đưa 5 cán bộ, trong đó có ông Nguyễn Đình Liệu, tham gia vào Ban lãnh đạo các tổ chức đấu tranh. Ông Nguyễn Đình Liệu được cử phụ trách “lực lượng phật tử tranh thủ cách mạng”. Các tướng tá ở vùng 1 như Trung tướng Nguyễn Chánh Thi - Tư lệnh vùng 1, Đại tá Nguyễn Văn Mô - Tham mưu trưởng vùng 1, Đại tá Đàm Quang Yêu - Tư lệnh Biệt khu Quảng Đà ... đều ủng hộ phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Ngày 25.3.1966, nhân dân đã thực sự làm chủ được thành phố Đà Nẵng.

Trước cao trào đấu tranh cách mạng của nhân dân thành phố Đà Nẵng, Thiệu – Kỳ quyết định đem quân từ Sài Gòn ra đàn áp. Ban đầu, Thiệu – Kỳ định sử dụng quân Nhảy dù, nhưng khốn nỗi, tướng Nguyễn Chánh Thi từng là “quan thầy” của tướng Dư Quốc Đống, tư lệnh Nhảy dù, mà tuớng Đống lại không muốn mang tiếng “phản thầy” nên không chịu đưa quân đi. Các tướng tá Sài gòn phần lớn cũng ngán tướng Nguyễn Chánh Thi nên chẳng ai muốn đi. Cuối cùng, Nguyễn Cao Kỳ nhờ đến một người bạn thân thiết của mình là Trung tá Nguyễn Thành Yên, Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn A Thủy quân lục chiến, cầm quân ra Đà Nẵng để đàn áp phong trào phật giáo.

Đổ quân xuống phi trường Đà Nẵng, Trung tá Yên được Thiệu – Kỳ bổ kiêm nhiệm chức Quân trấn trưởng Đà Nẵng để danh chính ngôn thuận cho việc đàn áp. Trung tá Yên nhanh chóng cho Thủy quân lục chiến tấn công chùa Tỉnh hội, dẹp bỏ các bàn thờ Phật ở các đường lân cận đó. Tiếp theo, Trung tá Yên đưa quân về hướng chùa An Long. Khi Thủy quân lục chiến chuẩn bị dẹp các bàn thờ Phật ở đây thì vấp sự chống trả quyết liệt của lực lượng phật tử tranh thủ cách mạng do ông Nguyễn Đình Liệu lãnh đạo. Khốn nỗi, Trung tá Yên là cháu của ông Nguyễn Đình Liệu (cụ thân sinh của Trung tá Yên, Nguyễn Thanh Xáng, là anh em chú bác ruột với ông Nguyễn Đình Liệu) nên Trung tá Yên ra lệnh lui quân (năm 1970, ông Nguyễn Thành Yên là Đại tá phó Tư lệnh Sư đoàn TQLC).

Trong tháng tư, ông Nguyễn Đình Liệu chỉ đạo cho các thanh niên phật tử Nại Hiên và học sinh trường Bồ đề thực hiện chiến dịch “đốt xe Mỹ”, đã có một vụ đốt xe như vậy xảy ra ở đầu đường Bạch Đằng, trước Cổ viện Chàm: một chiếc xe Jeep nhà binh trên xe có hai sĩ quan, một Mỹ và một Nam Hàn vừa chạy trờ đến, thì các thanh niên phật tử từ chùa An Long xông ra chặn đường và lôi hai sĩ quan này xuống đất, hai sĩ quan này hốt hoảng kêu cứu thì bị đánh, cùng lúc các thanh niên phật tử khác tưới xăng vào xe và châm lửa đốt. Hai sĩ quan này may mắn chạy vào khách sạn Moderne gần đấy nên thoát chết.

Thấy chưa đàn áp được phong trào cách mạng, ngày 15.5.1966 Thiệu – Kỳ tiếp tục đưa quân ra Đà Nẵng. Nhân dân Đà Nẵng đã anh dũng đánh trả quân chính phủ, nhưng do lực lượng ta còn yếu nên ngày 23.6, quân Thiệu – Kỳ đã làm chủ thành phố. Để xoa dịu phong trào cách mạng của nhân dân Đà Nẵng, Trung tá Nguyễn Thành Yên, Chiến đoàn trưởng Thủy quân lục chiến kiêm Quân trấn trưởng Đà Nẵng, đã lên Đài phát thanh Đà Nẵng phát lời kêu gọi như sau:

“ … Nghiêm cấm quân sĩ không được xâm phạm chốn tôn nghiêm, tuyệt đối không được nổ súng bắn trả lại quân phản loạn cho dù có bị thương vong. Đồng thời kêu gọi đồng bào hãy tiếp tay quân đội chính phủ, khiêng các bàn thờ Phật tổ để tạm yên trên lề đường cho xe cộ lưu thông, vãn hồi an ninh trên lãnh thổ Quảng Nam-Đà Nẵng. Nhưng nhớ phải cẩn thận không được làm ngã đổ tắt nhang đèn”.

Khi quân Thiệu – Kỳ chiếm thành phố, các cán bộ lãnh đạo của ta đã rút lui an toàn, những cán bộ có vỏ bọc hợp pháp, như ông Nguyễn Đình Liệu, tiếp tục ở lại lãnh đạo phong trào. Đánh giá về sự kiện này, trong bức thư gửi Thành ủy Sài gòn - Gia định đề ngày 1.7.1967, ông Lê Duẩn, bí thư thứ nhất BCHTU Đảng, đã viết: ( Ông Lê Duẫn khen GHPGVNTN-AQ  có công tiếp tay cho cách mạng)

  “Cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng chống Thiệu – Kỳ từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1966, tuy không đem lại thắng lợi, nhưng đã cho ta một bài học bổ ích về lợi dụng mậu thuẫn nội bộ địch. Lúc đầu cuộc nổi dậy đó là không phải do ta chủ động mà nhân cơ hội nội bộ địch chống đối lẫn nhau, ta đã biết tập hợp, phát động quần chúng đứng lên làm chủ thành phố. Mặc dù cơ sở Đảng mỏng và lực lượng cách mạng trong thành phố không nhiều, các đồng chí ở Đà Nẵng đã làm được việc đó. Nhưng thiếu sót ở đây là các đồng chí ở Đà Nẵng chưa tranh thủ được thuận lợi để phát triển thực lực cách mạng … Bài học về cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng rất phong phú”.

Kỳ 10: Chùa An Long trong Tết Mậu Thân 1968

Trong cuộc tổng tiến và nổi dậy Tết Mậu thân 1968, chùa An Long đã đóng một vai trò hết sức to lớn. Ông Nguyễn Đình Liệu, Bùi Sĩ Tấn cùng một số cơ sở tiếp nhận và cất giấu một lượng lớn vũ khí tại hầm bí mật dưới chân tượng Phật tại chùa An Long. Ngày 29 Tết, ông Nguyễn Đình Liệu chỉ đạo các cơ sở, học sinh sinh viên, tăng ni, phật tử viết khẩu hiệu, biểu ngữ, bàn phương án phối hợp với các mũi đấu tranh trong thành phố, biến chùa An Long thành một trong những trung tâm lãnh đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân ở nội thành Đà Nẵng.

Treo cờ MTGPMN tại chùa Tỉnh Hội  ngày 29 Tết
Nguyễn Đình Liệu hoạt động tại chùa An long., chứa vũ khí.

Sau khi chuẩn bị xong, tối 29 Tết, một cơ sở ta dùng xe Jeep chở ông Nguyễn Đình Liệu cùng cờ Mặt trận Giải phóng, khẩu hiệu, biểu ngữ lên chùa Tỉnh hội để phối hợp với lực lượng ở đây chuẩn bị nổi dậy. Sáng mồng 1 Tết, đông đảo quần chúng nhân dân đã tập họp tại chùa Tỉnh hội. Tuy thiếu sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhưng các vị lãnh đạo Đặc khu ủy vẫn cho tiến hành nổi dậy theo kế hoạch. Ông Phan Chánh Dinh (còn có tên là Phan Duy Nhân và Nguyễn Chính, sau 1975 là cán bộ lãnh đạo ở Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, và về sau là Quyền Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ) cầm loa dẫn đầu đoàn biểu tình, hô hào quần chúng nổi dậy. Đoàn biểu tình kéo từ chùa Tỉnh hội ra đường Ông Ích Khiêm thì bị địch đàn áp. Ông Phan Chánh Dinh bị bắn gãy chân và bị bắt đem về Ty Cảnh sát Gia Long, sau đó bị giải qua Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình và nhà lao Kho Đạn, Đà Nẵng. Địch ra lệnh thiết quân luật và bắn vào đoàn biểu tình. Ông Nguyễn Đình Liệu được cơ sở đưa về ẩn náu tại chùa An Long.

Sáng mồng 4 Tết, các ông Nguyễn Đình Liệu, Hà Kỳ Ngộ đều bị bắt vì có một cơ sở khai báo với địch. Nguyên nhân như sau: ngày 29 Tết, một cơ sở của ta, ông Nguyễn Hiếu, chủ nhà may Đồng Tân ở đường Độc Lập (nay là đường Trần Phú), được giao nhiệm vụ chở một số vũ khí từ Nam Ô đến cất giấu tại chùa An Long, trên đường vào nội thành thì xe ông Nguyễn Hiếu bị Biệt động quân chặn lại ở Ngã Ba Huế, khi khám xe thấy có chứa vũ khí nên toán Biệt động quân này bắt giữ ông Nguyễn Hiếu rồi chuyển cho An ninh quân đội, tại đây Hiếu đã khai ra địa điểmchùa An Long là nơi cất giấu vũ khí và khai thêm một số cơ sở bí mật nữa.

Tôi xin trích nguyên một đoạn viết của tác giả Hàn Giang Trần Lệ Tuyền (trên trang webwww.mauthan68.blogspot.com) về vụ bố ráp chùa An Long vào sáng mồng 4 Tết Mậu Thân: “Và cũng qua điều tra bởi vụ án này [Nguyễn Hiếu] mà chính quyền đã huy động một lực lượng gồm An Ninh Quân Đội-Ban II Đặc Khu Quân Trấn- Biệt Động Quân, đột nhập vào ngôi chùa của Khuôn hội Nại Hiên Tây (vì cảnh sát không bao giờ dám khám xét chùa), sau lưng Cổ Viện Chàm, trước trường Trung học Sao Mai, phía trái có nhiều kho chứa xăng, bên cạnh có cầu tàu thuộc Quân cảng dùng để tiếp nhận chiến cụ; thường được gọi là Cầu Đạn, phía trên là cầu Trình Minh Thế, nối liền một quãng đường ngắn khoảng hơn 100 mét là Trại Nguyễn Tri Phương, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Quân Khu 1. Và đã khám phá ra được một căn hầm bí mật ngay dưới Chánh điện thờ Phật, phía trên được ngụy trang bằng một pho tượng Phật to lớn là nắp hầm để che giấu hơn hai trăm khẩu súng, đạn đủ loại và chất nỗ TNT. Người quản nhiệm ngôi chùa này là một Khuôn hội trưởng - Giáo sư Nguyễn Đình Liệu dạy tại trường Trung học Bồ Đề do Thượng tọa Thích Minh Tuấn làm Hiệu trưởng ;( ngày 29/3/1975, Thích Minh Tuấn đã công khai đưa cả đoàn xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố Đà nẵng). Sau đó ông Nguyễn Đình Liệu bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận và bị kết án 10 năm tù ở, thụ án tại Chí Hòa. Năm 1973, ông Liệu được trao trả nhân viên dân sự tại Lộc Ninh”.

Hầu hết các chi tiết trong đoạn viết trên là chính xác, duy có ba chi tiết chưa thật chính xác,  xin đính chính lại: thứ nhất, ông Nguyễn Đình Liệu không phải là Giáo sư dạy tại trường Trung học Bồ Đề mà chỉ có chân trong ban trị sự trường Bồ Đề; thứ hai là ông Liệu được trao trả theo diện nhân viên dân sự tại Thạch Hãn chứ không phải tại Lộc Ninh; và cuối cùng, ông Nguyễn Đình Liệu thụ án ở Côn Đảo chứ không phải tại Chí Hòa như tác giả Hàn Giang đã viết.

Cũng trong ngày hôm đó, do Nguyễn Hiếu khai báo nên An ninh quân đội đã ập vào nhà bà Nguyễn Thị Sự (nay là số nhà  K191/17 Ông Ích Khiêm, phường Thạch Thang, quận Hải Châu) và bắt ông Hà Kỳ Ngộ (thường vụ Đặc khu ủy).

Địch đem ông Nguyễn Đình Liệu và ông Hà Kỳ Ngộ về giam tại Kho Đạn. Tại đây, hai ông bị địch tra tấn dã man. Ông Nguyễn Đình Liệu bị địch dùng dùi cui đánh vào mang tai nên về sau này ông đã bị điếc nặng, phải dùng máy trợ thính luôn. Không moi được tin tức gì nên địch mang hai ông ra xử tại toà án Quân đội. Ông Nguyễn Đình Liệu bị tuyên án 10 năm tù, ông Hà Kỳ Ngộ bị án chung thân và cả hai ông bị địch đưa ra Côn Đảo.
 
Năm 1973, ông Nguyễn Đình Liệu được chính quyền Việt Nam Cộng hòa trao trả cho Mặt trận Giải phóng theo diện chính trị phạm dân sự tại Thạch Hãn. Thấy ông tuổi cao, sức yếu lại bị thương tật trong chốn lao tù nên Trung ương đã bố trí ông đi nghỉ tại Trạm tiếp đón cán bộ miền Nam T72 tại Khu an dưỡng Sầm Sơn (Thanh Hoá).

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 1975, từ ngày 2.5.1975 đến 31.1.1977, Trung ương đưa ông về lại Liên khu 5, Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng bố trí ông đi nghỉ an dưỡng tại trại Đón tiếp tỉnh QN-ĐN.

Ngày 1.2.1977, ông Nguyễn Đình Liệu chính thức được nghỉ hưu trí theo quyết định 54/QĐ/HT ký ngày 20.12.1976 của UBND tỉnh QN-ĐN. Kể từ đó, ông trở về sum họp với gia đình ở ngôi nhà xưa tại đường Trưng Nữ Vương, phường Bình Hiên, quận Nhất (nay là Hải Châu), Tp Đà Nẵng. Mặc dù tuổi cao, sức yếu nhưng ông vẫn tham gia sinh hoạt đảng tại đảng bộ phường Bình Hiên, chủ trì việc cúng tế tại địa phương và giành khoảng thời gian cuối đời để viết lịch sử về làng Nại Hiên, đình Nại Hiên, chùa An Long và lập gia phả tộc Nguyễn Thanh. Tài liệu này được viết, cũng một phần, là dựa trên các di cảo của ông Nguyễn Đình Liệu do anh Nguyễn Dục Anh (cháu đích tôn của ông Nguyễn Đình Liệu) đang giữ gìn và bảo quản. Ông Nguyễn Đình Liệu qua đời vào ngày 16 tháng 10 năm 1984 tại tư gia trong niềm thương tiếc vô bờ của đông đảo đồng bào đồng chí tại Quảng Nam - Đà Nẵng và toàn thể con cháu trong chư phái tộc làng Nại Hiên.

Sau Mậu Thân 1968, do đã bị lộ nên chùa An Long không còn là cơ cở cách mạng nữa. Thầy Thân bị liên đới không làm trụ trì, Đại đức Thích Như Dục từ chùa Tỉnh hội về trụ trì tại chùa An Long.

Như vậy, trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vẻ vang của nhân dân ta, chùa An Long cũng đã đóng góp ít nhiều công sức vào đấy. Từ năm 1962 đến năm 1968, chùa An Long đã là:
-         một cơ sở che giấu và nuôi dưỡng cán bộ ta,
-         một địa điểm bí mật để tập kết và cất giấu vũ khí, tài liệu, máy đánh chữ …cho cách mạng,
-         một trong những trung tâm lãnh đạo các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân trong lòng đô thị Đà Nẵng dưới vỏ bọc phong trào đấu tranh Phật giáo,
-         một trong những trung tâm lãnh đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân ở nội thành Đà Nẵng.

 

(Kỳ 11: Lời kết)

Kỳ cuối: Thay cho lời kết

Kể từ lúc các vị Tiền - Hậu Hiền làng Nại Hiên vào khai khẩn mảnh đất dọc theo hai bên bờ sông Hàn đến nay là vừa tròn 535 năm. Tổ tiên làng đã xây đình Nại Hiên, dựng chùa An Long và từ đó đình, chùa là nơi sinh hoạt tinh thần, tôn giáo, là nơi dân làng tổ chức những hoạt động lễ hội và là nơi giữ gìn những nét đẹp văn hóa xưa.

Ngày nay, mặc dầu đã trở thành thị dân nhưng nhân dân Nại Hiên vẫn không bao giờ mờ nhạt ý thức cộng đồng làng xã, họ tộc tổ tiên, vẫn duy trì những sinh hoạt văn hóa tinh thần, tôn giáo, bởi vì những sinh hoạt văn hóa tại đình Nại Hiên và chùa An Long vào các lễ tế chư vị thần chủ làng hay lễ Phật Đản, lễ Vu Lan . . . là dịp tốt nhất để mọi người tìm về cội nguồn, ôn lại truyền thống, ngưỡng vọng tổ tiên và giải tỏa mối lo âu thường nhật, làm dịu bớt nỗi đau tinh thần hay gửi gắm khát vọng thầm kín mà thực tại chưa hoặc không giải quyết được. Thực tế cho thấy những sinh hoạt văn hóa này không chỉ đã góp phần vào việc giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” đối với những người có công với làng xã, với họ tộc mà còn giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước, gắn bó với quê hương, với mảnh đất Nại Hiên đã thấm đẫm mồ hôi, xương máu của ông cha, qua đó làm tăng cường ý thức gắn kết cộng đồng của dân làng trong cuộc sống đầy những thay đổi của thời hội nhập văn hóa. Hội nhập văn hóa đang là một xu thế mang tính phổ biến trong thời đại hôm nay, nhưng hội nhập không đồng nghĩa với hòa tan mà hội nhập văn hóa phải đi cùng với việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, những nét đẹp văn hóa xưa và những di tích của tổ tiên.

Nhưng đình Nại Hiên và chùa An Long đâu chỉ là nơi giữ gìn những nét đẹp văn hóa xưa mà còn là nơi ghi dấu bao chiến công anh dũng, bao thành tích cách mạng của nhiều thế hệ dân làng Nại Hiên trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đình lớn Nại Hiên là nơi ông Án Nại đặt đại bản doanh của nghĩa quân Nghĩa hội chống Pháp, đình nhỏ Nại Hiên là nơi chứng kiến sự ra đời của Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời xã Nại Hiên trong những ngày Cánh mạng Tháng Tám lịch sử. Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa An Long là nơi che giấu và nuôi dưỡng cán bộ, là nơi tập kết và cất giấu vũ khí, tài liệu, máy đánh chữ …cho cách mạng, là nơi lãnh đạo các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân trong lòng đô thị Đà Nẵng dưới vỏ bọc phong trào đấu tranh Phật giáo, là nơi lãnh đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân ở nội thành Đà Nẵng.

Trải qua bao lần dâu bể, bao cơn phong ba bão táp và bao phen khói lửa chiến chinh, đình chùa vẫn còn đứng đấy, trầm mặc nhìn dân làng Nại Hiên theo dòng đời xuôi ngược, n



Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Động đất 6,4 độ Richter tại Đài Loan, ít nhất 2 toà nhà đổ sập

Theo BBC, một trận động đất mạnh làm rung chuyển khu vực Đài Nam của đảo Đài Loan vào sáng sớm hôm nay (6/2), khiến ít nhất 2 tòa nhà bị sập đổ.
Hiện chưa rõ mức độ thương vong do trận động đất gây ra.
Tờ Strait Times cho biết, theo Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) cho biết trận động đất có cường độ 6,4 độ Richter, nằm cách thành phố Đài Nam (nơi có gần 2 triệu cư dân) khoảng 43 km về phía đông nam.
Do tâm chấn động đất rất nông, chỉ ở độ sâu 10 km, nên mức độ ảnh hưởng càng khuếch đại.
Cục Dự báo Thời tiết Trung ương Đài Loan cho biết, nửa tiếng sau khi xảy ra trận động đất đầu tiên, có ít nhất 5 dư chấn có cường độ 3,8 độ Richter tiếp tục làm rung lắc khu vực Đài Nam.
Tờ báo địa phương Taiwan’s Liberty Times đưa tin một trong hai tòa nhà bị sập là một khu chung cư cao 17 tầng. Có nhiều người đang ngủ trong tòa nhà này khi động đất xảy ra.

Còn ai thương dân tôi:Ông lão mù hơn 20 năm bán bánh nuôi vợ

Ông lão mù hơn 20 năm bán bánh nuôi vợ. Ai đi ngang đường Nguyễn Tri Phương nếu được hãy ủng hộ ông lão 1 vài chiếc bánh. Địa chỉ: trước nhà số 502 Nguyễn Tri Phương, Quận 10. Dừng đèn đỏ từ Nguyễn Tri Phương qua Thành Thái là thấy - Giờ bán: 4h chiều - 7h tối ‪#‎xitrum8‬ 67 7 43

Ông lão mù 20 năm ngồi vỉa hè Sài Gòn bán bánh nuôi vợ ốm
Hàng ngày, người qua lại trên đường Nguyễn Tri Phương (quận 10) vẫn nhìn thấy một cụ già mù ngồi bán bánh thửng bên lề đường. Ông là Trương Minh Quang (66 tuổi, ngụ quận 11).

Dù hai mắt không thấy gì nhưng hơn 20 năm nay, ông Trương Minh Quang (quận 11) vẫn đều đặn ngồi trên vỉa hè bán bánh thửng để kiếm tiền nuôi vợ ốm đau.

Ông Quang quê ở Tiền Giang, vì cuộc sống khó khăn nên lên Sài Gòn mưu sinh.
Ông Quang quê ở Tiền Giang, vì cuộc sống khó khăn nên lên Sài Gòn mưu sinh từ hồi còn trẻ.
Năm 9 tuổi, sau một cơn bệnh đậu mùa gia đình chạy chữa khắp nơi nhưng không hết, biến chứng của bệnh làm ông bị mù cả hai mắt.
Năm 9 tuổi, sau một cơn bệnh đậu mùa gia đình chạy chữa khắp nơi nhưng không hết, biến chứng của bệnh làm ông bị mù cả hai mắt.
Ông Quang kể, ở quê người ta rất sợ loại bệnh mà ông mắc phải, ai cũng cố tình tránh mỗi khi gặp ông. Duyên số rui rủi, cho ông gặp bà Nguyễn Thị Kiu (68 tuổi) rồi kết thành vợ chồng.
Ông Quang kể, ở quê mọi người rất sợ loại bệnh mà ông mắc phải nên ai cũng cố tình tránh mỗi khi gặp. Duyên số run rủi cho ông gặp bà Nguyễn Thị Kiu (68 tuổi) rồi kết thành vợ chồng.
Hai vợ chồng ông có hai người con trai, nhưng không may người con đầu mất sớm. Người con trai thứ hai ở với ông bà, nhưng không nghề nghiệp ổn định.
Vợ chồng ông có hai người con trai, nhưng không may người con đầu mất sớm. Người con trai thứ hai ở với ông bà nhưng không nghề nghiệp ổn định. Bà Kiu là người hiền lành hết mực yêu thương chồng nhưng mắc bệnh tim và tiểu đường nên không thể làm việc nặng được.
Lên Sài Gòn, ông Quang đi bán vé số. Tuy nhiên, vì ông mù nên nhiều người lợi dụng lừa lấy sạch.
Lên Sài Gòn, ông Quang đi bán vé số nhưng vì ông bị mù nên nhiều người lợi dụng lừa lấy sạch tiền, vé số.
Sau bao nhiêu nghề không thành, ông Quang cùng vợ làm bánh Thửng rồi ông đem đi bán kiếm tiền.
Sau bao nhiêu nghề không thành, ông Quang cùng vợ làm bánh thửng để ông đem bán.
Hàng ngày, ông nhào bột để vợ đúc bánh. “Mới đầu làm không quen bột vương vãi khắp nhà, nhưng làm nhiều thành quen”. Ông Quang cho hay.
Hàng ngày, ông nhào bột để vợ đúc bánh. “Mới đầu làm không quen bột vương vãi khắp nhà, nhưng làm nhiều thành quen”, ông Quang cho biết.
Khoảng 14 giờ, ông mang theo giỏ bánh Thửng bắt xe bus (có lúc thuê xe ôm) đến góc đường Nguyễn Tri Phương để bán.
Hàng ngày, cứ khoảng 14h ông mang theo giỏ bánh thửng lên xe bus (có lúc thuê xe ôm) đến góc đường Nguyễn Tri Phương để bán.
Mỗi chiếc bánh ông Quang bán 8.000 đồng. Mỗi ngày ông cũng kiếm được khoảng 80.000-100.000 đồng.
Mỗi chiếc bánh ông Quang bán 8.000 đồng và mỗi ngày ông cũng kiếm được khoảng 80.000-100.000 đồng.
“Những ngày trời mưa, khách đi đường ai nấy đều chạy đi gấp nên không dừng mua bánh, những hôm như vậy tôi chỉ bán được vài chục nghìn”. Ông tâm sự.
“Những ngày trời mưa, khách đi đường ai nấy đều chạy đi gấp nên không dừng mua bánh, những hôm như vậy tôi chỉ bán được vài chục nghìn”, ông tâm sự.
Khi khách mua bánh đưa tiền, ông Quang nhận biết mệnh giá bằng cách sờ trên mặt đồng tiền. Vì thế mà ông cũng ít bị nhầm lẫn khi thối tiền cho khách. Nhiều người thương tình, thường cho ông số tiền lẻ còn dư.
Khi khách mua bánh đưa tiền, ông Quang nhận biết mệnh giá bằng cách sờ trên mặt đồng tiền. Vì thế cũng ít ông bị nhầm lẫn. Nhiều người thương tình cho ông số tiền lẻ còn thừa.
Số tiền kiếm được từ bán bánh ông dùng để trang trải tiền nhà, tiền ăn uống của gia đình. Già cả nên tháng nào, hai vợ chồng ông cũng phải dành dụm một khoản tiền để mua thuốc thang.
Số tiền kiếm được từ bán bánh ông dùng để thuê nhà, mua thức ăn cho gia đình. Già cả nên tháng nào, vợ chồng ông cũng phải dành dụm một khoản tiền để mua thuốc.
Ông Quang quan niệm, trời không cho ông đôi mắt, nhưng cho ông sức khỏe tốt, nên ông vẫn chăm chỉ làm việc để mưu sinh.
Ông quan niệm: "Trời không cho đôi mắt, nhưng cho tôi sức khỏe tốt, nên tôi vẫn chăm chỉ làm việc để mưu sinh"
 Ông lão mù hơn 20 năm bán bánh nuôi vợ.Ai đi ngang đường Nguyễn Tri Phương nếu được hãy ủng hộ ông lão 1 vài chi...
Posted by Xì Trum 8 on Friday, 5 February 2016

Dân Muốn Biết MẬU THÂN HUẾ 1968 :Nhân chứng sống kể lại

Nhân chứng sống kể lại : MẬU THÂN HUẾ 1968


Tôi xin tường thuật lại chi tiết những cái chết đau thương của ông nội tôi, ba người anh, cùng một người bạn của họ, như là một nhân chứng còn sống sót sau tết Mậu Thân, như là tiếng kêu oan cho gia đình tôi, cho linh hồn của những người thân trong gia đình, gia tộc tôi cách riêng, và cho những người dân Huế nói chung. Thay cho tất cả những ai bị sát hại trong tết Mậu Thân 1968 bây giờ còn kẹt lại VN không có cơ hội để nói lên những oan khiên mà họ đã gánh chịu bởi Đảng CSVN, và bè lũ khát máu giết hại dân lành vô tội như anh em Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh...
.Năm 1968, tôi đang là sinh viên năm thứ nhất trường Cán Sự Điều Dưỡng Huế. Ngoài những giờ học lý thuyết chung tại trường, bọn sinh viên chúng tôi được chia thành nhiều toán. Mỗi toán từ 8 đến 10 người, luân phiên thực tập ở các trại bệnh trong BV Trung Ương Huế.
.Có những trại bệnh sinh viên thực tập theo giờ hành chánh. Có một vài nơi, như phòng cấp cứu, phòng bệnh nội thương... thì giờ thực tập được chia làm ba ca, sáng, chiều và đêm... Ca sáng từ 7giờ đến 2 giờ chiều, ca chiều từ 2 giờ đến 9 giờ tối, và ca đêm từ 9 giờ tối cho đến 7giờ sáng hôm sau.
.Mỗi một nơi chúng tôi được thực tập từ 2 đến 3 tuần lễ. Hai tuần trước tết, toán của tôi được chia phiên thực tập ở phòng cấp cứu. Ngày mồng hai, tôi và hai anh bạn vào ca đêm. Tết năm nay ba tôi bận đi hành quân xa không về kịp ăn tết.
.Thường thì mấy anh em tôi năm nào cũng vậy, đều phải về nhà ông bà nội từ trước ngày 30 tết, ở luôn cho hết ngày mồng một, rồi sau đó mới được tự do đi chơi, thăm viếng bạn bè…
.Sau bữa cơm tối mồng một tết, khoảng 8 giờ 30, anh hai lấy xe Honda của anh đưa tôi tới BV, và nói sáng mai anh sẽ đến đón.
.Tối mồng một tết phòng cấp cứu hơi vắng, chúng tôi, mấy anh sinh viên y khoa và hai người nhân viên phòng cấp cứu nói đùa với nhau rằng hôm nay tụi mình… hên! Chúng tôi mang một ít mứt bánh ra vừa ăn vừa nói chuyện, vừa thay nhau thăm chừng những bệnh nhân mới nhập viện từ đêm qua chưa được chuyển trại.
.Nhưng qua nửa đêm thì bắt đầu nghe có tiếng súng. Tiếng súng lớn, nhỏ, từ xa rồi mỗi lúc một gần. Chúng tôi thốt giựt mình, băn khoăn nhìn nhau, hoang mang lo sợ. Bầu không khí bắt đầu căng thẳng, mấy anh sinh viên y khoa thì nghe ngóng bàn tán, thắc mắc không biết tiếng súng từ đâu vọng lại…
.Lúc đầu chúng tôi tưởng là thành phố Huế và BV bị pháo kích, nhưng không ngờ, chừng 3-4 giờ sáng, bất thần không biết tứ ngõ ngách nào có chừng mười mấy người tràn vào phòng cấp cứu, họ xưng chúng tôi là quân giải phóng. Đa số mặc áo quần đen, súng mang vai, bị rết ngang hông. Họ bắt tất cả chúng tôi băng bó cho một số người bị thương, đồng thời hò hét chia nhau lục soát, vơ vét, và lấy đi một số thuốc men, bông băng, dụng cụ y khoa v.v… Họ lấy sạch không chừa lại một món nào, kể cả những bánh mứt chúng tôi để trong phòng trực.
.Trong lúc bọn họ đang tranh nhau lục lọi, thì ầm một cái, một tiếng nổ rớt rất gần, đâu đó trong BV, rồi tiếng thứ hai, thứ ba... rớt ngay con đường phía trước cổng chính BV, kề phòng cấp cứu… Điện trong phòng cấp cứu vụt tắt. Thừa lúc bọn chúng nhốn nháo kéo nhau đi, chúng tôi mạnh ai nấy tìm đường chạy thoát thân.
.Ra khỏi phòng cấp cứu tôi cắm đầu chạy, tôi không định hướng được là mình đang chạy đi đâu. Súng nổ tứ bề, cứ nằm xuống trốn đạn, rồi đứng lên chạy, cứ thế mà chạy. Chạy bất kể tả hữu. Cho tới khi tôi đâm sầm vào một người, định thần ngó lại mới biết đó là cha Trung, tuyên úy của BV. Cha từ phía một trại bệnh nào đó tình cờ chạy về phía tôi. Nét mặt cha cũng thất thần, đầy vẻ lo âu, nhận ra tôi, cha hỏi “con ở mô chạy lại đây?” Tôi nói “từ phòng cấp cứu”. Vừa nói vừa theo cha, chạy về phía nhà nguyện của BV và cũng là chỗ ở thường ngày của cha. Đến đó thì đã có hai bà Sơ dòng áo trắng và vài người nữa không biết từ trại bệnh nào cũng chạy lại đây. Tôi nhận ra trong số đó có Sơ giám thị suốt trong sáu năm tôi nội trú tại trường trung học Jeane d’ Arc.
.Cha Trung quen biết ông nội và ba mạ tôi, thỉnh thoảng ngài có ghé đến thăm ông nội nhà ở đường Hàm Nghi, nên ngài biết tôi. Không biết chạy đi đâu nữa tôi ở lại đó với cha hai bà Sơ, và mấy người nữa.
.Bốn năm ngày liền chúng tôi chui rúc trong nhà nguyện, không dám chạy ra ngoài và cũng không liên lạc được với một ai từ những trại bệnh khác. Súng nổ tư bề nên ai ở thì cứ đâu ở đó.
.Sau khi đám người xưng là “quân giải phóng” ở Cấp Cứu kéo nhau đi chúng tôi không gặp, không thấy bọn VC nào nữa, hay họ đang lẫn trốn trong những trại bệnh khác thì tôi không biết.
.Tới ngày thứ năm, ruột gan như lửa đốt, không biết ông bà nội, mạ và mấy anh em tôi trên đường Hàm Nghi ra sao. Tôi nói với cha Trung, cha ơi con muốn về nhà. Cha bảo, không được, súng đạn tư bề, nguy hiểm lắm, cứ ở đây với cha và mấy Sơ đi đã, khi mô có lính mình xuất hiện thì mới đi được. Tôi hỏi, khi mô thì lính mình mới tới, cha nói không sớm thì muộn họ cũng sẽ phản công thôi, cha nói như để trấn an tôi và mọi người thôi chứ trên mặt cha thì vẫn đầy vẻ lo âu…
.Không biết nghe tin từ đâu mà một người trong nhóm nói người ta chạy vô ở trong nhà thờ Phủ Cam đông lắm. Tôi nghe càng nóng lòng muốn chạy về nhà. Muốn đi phần vì sốt ruột muốn gặp mạ với mấy anh em tôi, phần vì đói. Đã mấy ngày không có gì ăn ngoài mấy ổ bánh mì cứng còng của Caritas còn sót lại ở nhà nguyện chúng tôi chia nhau gặm… cầm hơi!
.Tôi quyết định chạy về tìm gia đình.Tôi liều. Trên người tôi chỉ có bộ đồ đồng phục dính đầy máu, tôi chạy ra phía sau cổng BV, tìm đường về nhà. Vừa chạy vừa lo, ngó tới, ngó lui không một bóng người, nhưng tiếng súng thì nghe rất gần. Không biết mấy lần vấp, tôi té xuống. Té rồi lồm cồm bò dậy, vài bước lại vấp té. Tôi lạnh run, hai hàm răng đánh bò cạp, nhìn cảnh tượng xác người nằm đây đó, máu me đóng vũng, Không biết họ bị thương đâu đó ở bên ngoài chạy vào gục chết ở đây. Quá sợ hãi, tôi định chạy trở lại nhà nguyện thì bất thần thấy anh Văn hớt ha hớt hải từ cổng sau BV chạy vô.
.Văn là bạn của anh Hải, anh kế tôi, hai người cùng học ở Văn Khoa. Nhà Văn ở miệt trên, gần dòng Thiên An. Mặt mày Văn xanh xao, hai mắt thất thần, trủm lơ, gặp tôi Văn lắp bắp, nói không ra hơi. Ti ơi thằng Hải bị bắn chết rồi. Hắn bị bắn ở bên Văn Khoa. Toàn thân run rẫy, tôi khuỵu xuống.Văn đỡ tôi đứng lên. Lại có tiếng nổ rất gần. Văn hoảng hốt kéo tôi chạy lại ngồi xuống bên trong bức tường sát cánh cổng sau BV. Hai đứa tôi run rẫy ngồi sát vào nhau. Lát sau, tiếng được tiếng mất, anh lắp bắp kể. Văn nói mấy đêm rồi Văn với mấy người anh của tôi trốn đạn trong nhà thờ Chánh Tòa (nhà thờ Phủ Cam) nhưng rồi đêm qua có mấy sinh viên của mình dắt một toán VC vô nhà thờ đọc một lô danh sách, họ lùa người đi đông lắm, không biết họ đưa đi đâu. Văn kể một hơi mấy tên “sinh viên của mình” nhưng bây giờ tôi không còn nhớ nổi.
.Khi đám người bị lùa đi, thân nhân của họ khóc la thảm thiết.
.Sau đó Văn, anh Hải cùng mấy người bạn rủ nhau trốn ra khỏi nhà thờ và mạnh ai nấy tìm đường trốn.
.Ra khỏi nhà thờ, không biết trốn chui, trốn nhủi, chạy quanh, chạy co, làm sao mà Văn với anh Hải lại tới được trường y khoa. Anh Lộc, anh Kính đi lạc hướng nào không biết. Hai anh hè nhau chui vô phòng thí nghiêm trốn thì thấy có vài người đã bị bắn chết từ bao giờ mà những vũng máu đọng dưới họ còn tươi lắm. Văn, anh Hải hoảng hồn chạy trở ra. Chưa ra khỏi cửa thì gặp Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn thị Đoan Trinh cùng mấy sinh viên khác nữa Văn không biết tên, chỉ biết họ đồng bọn với HPNP. Văn biết mặt Phan là vì Văn có người anh học y khoa cùng lớp với Phan.
.Gặp Văn, Phan nạt nộ, tụi mi chạy trốn đi mô? Khôn hồn thì chạy qua bên Văn Khoa tập trung ở đó để đi tải thương! Hải và Văn biết không thể nào thoát khỏi sự kiểm soát của bọn HPNP nên vội vàng chạy bộ xuống Văn Khoa, hy vọng bị bắt đi tải thương chứ không bị giết.
.Bọn Trinh, Phan chạy xe Honda nên họ tới trước, và cũng đã bắn trước một số người khác rồi. Hải, Văn không biết nên lúc thúc chạy đến. Anh Hải chạy vô trước, nghĩ là sẽ gặp được một số bạn bè khác, cùng đi tải thương với nhau như lời Hoàng Phủ Ngọc Phan nói.
.Vừa vô tới giảng đường thì anh Hải bị HPNP bắn gục ngay. Văn mắc đi cầu, tìm chỗ phóng uế nên chạy vô sau anh Hải. Mới tới cửa thì nghe tiếng súng, tiếng hét của anh Hải, Văn quay đầu bỏ chạy. Chưa kịp rượt theo Văn thì bỗng ầm, một tiếng nổ đâu đó, trong sân trường đại học, khiến HPNP và đồng bọn hoảng hốt leo lên xe Honda tháo chạy. Văn thoát chết, chạy như điên, như khùng, chạy vô BV, và tình cờ gặp tôi trong đó.
.Nghe anh Hải bị bắn trong sân đại học Văn khoa, tôi bỏ ý định về nhà, tôi muốn chạy qua Văn Khoa tìm anh tôi, hy vọng anh chưa chết, tôi nghĩ sẽ tìm cách đưa anh vô Bv cấp cứu. Tôi khóc nói với Văn, em tới chỗ anh Hải. Văn can, Ti đừng đi, tụi nó có thể trở lại. Tôi mặc kệ Văn ngồi đó, vùa khóc vừa chạy. Một lát nghe tiếng chân Văn sau lưng, miệng thì nói, Ti ơi, vô BV trốn đi, Hải nó chết thiệt rồi, mà chân vẫn bước theo tôi. Tôi như người mất hồn, vừa đi, vừa chạy, vừa khóc. Trời ơi, thật là khủng khiếp, chỉ một đoạn đường từ cổng sau BV tới sân trường VK mà không biết bao nhiêu là xác người, áo quần vung vãi khắp nơi.
.Chúng tôi chạy mới tới trường trung học Jeane d’Arc, thì gặp bọn HPNP lấp ló trước cổng trường với một nhóm bộ đội Bắc Việt. Người nào mặt mày đằng đằng sát khí. Gặp lại Phan, Văn run rẩy, Phan chưa kịp nói thì Văn đã lắp bắp phân trần, em qua BV kiếm con Ti chớ em không có trốn mô, và xin xỏ, anh cho em với con Ti đem xác thằng Hải về nhà rồi em trở lại đi… tải thương!
.Phan không trả lời Văn, hắn nhìn tôi ác độc, mi về nhà kêu thằng Lộc, thằng Kính xuống đây mà đem thằng Hải về. Tôi líu lưỡi, em không biết hai anh em ở mô mà kêu. Trước đây tôi không hề biết mặt HPNP mà cũng chưa hề nghe nói tới tên người này vì trước năm 68 tôi còn là học sinh trung học. Có thể các người anh của tôi thì biết, vì họ là những lớp sinh viên đàn anh, đã từng qua những khó khăn đối đầu với đám sinh viên theo phe “tranh đấu, lên đường xuống đường” của những năm trước.
.HPNP to nhỏ gì với những người đồng bọn rồi quay lại ra lệnh cho tôi với anh Văn đem xác anh Hải về nhà. Chưa biết nghĩ cách nào để đem xác anh Hải về thì Văn thấy một chiếc xích lô của ai bị bể bánh xe sau, nằm chơ vơ cạnh vách tường trường Jeane d’Arc.
.Văn gọi tôi theo anh. Chúng tôi đẩy chiếc xích lô sứt cọng gẫy càng về phía Văn khoa. Có chừng 10 xác người trong đó. Tôi không dám nhìn lâu. Chúng tôi hè hụi khiêng Hải bỏ lên xích lô. Xác anh đã cứng. Đùm ruột lòi ra ngoài trông rất khủng khiếp. Hai mắt vẫn còn mở trừng. Miệng vẫn còn há ra.
.HPNP vừa đánh anh Văn bằng báng súng vừa chửi. Chuyến ni mi trốn nữa, mi gặp lại tau là mi chết! Văn run rẫy lắp bắp, dạ lạy anh, em không dám nữa mô. Rồi chúng tôi hè hụi đẩy chiếc xích lô mang xác người anh xấu số của tôi nhắm hướng cầu Kho Rèn đi lên. Nhà tôi ở trên đường Hàm Nghi. Qua khỏi cầu một chút. Suốt quảng đường từ đó về đến nhà, có rất nhiều đám lính bộ đội Bắc Việt đứng tụm năm, tụm ba. Chúng tôi không bị bắt giữ lại vì có HPNP chạy đi trước ra dấu cho họ để cho chúng tôi đi.
.Khúc đường ngang trường Thiên Hựu cũng có rất nhiều xác người nằm rải rác. Nhiều vũng máu cũng như xác người bị ruồi bu đen. Đã mấy ngày không có gì trong bụng, tôi vừa đi vừa ói khan. Văn cũng vậy. Chúng tôi rán sức đẩy chiếc xích lô, trong lúc HPNP cùng hai người đàn bà nữa cứ chạy xe đảo tới, đảo lui hối chúng tôi mau lên. Tôi nghe chúng nó hỏi nhau, bên Lý Thường Kiệt, Nguyễn Huệ còn ai nữa không? Có mấy chiếc xe Honda chở gạo, bánh tét, đã tịch thu của nhà ai đó chạy thẳng vô trường Thiên Hựu.
.Lúc đó bỗng dưng có mấy chiếc trực thăng xuất hiện trên trời nhã đạn xuống,Văn nói như reo bên tai tôi, Ti ơi, máy bay của mình. Mừng chưa kịp no, thì trời ơi, từ những cửa sổ trên lầu của trường Thiên Hựu những họng súng lớn nhỏ nhả đạn, nhắm hai chiếc trực thăng mà bắn, lúc đó chúng tôi mới biết là VC đang ở trong trường Thiên Hựu quá nhiều.
.Hoảng hồn tôi, Văn chạy lại ngồi sụp xuống bên tường rào của trường tránh đạn. Phan và đồng bọn biến đâu mất. Tụi nó như ma, khi ẩn, khi hiện. Nhưng chỉ được một lát, hai chiếc trực thang bay đâu mất. Chúng tôi thất vọng, khi thấy Phan với đồng bọn xuất hiện hối chúng tôi đi.
.Lên tới cầu Kho Rèn, thấy một đám người, đàn ông, đàn bà, con nít bị bắt trói chung với nhau ngồi trên đầu cầu. Họ ngồi gục đầu xuống hai đầu gối. Tiếng con nít khóc, tiếng mấy bà mẹ dỗ con, nín đi con ơi. Đi ngang qua họ mà chúng tôi không dám nhìn. Có tiếng người trong đám gọi tôi Ti ơi, quay lại tôi nhận ra chị giúp việc của mẹ tôi và vợ của một chú cùng đơn vị với ba tôi ở tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Tôi đoán họ là những người từ trên Phủ Cam, chung quanh cầu Kho Rèn, Hàm Nghi và những con đường chung quanh đó chạy xuống tìm đường trốn lên Phú Lương thì bị bắt giữ.
.Tôi định dừng lại hỏi thăm thì HPNP trờ xe tới nạt nộ “đi, mau ngó chi!”
Trên đoạn đường từ Văn Khoa ngang qua trường Thiên Hựu, cầu Kho Rèn, lên tới nhà nội chúng tôi thấy nhiều người bị trói dính chùm vào với nhau đi trước mấy người mặc đồ đen đi dép râu, mang súng.
.Súng nổ tư bề mà sao không thấy bóng dáng lính mình ở đâu cả. Chỉ thấy lính bộ dội Bắc Việt khắp nơi.
.Trên đường Hàm Nghi, Nguyễn thị Đoan Trinh chạy ngang nhà nào mà y thị gật đầu là y như rằng trong nhà đó có người bị bắt đem ra, người thì bị bắn tại trước nhà, người thì bị dắt đi, mấy ông bà cụ trong nhà chạy theo nằm lăn ra đường khóc la thảm thiết… Bộ đội ngoài Bắc thì cứ chửi thề luôn miệng, đéo mẹ câm mồm, ông bắn bỏ mẹ bây giờ…
Hai chúng tôi cứ nghiến răng, cúi mặt, lầm lủi đẩy chiếc xích lô mang xác Hải đi tới. Khi gần tới nhà tôi ở số 24 đường Hàm Nghi thì HPNP và con hồ ly Trinh rà xe lại gần bảo tôi, không được đẩy vô nhà mi. Đẩy lên trên tê!
.Đẩy lên trên tê, tôi hiểu đây là đẩy lên nhà ông bà nội tôi. Cũng trên đường Hàm Nghi nhưng nhà nội tôi ở trên dốc, hướng đi lên Phủ Cam. Nhà ba mạ tôi thì ở gần cầu Kho Rèn.
.Tôi cũng không hề biết mặt Nguyễn thị Đoan Trinh trước đó. Trong hoàn cảnh này tôi mới biết mặt y thị là nhờ anh Văn nói. Tội nghiệp anh Văn, cứ tưởng khi HPNP biểu cùng tôi đẩy xác anh Hải về là được tha chết. Anh Văn và tôi cũng không ngờ rằng đoạn đường từ Văn Khoa lên tới nhà nội trên đường Hàm Nghi là đoạn đường sau cùng chúng tôi đi chung với nhau trong cuộc đời này.
.Lên tới nhà nội, chúng tôi đẩy Hải vô bên trong hàng rào chè tàu, bỏ Hải ngoài sân tôi với Văn chạy vào nhà, nhà vắng ngắt, đi từ trước ra sau bếp gọi ông ơi, mệ ơi. Nghe tiếng ông nội yếu ớt từ trong buồng vọng ra, ai đó, đứa mô đó? Con đây, ông nội. Nghe tiếng tôi, ông tôi hấp tấp chạy ra, bước chân xiêu xiêu, ông tôi chạy lại ôm tôi, ông khóc, ông nói, lạy Chúa lạy Mẹ cháu tui con sống. Tôi không khóc được, tôi run rẫy trong tay ông nội. Ông tưởng tôi sợ nên an ủi, con còn sống mà về được đây là phúc lắm rồi, ở đây với ông nội, không can chi mô! Nghe nói mạ mi đưa ba thằng em mi chạy lên Phú Lương rồi, không biết đi tới mô rồi, có thoát được không? Lạy Chúa, lạy Mẹ phù hộ.
.Tôi không nói vì quá mệt, kéo tay ông nội ra ngoài, thấy Văn ngồi bệt dưới nền nhà, ông hỏi, đứa mô giống thằng Văn rứa bây? Văn òa khóc, tôi khóc theo, kéo ông nội ra sân. Nhìn thấy xác Hải ông nội tôi khuỵu xuống, miệng thì kêu trời ơi, trời ơi, răng mà ra nông nổi ni…
.Chúng tôi đem Hải vào nhà, đặt anh trên divan. Ông nội lấy mền đắp lên xác Hải.
.Hai người anh tôi đang trốn trên trần nhà đòi xuống nhìn mặt Hải. Ông nội không cho. Anh Lộc giở nắp trần nhà sát góc tường, thò đầu xuống vừa khóc vừa nói, Ti, đẩy cái ghế đẩu qua cho anh. Tôi nghe lời ra đằng sau bếp lấy cái ghế đẩu mang lên để ngay góc phòng cho anh Lộc nhẩy xuống. Ông nội ngó lên, quơ quơ hai tay, giọng ông lạc đi, đừng xuống, ông nội lạy con, đừng xuống, ở trên đó đi mà… Anh Kính đang ở trên đó, cũng đang khóc. Lộc chưa kịp nhẩy xuống thì nghe tiếng nói, tiếng chân người ngoài sân. Anh vội vàng đóng miếng ván lại thì bọn HPNP cũng vừa vào đến.
.Thấy Phan bước vô, mặt Văn biến sắc, anh lắp bắp nói với ông nội, anh Phan cho tụi con đem xác về đó ông ơi. Ông nội đứng im không nói. Hai mắt cú vọ của nó ngó ông nội hỏi, thằng Lộc, thằng Kính ở mô? Ông nội nói tui không biết. Phan gằn giọng, ông thiệt không biết tụi hắn ở mô? Tụi hắn năm mô cũng về ăn tết ở đây mà ông không biết răng được? Ông nội nói, ba ngày tư ngày tết, ăn xong thì tụi hắn đi chơi, đi thăm bà con họ hàng chứ chẳng lẻ ở nhà hoài răng? Chừ thì tui biêt tụi hắn ở nhà mô mà chỉ!
.Mắt Phan ngó láo liên khắp nơi, chợt thấy cái ghế đẩu ngay góc phòng, nó cười khan một tiếng.
.Tôi đứng núp sau lưng ông nội, HPNP hung hăng bước tới, xô ông nội qua một bên, nó nắm lấy tóc tôi kéo tôi ra về phía hắn. Ngó lên trần nhà la lớn, Lộc, Kính, Hiệp, tụi mày không xuống tau bắn con Ti!
.Nó vừa nói, vừa xoáy mái tóc dài của tôi trong tay, nó đẩy tới, đẩy lui. Tôi đau điếng, tôi sợ, tôi run lẩy bẩy, nước mắt ứa ra nhưng không dám la thành tiếng. Ông nội tôi chấp tay lạy nó như tế sao, tui lạy anh tha cháu tui, con gái con lứa, hắn biết chi mô.
.Thằng Phan càng la lớn, tau biết tụi mi trên đó, có xuống không thì nói, tau bắn con Ti. Phan xô tôi té xuống, lấy chân đạp lên lưng. Chĩa mũi súng lên đầu tôi hô một, hai, ba… Lập tức anh Lộc mở nắp trần nhà thò đầu xuống la to, đừng, đừng bắn em tau, tau xuống, để tau xuống…
.Ông nội tôi chạy lại giữ cái ghế cho anh bước xuống, hai chân ông run, ông té sấp, đang lúc Anh Lộc tìm cách tuột xuống,thò hai chân xuống trước, hai tay còn vịn trần nhà, khi đôi chân vừa chạm chiếc ghế đẩu thì HPNP đã nỗ súng, đạn trúng ngay chính giữa cổ, máu phọt ra, Lộc lăn xuống sàn nhà toàn thân anh dẫy dụa mấy cái rồi nằm im.
.Mặc ông nội tôi la hét thất thanh, Phan chĩa súng bắn lên trần nhà, nghe tiếng anh Kính lăn tới đâu, nó bắn tới đó, bắn nát trần nhà, hết đạn nó dành lấy cây súng của một thằng khác bắn tiếp, cho tới khi anh Kính tôi rớt xuống theo mấy miếng ván. Anh Văn ngồi bệt xuống đất, nhắm mắt, bịt tai, run lẩy bẩy, ngồi kề bên cạnh anh người tôi tê cóng, đái ỉa ra cả quần, ông nội tôi nhào tới ôm anh Kính, hai mắt trợn trừng, anh đang thều thào những lời sau cùng, ông khóc, ông chửi rủa thằng Phan, nó say máu, bắn luôn ông nội tôi. Ông tôi đổ xuống bên cạnh anh Kính.
Bắn ông tôi xong chúng kéo nhau đi bắt anh Văn theo. Còn lại một mình, tôi bò lại ôm lấy ông nội, tôi khóc không ra tiếng, tôi thở không ra hơi, hai bàn tay tôi ướt đẫm máu, máu của ông nội tôi, tôi bò sang anh Lộc, bò sang anh Kính, tôi lạy, tôi gọi, tôi gào, không ai nghe tôi hết, anh tôi không trả lời tôi, hai con mắt, bốn con mắt, sáu con mắt đều mắt mở trừng, ông nội tôi nằm im, máu trong ngực ông vẫn tuôn ra từng vòi. Tôi gục đầu xuống xác ông lịm đi. Không biết bao lâu thì tôi tỉnh lại, nhưng không ngồi dậy nổi. Cứ nằm ôm lấy xác ông nội. Tóc tôi bết đầy máu, toàn thân tôi, máu, phân và nước tiểu đẫm ướt. Tôi không còn sức để ngồi lên. Không biết tôi nằm bên cạnh xác ông tôi với ba người anh như vậy là bao lâu, khi tỉnh dậy thì thấy hai vợ chồng bác Hậu, vài người lối xóm nữa của ông nội đang ở trong nhà.
.Họ dọn dẹp, khiêng bộ ngựa trong nhà bếp ra trước phòng khách, đặt xác ông nội cùng với ba người anh tôi nằm chung với nhau. Hai bác gái đem tôi vào phòng tắm, phụ nhau tắm rửa cho tôi như một đứa con nít, bác Hậu lấy áo quần của bác mặc cho tôi. Tâm trí tôi hoàn toàn tê liệt. Tôi không còn khóc được, không còn mở miệng nói được câu nào. Ngày cũng như đêm ngồi rủ rượi bên cạnh xác của ông tôi, các anh tôi. Tôi không còn sợ chết. Nhưng sao tụi nó không giết luôn tôi? Trời hỡi, trời ơi!
.Nhìn thấy tôi tiều tụy, mỗi ngày bác Hậu gái khuấy cho tôi vài muỗng bột bích chi ép tôi uống. Thiệt ra nhà nội cũng chẳng còn chi. Gạo cơm, bánh mứt thì bị tụi nó khiêng đi hết rồi. Bác Hậu còn dấu được ít gạo, ít than nấu cháo uống cầm hơi với nhau.
.Ngày hôm sau thằng Phan trở lại. Bác Hậu xin phép được chôn ông tôi và mấy người anh sau vườn nhà nhưng nó không cho, nói cứ để đó.
.Đã hơn bảy ngày, xác đã bắt đầu sình lên và nặng mùi. Mà Phan không trở lại. Một buổi tối bộ đội Bắc Việt đến lục lọi kiếm gạo. Bác Hậu xin họ đào huyệt sau nhà để chôn ông nội và ba người anh tôi. Họ bảo ừ thối quá rồi thì chôn đi, nhưng chỉ được đào một lỗ huyệt.
.Vợ chồng bác Hậu khóc lóc năn nĩ, mấy anh ơi, người chết rồi biết chi, anh cho tụi tui đào 4 huyệt. Họ không cho. Họ phụ bác Hậu đào huyệt. Bảo đem cả bốn người bỏ xuống chung một lỗ. Lấp lẹ đi, thối quá. Bác Hậu với mấy người trong nhà không ai muốn làm, ngó nhau mà khóc…
.Chiều tối hôm đó Văn trở lại với Phan và mấy thằng bộ đội. Chúng nó bắt Văn phụ với mấy thằng bộ đội khiêng từng người ra bỏ xuống huyệt. Hai vợ chồng bác Hậu theo ra vườn. Tôi kiệt sức nằm vùi một chỗ nhưng tai tôi vẫn nghe rõ những lời đối thoại trong nhà. Tôi không đủ can đảm theo ra vườn chứng kiến cảnh vùi lấp những người thân yêu của tôi. Nằm trong buồng ông bà nội nhưng tôi nghe rõ từng tiếng cuốc xẻng đang đào đất. Tâm rí tôi quay cuồng, ruột gan tôi đòi đoạn. Trời ở đâu, đất ở đâu? Tôi gọi ông tôi, gọi anh Lộc, anh Kính, anh Hải, không ai nghe tôi hết…
Khi bốn cái xác người được bỏ xuống, miệng lỗ chưa được lấp, thì tôi nghe tiếng súng nổ, tiếng kêu gào của vợ chồng bác Hậu, nhưng không nghe tiếng của Văn. Tiếng bác Hậu kêu Văn ơi, Văn ơi giọng bác đòi đoạn, thì tôi biết chuyện gì đã xẩy ra cho Văn. Toàn thân tôi lẩy bẩy, tôi cảm thấy khó thở, một lần nữa cứt và nước đái trong người tôi túa ra.
.Tôi nghe tiếng mấy thằng bộ đội hò hét bảo lấp đất lại. Bác Hậu và những người hàng xóm của nội tôi đành phải làm theo. Khi tụi bộ đội VC bỏ đi, bác Hậu chạy vào buồng vò đầu,bức tai, giọng tức tưởi, thằng Văn nằm chung với ba thằng anh mi rồi con ơi! Trời ơi, là trời ơi, bác Hậu đấm ngực, không biết thằng Văn đã chết chưa mà hắn bắt tui lấp. Văn ơi là Văn ơi, con tha tội cho bác, trời ơi người mô mà ác như rứa… Tôi lặng người, nghe bác Hậu khóc anh Văn.
.Sau lần đó không đứa nào trong bọn chúng trở lại, kể cả tụi bộ đội. Chắc nhà ông tôi chẳng còn người để mà giết, chẳng còn của cải chi để mà cướp nữa.
.Hơn hai mươi ngày, tôi nằm liệt lào trong nhà nội. Bên ngoài súng đạn vẫn tư bề.
.Hai vợ chồng bác Hậu không nỡ bỏ tôi lại một mình, trong lúc bác nghe ngóng và biết đa số dân Phủ Cam đã tìm đường chạy thoát được xuống Phú Lương. Bác năn nĩ tôi rán ăn uống thêm một chút để có sức mà chạy, không lẽ con nằm đây chờ chết? Con không muốn tìm mạ con răng?
.Hôm sau nữa tôi theo gia đình bác Hậu tìm đường chạy lên Phú Lương vì nghe nói lính Mỹ, lính mình đã thấy xuất hiện chung quanh đây rồi. Đi xuống ngã cầu Kho Rèn thì cầu đã bị sập, bác theo đoàn người đi hướng khác, tôi đi theo như người mất hồn, họ đi đâu tôi theo đó, tôi không còn nhớ là mình đã đi qua được những nơi đâu. Có điều tôi lấy làm lạ, trên đường chạy giặc, mỗi khi đạn pháo bắn khắp nơi mà người ta cứ gồng gánh nhau mà đi, không ai chịu dừng lại kiếm chỗ tránh đạn, người ta nói với nhau, khi mô mà có mọc chê hay đạn pháo chi đó thì bọnVC chui vô nhà dân để trốn đạn, chúng nó không ra đường để chặn bắt dân lại, vì vậy người ta cứ chạy bất kể, dưới lằn mưa đạn người ta càng chạy đi đông hơn. Ôi những người dân tội nghiệp của xứ Huế thà chết dưới bom đạn còn hơn để bị lọt vô tay quân sát nhân ác độc.
.Cuối cùng thì tôi cũng về đến được Phú Lương gặp mạ và ba đứa em trai của tôi. Quá đau khổ, Mạ tôi bị phát điên khi hay tin cái chết của ba người anh và ông nội. Ít lâu sau ba tôi trở về sau một đợt hành quân nào đó của tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Thấy mạ tội như vậy, biết không thể trở lại đường Hàm Nghi ông mướn nhà ở tạm tại Phú Lương.
.Sau khi Huế được giải thoát, ba tôi nhờ bà con lối xóm cải táng Văn, ba người anh, và ông nội tôi, tang lễ được cử hành tại nhà thờ Phủ Cam do cha Nguyễn Phùng Tuệ chủ tế. Gia đình anh Văn đồng ý cho anh Văn đươc nằm lại trong miếng vườn nhà ông nội tôi cùng với ba người anh của tôi.
.Ba tôi được giải ngũ khoảng giữa năm 69. Mạ tôi vẫn trong cơn điên loạn không thuyên giảm. Ba tôi quyết định bỏ Huế đem hết gia đình vào Long Khánh sinh sống. Nhà nội giao lại nhờ hai bác Hậu coi chừng. Nhà ở 24 Hàm Nghi (gần đường rầy xe lửa) thì bán cho ai đó tôi không rõ.
.Thưa Quý Vị,
Đó là những cái chết oan khiên của những người ruột thịt thân yêu mà tôi phải chứng kiến tận mắt với muôn ngàn đau dớn. Trong bà con thân tộc nội ngoại hai bên của tôi có rất nhiều người bị bắt đi ở nhà thờ Phủ Cam, một số bị bắt ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế. Số người bị chôn sống, mất tích lên tới 70 người. Tất cả đều là học sinh, sinh viên, thường dân, nông dân, buôn bán ở chợ An Cựu.
.Sau Tết Mậu Thân, những người bà con còn lại của tôi quá đau khổ, sợ hãi, họ đã âm thầm bỏ Huế, tản mác khắp nơi, thay tên đổi họ mà sống…
.Sau biến cố tháng 4 đen 75, gia đình tôi lại là những nạn nhân của CSVN ác độc, vô luân. Ba tôi và những đứa em trai còn lại cũng đã chết sau mười mấy năm bị đày đọa trong lao tù CS.
.Đã 40 năm qua, những vết thương đó vẫn còn tươi rói trong tôi. Nỗi đau mỗi ngày một đầy. Đó là những cái chết oan khiên trong muôn ngàn cái oan khiên của người dân Huế.
.Tôi là người con duy nhất trong gia đình còn sống sót sau tết Mậu Thân cũng như sau những ngày mất nước. Nay viết lại những cái chết thương tâm của những người thân yêu trong Gia đình tôi với tư cách là một nhân chứng và nạn nhân, để tố cáo Tội Ác của Việt Gian Cộng Sản, có như thế, oan hồn của ông nội và anh em tôi mới có thể siêu thoát.
Tôi sẵn sàng ra làm nhân chứng trước tòa án quốc tế, cũng như xuất hi.ện trước các phương tiện truyền thông khi cần thiết
Xin trình ông tên tuổi ông nội tôi, và của ba người anh bị sát hại:
Tên ông nội: Nguyễn Tín, 70 tuổi.
Ba người anh: Nguyễn Xuân Kính, sinh viên y khoa, sinh năm 1942.
Nguyễn Xuân Lộc, sinh viên luật, sinh năm 1946
Nguyễn Thanh Hải, sinh viên Văn Khoa, sinh năm 1949
Lê Tuấn Văn, sinh viên Văn Khoa, bạn của anh Hải tôi.
Nguyễn Thị Thái Hòa
------------

Nhi kể cả nhà nghe chuyện ni: Hồi còn nhỏ, ba mạ gửi Nhi xuống nhà một thầy trọ học, mỗi năm về nhà 2 lần hè và tết, nhà thầy chứa tới 30 học sinh mỗi năm, từ cấp 1 tới hết cấp 3. Có bữa bọn Nhi đi học về, thấy nhà kế bên đông người và cả công an quá Trời, thì ra chú chủ nhà nằm mơ rồi báo công an tới đào lên tới mười mấy cái đầu lâu. Hồi đó Nhi vừa lên cấp 2, chỉ biết sợ ma mà không biết chi hết, lên tới lớp 10 mới biết đó là những nạn nhân của vụ thảm sát Mậu Thân Huế năm 1968.
Có lẻ không ai là không biết vụ Mậu Thân Huế năm 1968 qua người thân, các trang đài và trang mạng, nhưng kể đi kể lại vẫn không thừa. Tuy nhiên, các lớp trẻ người con xứ Huế nên biết để mỗi năm đừng có dại mà vác cờ đỏ sao vàng ra Đại Nội hô hào mừng "giải phóng" nữa.
Nguyễn Đắc Xuân, thuộc lực lượng an ninh và bảo vệ khu phố lúc đó và bây giờ là nhà Huế học, bị mọi người nhắc tới là một tên ác ôn nhất và một tên Việt cộng nằm vùng bám rễ lâu đời nhất ở Huế. Tại Cồn Hến năm đó, Nguyễn Đắc Xuân đã giết chết vợ chồng ông Trần Ngọc Lộ trước mặt 4 đứa con thơ dại, đứa lớn chưa qua 6 tuổi, đứa nhỏ chưa qua 4 tháng, chỉ
vì nghi họ là Đảng viên Đảng Đại Việt cách mạng. Có người chửi tên Xuân: "Mi lớn lên trên mảnh đất Huế của VNCH, mi có ba có mạ đầy đủ, những người Quốc gia có ai giết cả ba lẫn mạ mi mô Xuân? Vì răng mi nỡ giết ba mạ của 4 đứa thơ bơ vơ rứa?"
Khi cộng sản Bắc Việt chiếm Huế năm đó, chúng lên kế hoạch cho cuộc thảm sát như sau:
Chúng đi lục soát từng nhà một, chúng kêu gọi tàn binh của "ngụy" quân, "nguỵ" quyền, quân, cán, chính,
Cảnh sát công an "ngụy" ra trình diện nộp vũ khí và cho họ thẻ an ninh rồi về. Chúng kêu gọi trình diện lần thứ 2, nhiều người trốn đợt trước thấy mọi người về an toàn liền ra trình diện. Rồi đợt trình diện thứ 3, những ai còn nghi ngờ không dám thì lần nầy cũng ra hết trình diện. Vài ngày sau, cơ quan an ninh chính quyền cách mạng kêu gọi những người đã trình diện 3 đợt vừa qua và ai chưa trình diện đều ra trình diện. Và rồi vợ đợi, con mong, cha mẹ già ngồi chờ ngày qua ngày, đêm qua đêm, họ đã ra đi mãi mãi không trở về nữa. Mạ Nhi kể hồi đó ông ngoại Nhi đi nhưng may mắn trở về nhưng quá sợ hãi mà bị câm luôn một năm, và những đêm sau đó tối nào sau vườn chó cũng sủa cả đêm...
Con số ước tính của những nạn nhân chết trong vụ Mậu Thân Huế 1968 lên tới 7000 người. Họ không được chết như Trịnh Công Sơn viết" chết đẹp như mơ", họ bị chết ngộp vì bị chôn sống, một số thì xương sọ xương đầu bị vật cứng đập vỡ, họ chết trong tư thế nằm nghiêng nằm ngữa với hai tay trói đằng sau bằng dây đồng, dây kẽm gai, họ bị bịt mắt, họ chết trong sự sợ hãi tột cùng.
Và năm đó, tên đồ tể Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ngồi ghế chánh án để xét xử. Một số anh em quân đội, cán chính còn lẫn trốn đều bị bắt và tên đồ tể xếp họ vô thành phần ác ôn. Một số khác là cô nhi quả phụ con em của Quân nhân, Cảnh sát địa phương, Nghĩa quân, những người nghèo khổ nầy đi làm tạp dịch cho các căn cứ của Mỹ thì bị xếp vô là thành phần tình báo. Tất cả các nạn nhân đó đều bị Hoàng Phủ Ngọc Tường ban lệnh chôn sống, và án lệnh được thực thi ngay tại hố đã đào sẵn tại khuôn viên toà mà không được kháng án.
.................................................
Thảm sát Mậu Thân Huế là một vết nhơ trong lịch sử VN do chính tội ác của Việt cộng gây ra.
Nguồn ảnh: Internet

Thiên Đường khốn nạn của CSVN

Không thể tưởng tượng được trên thế giới lại có cái loại cầu cho dân qua sông thế này. trong khi CSVN bỏ hàng ngìn tỷ đồ...