Với người tù cải tạo, cộng sản không bao giờ để cho nhóm nào được ở chung, giam chung quá lâu. Chỗ giam thay đổi theo cách tính toán sao cho người tù cải tạo mau đến đường cùng của sức khỏe, niềm tin và hy vọng. Mặt khác, chúng lại luôn hứa hẹn. Trước khi đi lao động ở chỗ khác chúng tôi được cho biết là cố gắng lao động tốt sau 3 năm sẽ được cho về. Vì vậy niềm hy vọng dù mong manh nhưng phía trước có mục tiêu để mà hướng tới thì cũng đỡ hơn cứ lao mình như con thiêu thân không có mục đích, thôi thì cứ tin tưởng ngày về đã gần kề để mà hy vọng. Cộng sản có tiếng là láo khoét, nói một đường làm một nẻo, nhưng lần này chúng tôi hết đường lựa chọn. Một số ít trong đó có anh Ngô Trúc Khánh và những anh em bị cho là ác ôn bị đưa lên Giếng Triềng khai phá đất hoang làm ruộng lấy gạo nuôi toán làm Đập Tràn Sông Lũy.
Sau khi ăn Tết năm 1976 xong vài ngày, số đông rời vị trí đóng quân đi ngược dọc con Sông Lũy lên đầu nguồn, theo tôi biết thì đi khoảng 2 giờ nữa là đến Cà Lon một buông lớn của người Thượng. Qua đêm ở trong rừng vì đi lạc đường, không biết tay nào dẫn đường mà tệ thiệt, ngày hôm sau quay ngược đến vị trí đóng quân nằm bên bờ sông Lũy cách chỗ làm con đập tràn chừng 500 mét. Chúng tôi mới biết nhiệm vụ mới là làm con đập tràn trên thượng nguồn Sông Lũy, và đào con mương dẫn nước về tưới cho cánh đồng Bông Vải Lương Sơn. BCH trại chỉ cho chúng tôi một ngày để làm chỗ ở, mỗi tổ mười hai người làm một lán để trú nắng che mưa, lán làm bằng cây rừng và nẹp giường bện bằng tre, mái lợp bằng lá buông, được cái vùng này lá buông rất nhiều nên chặt về lợp rất nhanh. May mà chúng tôi đã qua thời gian làm việc nặng nhọc đã quen, chân cứng đá mềm mới làm kịp.
Cán bộ Thủy lợi Đoàn 8 chịu trách nhiệm thiết kế, đo đạc, tù cải tạo chịu trách nhiệm thi công. Do việc khảo sát địa chất vùng này được thực hiện vội vã, và do sự bất tài của kỹ sư thiết kế dự án nên khi đào mương chúng tôi gặp phải lớp đá cứng nằm dưới mặt đất chừng một mét. Đất vùng này có pha sỏi nên kết cấu không bền vững, nên khi dùng loại đất này đắp bờ mương thì nước thấm qua và dễ làm vỡ chỗ bồi đắp. Không thể nào đào bằng dụng cụ thông thường và bằng sức người, nên Quân Khu 6 tại Đà Nẵng phải cung cấp chất nổ để chúng tôi đánh đá để đào mương, làm kéo dài thời gian và không hoàn thành được tốt như quy định.
Vì nhu cầu nên trại cho thành lập toán đục đá gồm ba chục người được tuyển chọn từ những người khỏe mạnh nhất, đa số là anh em được lựa chọn qua quá trình làm đập có sức khoẻ tốt, quản giáo Tùng không biết sao lại chỉ định tôi làm Tổ Trưởng tổ Đục đá để đánh chất nổ .Khẩu phần ăn cho tổ này được tăng lên từ 500gr lên 700gr gạo trắng ngày, tiêu chuẩn cao nhất . Toán rèn của Trại phải đáp ứng mọi yêu cầu của toán . Hằng ngày chúng tôi phải dùng búa, choàng đục vào đá những lỗ sâu ít nhất 3 tấc, rộng bằng miệng cái tô, rồi đi lãnh một bao bố chất nổ loại bột của Trung cộng đổ xuống, bộ đội sẽ mang ngòi nổ tới đánh sau đó .Công việc vô cùng nặng nhọc, chờ họ đánh chất nổ xong toán đục đá mới được ra về .
Khoảng ba tháng sau con đập bằng đá được ràng bằng rọ kẽm gai đã làm xong nhưng nước thì cứ rò rỉ tuôn ào ào dưới chân đập, không giữ được nước, mang tiếng đập tràn nhưng nước không tràn qua mặt đập được. Ngày khánh thành con Đập đã đến, các kỹ sư trách nhiệm bí quá không biết giải quyết ra sao đành phải hỏi ý kiến chúng tôi xin giúp đỡ. Sau khi thảo luận tìm nguyên nhân chúng tôi giải quyết trong một đêm bằng cách sử dụng 200 người lặn xuống đáy đập dùng đá nhỏ chèn lại các lỗ rò rỉ, nước tràn qua đập thật đẹp như một dải lụa trắng với âm thanh ầm ầm của nước vỗ vào vỉa đá bên dưới.
Ngày hôm sau Đại tá Sư Trưởng đến khánh thành đập, chúng tôi được nghỉ một ngày và ăn bận chỉnh tề đón Sư Trưởng. Đến giờ Sư Trưởng đến, hắn ta đọc bài diễn văn dài lê thê, hết lời tán dương Đoàn 8 nhưng quên nhắc đến công lao đám tù cải tạo đã đổ mồ hôi, sôi nước mắt thậm chí cả máu để hoàn thành đúng kỳ hạn con đập, và đám tù đang đứng xếp hàng đón chào trước mắt, hình như hắn ta coi như chuyện tù cải tạo làm lao động trên công trường là chuyện đương nhiên. Tối đó chúng tôi được xem văn công của VC trình diễn, thật khác với với ca sỹ của VNCH . Giống y như nghe trên Đài Phát Thanh Hà Nội, những giọng ca cao vút như chim theo nhịp điệu của Trung quốc mang hơi hám rừng rú, thú thật chả biết bọn chúng hát cái gì, quanh đi quẩn lại chỉ các bài : Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây – Tiếng Chày Trên Sóc Bombo, Tiếng Đàn Ta Lư ....chả có hay ho gì, chỉ thấy lạ tai vì nghe chúng gầm rú .
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều sáng kiến như chế tạo cần cẩu theo nguyên tắc đòn bẫy để chuyển đá nặng vài trăm ký từ độ sâu bốn mét lên mặt đất dễ dàng bớt cực nhọc, và năng xuất tăng rất cao khỏi phải dùng nhiều chất nổ, nhưng vì mương nằm trên vỉa đá, nên đến giờ này Đập thì làm xong nhưng mương không hoàn thành được. Uổng công cho chúng tôi đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, công sức, đúng với câu “nước sông công tù”. Sau này khi được về nhà, tôi được biết thêm tin tức về con đập này. Chính quyền địa phương trong mấy năm liên tiếp đã điều động vài ngàn dân công từ xã Sông Lũy, Lương Sơn lên đào tiếp con mương mà chúng tôi đào còn dang dở, nhưng không tài nào đào nổi vì lớp đá bên dưới. Công trình tốn kém bao mồ hôi công sức bị bỏ hoang phế đến bao giờ mới tiếp tục được cho dân trong vùng được nhờ.
Gần đó đám Thanh Niên Xung Phong được điều lên đây làm không được đành bó tay. Các em than thở là bị bắt buộc đi Thanh Niên Xung Phong. Một số lớn đã trốn về nhà vì không chịu nổi công việc nặng nhọc và cái nắng nóng như thiêu như đốt. Buổi trưa nắng như đổ lửa vì đất và đá bị nung lên bốc hơi nóng khủng khiếp.
Đoàn quay phim của nhà nước lên quay đám Thanh niên Xung phong này về làm phim tài liệu tuyên truyền, nhưng có khúc mương nào mà đám Thanh niên Xung phong làm ra hồn, nên tới mượn chỗ chúng tôi làm để quay về chiếu trên truyền hình để tuyên truyền. Tù Cải Tạo thì VC bắt trốn kỹ vào rừng trong thời gian quay phim, dụng cụ dùng để bẩy đá từ dưới mương sâu lên, các em không biết sử dụng chúng tôi phải hướng dẫn cách làm, thật xảo trá hết chỗ chê cho cái trò hề tuyên truyền bẩn thỉu. Trò lừa dối nhân dân như vậy, cho tới nay đã hơn 40 năm rồi vẫn y như cũng y như ngày nào.
Thấm thoát Tết lại đến, Tết này là Tết thứ ba mà anh em Tù Cải Tạo còn trong cảnh đọa đày. Hơn 9 tháng chúng tôi không được thăm nuôi, lại làm việc trong điều kiện quá tồi tệ. Ngày thì nắng cháy da người, đêm thì lạnh buốt xương, ăn uống đói khát, nên ai nấy đều hốc hác thấy rõ, có lần phải ăn củ nần bị trúng độc xém chết cả đội .
Để chuẩn bị ăn Tết, BCH trại cho được thăm nuôi, để thân nhân tiếp tế thực phẩm cho tù cải tạo có thêm thực phẩm ăn có sức cày tiếp. Ngày thăm nuôi thật rộn rịp, bên bãi cỏ gần bờ sông, từng gia đình quây quần trên bãi cỏ ăn cơm. Một anh bạn Đại úy tôi không nhớ rõ tên đã viết một lá thư lén trao cho vợ gởi về cho mẹ bị cán bộ Quản giáo bắt được .
Tối đến bức thư được đem ra đọc cho toàn trại nghe, nội dung bức thư chẳng có gì là chống phá cách mạng nhưng Quản giáo bắt phải phê phán sao dám nói xấu cách mạng, vì lâu quá nên tôi chỉ nhớ đại ý nội dung thư . Đầu thư là gởi lời thăm gia đình sau đó có đoạn viết than thở về sự cực khổ ở đây, đồng thời cho biết là có hy vọng là sẽ được về nay mai . Trong thơ có đoạn viết :
“Đêm thì trăng sao, ngày thì nắng dọi. Con nay đã ở cuối đường hầm, đã thấy vài tia sáng le lói ở cuối đường, mẹ an tâm ngày về của con không còn bao lâu nữa..”, chỉ có vậy thôi mà đã cho là bôi bác cách mạng. Cả đám tù như lặng câm, cảm thấy bị xúc phạm nặng nề, ngồi im lặng và càng thấm thía cho kiếp tù, giận thay lũ VC ngu xuẩn, đem cảm xúc ý nghĩ thành thật của một tù nhân ra làm trò đùa. Bức thư này được cho là phản động, nên bắt anh phải kiểm điểm nhận lỗi .
Ngoài ra Đại úy Thiết Giáp viết “Huyết Lệ Ký” gởi cho con gái mới sinh năm 1975 là Tôn Nữ Đan Huyền, nhắn nhủ con gái không được lấy chồng là nón cối, và gọi Bắc cộng là bọn nó, bị Ban Quản Giáo cho là tên cực kỳ phản động .
Tết năm đó ăn tết trong buồn tẻ, chúng tôi chặt vài cụm mai rừng đang ra búp về cắm trong những cái thùng chôn giữa sân, hàng ngày ngồi trên sạp tre nhìn hoa nở để nhớ lại hương vị của ngày Xuân . Mai rừng nở rộ tô điểm cho rừng hoang thêm sắc màu, nhưng lòng người càng ảm đạm vì nhớ vợ con đang nheo nhóc ở nhà. Càng ngày con mương dài ra và gặp toàn đá, công trình bị châm lại, không biết bao giờ mới xong. Sau Tết, hơn 200 tù cải tạo được về.
Rồi VC ra lệnh tất cả tù cải tạo rút về Hàm Trí. Các anh em làm ruộng ở Giếng Triềng cũng tụ hết về đây. Sau này mới biết tụi Miên đánh phá dọc kinh Vĩnh Tế, Tây Ninh. Chiến tranh sắp nổ ra nên lính VC chuẩn bị đem quân đối phó, thôi không làm kinh tế nữa.
HÀM TRÍ LONG HOA
Ngay trước đồn NORA Long Hoa có con đường đất nối liền QL 1 với Hàm Trí chừng 3km. Vùng này khô cằn, đất đai không được màu mỡ, cách chỗ trại đóng chừng 2 km mới có vài ngôi nhà và có một giếng nước ở khu đất trủng. Trong phạm vi trại có con suối cạn chảy qua. Khi có mưa thì có nước hết mưa thì khô cạn. Chúng tôi phải làm đập chận nước lại mà phải đào giếng dưới lòng suối cũng không có nước .
Trại A ở cách trại B + C một quãng đường ngắn, nhưng ít khi thấy nhau. Hai trại được rào lại bằng cây rừng cao 3 mét, bởi hai lớp rào cách nhau một mét . Mỗi trại được lệnh phải cất một hội trường lớn lợp tole, hội trường này trại chỉ định đội tôi cất nhưng dụng cụ chỉ có khoảng vài chục cây rựa cùn trong kho thì lấy gì cất đây ? Nhưng lệnh trên xuống thì bằng mọi cách phải làm cho xong . Cuối cùng sau nửa tháng vật lộn hội trường đã cất xong nhưng không có dụng cụ và đinh để đóng tole . BCH trại điều một đội của khối Đại úy ra đồn Nora lấy kẽm gai Concertina về chặt làm đinh. Nên nhớ đồn này vòng rào toàn mìn bẫy, “giải phóng” đã lâu mà chúng cũng không dám dọn sạch thì đủ biết . Sáng hôm đi lấy kẽm gai anh em tù như đi vào cõi chết, đoàn người phải mang theo võng để khiêng người, có thể có người chết vì vòng rào đồn toàn mìn, chúng tôi chỉ cầu mong đừng nghe tiếng nổ nào vọng về từ đồn Nora, may mà không ai có việc gì, ai cũng vui mừng . VC đã coi mạng những người Tù Cải Tạo VNCH không ra gì, còn thua mấy cây đinh!
Tại đây, chúng tôi phá rừng làm rẫy, trồng bắp, cao lương, lúa, đậu phụng, đậu xanh, nuôi trâu bò, heo. Một đội lên rừng lấy gỗ về cưa xẻ thành từng miếng đóng sạp cung cấp cho Quân khu 6 đổi gạo để ăn. Nói chung trại Trung úy và Thiếu úy có phần dễ dãi, bên Đại úy thì bị kềm kẹp một cách tàn độc, nên toàn trại có những cuộc vượt trại xảy ra .
Toán đầu tiên vượt trại là nhóm của Đại úy Nguyễn Văn Ba, Thông Minh Xê, Đặng Phiên, Thông Ngộ ( gồm 4 người ). Sau đó không lâu, nhờ sự giúp sức của gia đình thêm một Đại úy vượt trại thành công, gây tức tối cho BCH trại, nên các anh càng bị kềm kẹp khe khắt hơn. Trung tuần tháng 3/78, một toán Đại úy khoảng 20 anh vai mang ba lô đi ngang qua trại B , gặp lúc chúng tôi đang làm việc sát đường nên hỏi các anh đi đâu đó, các anh cho biết là đi chặt tre. Tôi thấy trong toán có những người tôi quen như Đại úy Nguyễn Văn Ngư, Trần Hữu Thân ....Hôm sau thì nghe tin các anh vượt trại thành công. Riêng Đại úy Ngư trở về Đồng Trên Sông Mao giả làm thầy Chang làm ruộng nuôi gia đình. Vợ anh thường lén lên thăm anh nên có bầu . Gia đình chồng tố giác chị lấy trai, muốn đuổi ra khỏi nhà để cướp tài sản nên chị đành khai thiệt để giữ lại nhà cho chị và con có chỗ nương thân . Không ngờ người anh ruột thịt vì tranh tụng nhà cửa lại tố giác em mình nên anh bị bắt VC bao vây bắt về nhốt tại Đồn Công An Bắc Bình ( tại CK/ Hải Ninh ) năm 1981, khi tôi được thả về nhà hằng tháng phải lên trình diện ở Công An Huyện Bắc Bình, bỗng tôi nghe tiếng kêu Sơn anh Ngư đây, tôi dòm qua lỗ lô cốt thì thấy anh Ngư Đại Đội Trưởng ĐĐ118/ĐPQ cũ của tôi đang vẫy tay trong lỗ châu mai, anh hỏi tôi có thuốc lá thì cho anh xin, tôi quăng cho anh cả gói thuốc và cái hộp quẹt mà không sợ bọn công an truy ra tại sao anh có nó .
Còn Đại úy Trần Hữu Thân sau bao năm trốn tránh tại Sài Gòn đã vượt biên bằng đường bộ sang được Thái Lan, sau qua được Hoa Kỳ định cư gần Philadelphia. Còn hai bạn sau khi chia tay không biết đi về đâu. Trước đó chúng tôi nhận được tin của hai anh Hoàng Văn Bản và Nguyễn Văn Minh vượt trại thành công .
Cuộc vượt trại của trại B Tr/úy xảy ra vào buổi trưa ngày Chúa Nhật, chúng tôi đang nghỉ trưa thì nghe tiếng súng nổ hàng loạt, thì ra một số anh em tù cải tạo nhóm trung úy, lợi dụng lúc đi tắm ngoài mương bỏ trốn, nhưng không biết tại sao kế hoạch bị lộ nên bị VC phục kích bắt khi vừa mới ra khỏi mương nước trước trại trốn đi. Các anh Lê Quang Nồng, Phan Văn Quý, Nguyễn Duy Trác bị bắt tại trận, còn anh Phạm Kim Hoành biệt kích 81 (anh trước đây làm Huấn luyện viên môn Mưu sinh thoát hiểm tại Đồng Bà Thìn) giờ chót anh nghi ngờ sao đó có thể bọn ăngten biết cuộc vượt trại này nên không đi vì thế không bị bắt tại trận, như thế chứng tỏ kế hoạch trốn trại bị bại lộ và ăngten đã báo cáo nên BCT mới tổ chức hốt trọn ổ, anh Phạm Kim Hoành đoán đúng .
Chính Trị Viên Tr/ úy Hồng Thọt, dân Bắc không tìm ra Hoành biệt kích nên hùng hổ vào trại tập hợp toàn thể trại viên điểm danh, may mà tìm thấy anh Hoành còn có mặt tại đội. Ba anh bị trói thúc ké bắt quỳ trước hàng quân nhận những lời sỉ vả và sau đó bị bỏ đói và tra tấn tàn bạo, bị cùm hai chân trong nhà cùm . Lê Quang Nồng bị tên Cảnh vệ Lê Mông người Bắc đá gãy mấy cái ba sườn, chiếc giày của hắn còn dính vào lồng ngực của Nồng, mang chấn thương nặng khi chuyển ra trại A30 Phú Khánh, trước sự chứng kiến của anh Lê Trung Dị đang bị cùm trước đó vì tội đòi cách mạng thi hành “Luật Tù Binh Quốc Tế”, sau đó Lê Quang Nồng đã tự cắt mạch máu tay tự tử nhưng không chết . Các anh bị cùm và tra tấn dã man trên sáu tháng cho đến khi sắp chuyển ra A30 mới được tha khỏi cùm. Được biết Lê Quang Nồng trước đây là một Đại đội trưởng tại Quảng Đức, trên đường di chuyển bằng xe Honda cùng với một Chuẩn úy trung đội trưởng đã bị VC bắt. Người chỉ huy toán VC bắt anh hôm đó (1970) lại chính là Quản giáo Tùng hiện có mặt tại đây. Anh bị bắt làm tù binh tải đạn và đưa ra Bắc nhốt. Anh có một giọng ca truyền cảm, đặc biệt rất hay. Anh được VC đưa từ trại tù về Hà Nội hát trên Đài phát thanh để tuyên truyền. Sau Hiệp định Ba Lê 1973 anh được trao trả tù binh .
Để răn đe rung cây nhát khỉ, BCH trại cho tập họp toàn thể trại viên để nghe lời thú tội của Đại tá Ngô Tấn Nghĩa gởi đến toàn thể Quân Dân Cán Chính Tiểu Khu Bình Thuận. Thật là láo khoét, lúc này Đại tá Nghĩa đã vượt biên được qua Thái Lan sau khi VC “giải phóng” được hơn tháng và đang định cư tại Mỹ, không biết Đại tá Nghĩa nào đây .
Qua giọng nói rè rè nghe không rõ của cái máy thu băng, giọng Đại tá dỏm, kêu gọi tất cả mọi người an tâm học tập. Chính bản thân ông cũng đang được nhà nước khoan hồng cho cải tạo. Một trò hề rẻ tiền như vậy mà chúng cũng nghĩ ra thật trơ trẽn hết chỗ nói. Đại úy Thông Minh Xê, người Thượng vượt trại trước đó về sống ở Buôn Thượng trên Buôn Mê Thuột bị bắt lại đem về cho chúng tôi nhìn mặt để dằn mặt ..
Lúc này Cộng sản VN đã xâm lược Cam Bốt, kế tiếp là Trung Quốc anh em môi hở răng lạnh dạy cho VN Cộng sản một bài học, tháng Giêng 1979. chiếm sáu tỉnh miền Bắc giết không biết bao nhiêu dân lành và lính Bắc Việt . Chúng tôi được lên lớp cho biết bọn Bá quyền Trung Quốc xâm lăng nước ta, không còn tình hữu nghị gắn bó môi hở răng lạnh như trong lúc học tập mà đảng đã rêu rao .
Trước ngày 26 tháng 10 năm 1979 nhằm ngày Quốc Khánh của Đệ nhất Cộng Hòa dưới thời ông Diệm một ngày, không phải ngày Lễ lạc gì của VC thế mà trại làm bò cho ăn, chúng tôi nghĩ chắc có chuyện gì đây, và quả nhiên như vậy. Sáng sớm hôm sau, đúng ngày Quốc Khánh của Đệ Nhất Cộng Hòa, tất cả chúng tôi được lệnh mang toàn bộ hành lý tập trung ngoài sân, và một đoàn xe tải đã có mặt sẵn sàng trên đường đất nhỏ trước trại. Danh sách đọc chia làm 3 nhóm, một trăm người được cho về, 400 đi trại Sông Cái Phan Rang. Số còn lại hơn 600 và toàn bộ trại A Khối Đại úy lên xe ra quốc lộ 1 trực chỉ về hướng Bắc. Với VC, chúng cho đây toàn là thành phần cực kỳ ác ôn còn sót lại sau bao lần “sàng lọc”!
Cao H Sơn



0 comments:
Post a Comment