ATTENTION: UK-ĐẤU TRANH Will Be Permanently Retired on December 30th, 2017.

Sunday, 19 May 2013

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Bán Rẻ Tổ Quốc Cho Kẻ Thù Truyền kiếp Của Dân Tộc


Từ ngàn xưa, nước Việt Nam có chiều dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu. Cha ông chúng ta đã bao đời đổ máu và mồ hôi, nước mắt tạo dựng nên cơ đồ lừng lẫy dưới Trời Đông Á. Từng tấc đất trên núi cao, mỗi con nước hòa trong đại dương đã thấm nhuần hào kiệt uy dũng của tiền nhân; và con cháu hàng hàng, lớp lớp từ đời nọ sang đời kia hiên ngang xây dựng đất nước ngày thêm tươi tốt, chiến đấu đánh đuổi ngoại xâm, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ. Cha ông chúng ta đã khổ công khai sơn phá thạch, bồi sông lấp biển, gầy dựng cho con cháu mảnh vườn sào ruộng, là nơi chôn nhau cắt rốn của đám hậu duệ, là chỗ gửi gấm thân xác tiền nhân lúc mãn phần. Kẻ trước người sau, một lòng sắt son tô điểm sơn hà trong niềm kiêu hãnh của dòng giống Lạc Hồng. Quê Cha đất Mẹ là vành nôi ấp ủ tình tự quê hương, là bầu sữa ngọt ngào nuôi dưỡng đàn con Việt tộc. Đàn con của Mẹ Việt Nam bám lấy sào ruộng, ôm lấy mảnh vườn là hương hỏa của ông cha khó công gầy dựng như mầm sống của từng thế hệ.
Đất nước ta đã bao lần đánh đuổi quân xâm lược Bắc phương. Lời thề Diên Hồng còn âm vang trên núi cao. Tiếng hò Sát Đát vẫn xé gió tung bay ra bốn bể.
Nhưng đau đớn tủi nhục, xót xa, ngậm ngùi ! Đảng cộng sản Việt Nam đã ký hai hiệp định về biên giới với Trung cộng vào ngày 30-12-1999 và 25-12-2000. Hai hiệp định này đã cống hiến một phần đất đai ở tuyến cực Bắc tiếp giáp với Trung cộng, và một phần lãnh hải vịnh bắc Việt cho Trung cộng. Biên giới Trung-Việt đã lùi sâu vào lãnh thổ Việt Nam nhiều chỗ đến 12 cây số. Ải Nam Quan không còn nữa. Thác Bản Giốc cũng không còn nữa. Vịnh Bắc Việt đã mất thêm đến 10%. Quê hương Việt Nam đã mất một phần đất đai nơi đó là tổ ấm của nhiều dòng họ từ bao nhiêu đời. Tổ Quốc Việt Nam đã mất đi Hoàng Sa - Trường Sa, là mất đi một phần biển có nhiều dầu khí.
Ngày 27-12-2001; lễ cắm cột mốc thi hành những điều khoản của hiệp định được tổ chức và chiếu trên hệ thống truyền hình toàn quốc. Con dân nước Việt ở khắp mọi miền đất nước thắp nhang hướng về địa đầu tổ quốc khấn nguyện anh linh, tiên tổ, sụt sùi rơi lệ.
Lịch sử nước ta ghi chép, Việt tộc đã nhiều lần đứng lên đánh đuổi quân xâm lược hung hãn phương Bắc. Ngay cả lúc cha ông chúng ta ở trong thế yếu kém nhưng chưa hề bao giờ phải cắt đất nhượng biển cho quân ngoại xâm. Vậy cớ sao đảng cộng sản Việt Nam lại cúi đầu tuân phục mệnh lệnh của quan thầy cộng sản Tầu cắt đất của tổ tiên, xé biển của Tổ Quốc cống hiến cho kẻ thù phương Bắc ?!
Có nhiều giả thuyết được nói đến để tìm hiểu hành động phản phúc của đảng cộng sản Việt Nam. Trước hết, là món nợ khổng lồ đã vay mượn của Trung cộng để tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Cộng Hòa. Sau đó là sự đền ơn đáp nghĩa đối với một đàn anh cộng sản khổng lồ ngay sát nách, có đủ khả năng để bảo đảm sự an toàn của tập đoàn thống trị Hà Nội. Vì muốn nắm giữ đặc quyền, đặc lợi và đủ sức mạnh để khống chế, áp bức những người cùng huyết thống, đảng cộng sản Việt Nam đã táng tận lương tâm cắt đất, nhượng biển cung phụng những đòi hỏi quái ác của bọn cộng sản Tầu.
Hồn thiêng sông núi Việt, anh linh tiên tổ ngậm ngùi đau xót nhìn những đứa phản tặc vô ơn bạc nghĩa, mang cả gia tài của ông cha đem cống hiến cho ngoại nhân để nắm giữ quyền hành và từ đó, áp đặt một thứ chủ nghĩa độc ác phi nhân xóa bỏ tình tự đạo lý dân tộc.
Đảng cộng sản Việt Nam đã hiện nguyên hình trọn vẹn chỉ là một công cụ vô hồn của một thế lực còn rơi rớt lại của khối cộng sản thế giới.
Phường nghịch tặc của Tổ Quốc đã chỉ vì quyền lợi của bè đảng và cá nhân đã không từ nan bất cứ một hành động phản trắc nào, hầu chỉ cần nắm giữ được quyền hành và tài sản tiền bạc của quốc gia.
Hỡi các bạn trẻ Việt Nam! Giang sơn gấm vóc mà tổ tiên chúng ta đã khổ công khai phá và xây dựng đã bị đảng cộng sản Việt Nam cắt xén dâng hiến cho Trung cộng. Còn nỗi nhục nhằn cay đắng, rách gan, đứt ruột nào hơn; các bạn đã khóc ra máu mắt nhìn bọn thảo khấu bán nước toa rập với lũ giặc phương Bắc đóng những cái mốc ngay trên phần đất hương hỏa của bao dòng họ. Các bạn đã uất hận nghẹn ngào nhìn mồ mã tiền nhân đang bị những bước chân xâm lăng của kẻ thù truyền kiếp giầy xéo. Đảng cộng sản Việt Nam vì nhu cầu sống còn đã nhẫn tâm bán rẻ tổ quốc cho bọn giặc thù phương Bắc.
Các bạn là những sinh viên đang miệt mài đèn sách nơi trường lớp. Các bạn là những viên chức nhà nước đang bị trù dập vì đoàn đảng và bọn tham ô nhũng lạm. Các bạn là những công nhân đang bị hành hạ tức tưởi bởi bọn thực dân mới Đài Loan, Hàn quốc… Các bạn là những người lính đang ngày đêm gian khổ, nhưng bị đảng cộng sản Việt Nam không cho được bảo vệ đất nước. Các bạn là những người lao động đang gục đầu nhục nhằn vì miếng cơm manh áo. Các bạn là những người buôn thúng bán bưng đang cay đắng vì nghèo đói bệnh tật.
Các bạn, tất cả hãy ngạo nghễ đứng lên, cùng một lời thề ước, tay trong tay bứt phá xích xiềng nô lệ tư tưởng, tù đầy, cơm áo và thoát ra khỏi bàn tay ác độc của kẻ thù tuyền kiếp phương Bắc.
Các bạn trong quân ngũ hãy quay súng lại làm tròn nhiệm vụ của Tổ Quốc và đồng bào trao phó; các bạn hãy nhận lãnh trách nhiệm với tiền nhân, với đồng bào và lịch sử; cùng nhau vùng lên đạp đổ một chủ thuyết tàn ác do đảng cộng sản Việt Nam áp đặt để độc quyền thống trị.
Các bạn cứ nhìn xem chung quang mình, bọn cán bộ chức quyền giầu có đến mức nào, trong khi bản thân các bạn đang lây lất rau cháo qua ngày. Xương máu của các bạn đang đổ ra con cháu bọn cán bộ đốt tiền bên trời Âu-Mỹ. Mồ hôi nước mắt của các bạn đang đổ ra cho đám chức quyền cao cấp nạp những đồng tiền thuế của dân vào cái túi không đáy của bọn nhà thổ. Tài sản quốc gia đã bị các quan chức lãnh đạo đản cộng sản trấn lột và hiện cất giữ ở các ngân hàng ngoại quốc.
Lớp người trẻ ở Liên Sô cũ, các quốc gia Đông Âu và các nước Á Phi đã đồng loạt đứng lên. Họ, với sức mạnh hào và khí của tuổi trẻ, họ đã làm nên đai cuộc. Các bạn hậu duệ Quang Trung, con cháu Trưng-Triệu lẽ nào nhắm mắt xuôi tay nhìn Tổ Quốc bị đảng cộng sản Việt Nam đem bán rẻ cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, nhìn đồng bào thân yêu triền miên trong nghèo đói, bệnh tật và dốt nát.
Đức Hưng Đạo Vương ba lần đại phá quân Nguyên đã thống thiết trong Hịch Tướng Sĩ:
"Chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giầy xéo, mà phần mộ cha ông của các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào, chẳng những thân ta kiếp lưu đày chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là những người bại trận".
Các bạn hãy đứng lên !
Hùng tâm dũng khí của những người trẻ Việt Nam sẽ cứu nước và dựng lại nước. Nước Việt Nam phải là một dãi đất gấm hoa của tự do dân chủ. Người Việt Nam hào hùng phải được quyền sống trong những điều kiện bình thường của con người. Các bạn là vốn liếng quý giá của nòi giống Việt. Các bạn là tài sản trân quý của dân tộc. Các bạn là nguồn cậy trông, là niềm hy vọng của tiền nhân và đồng bào ruột thịt. Các bạn hãy đứng lên tiêu trừ đảng cộng sản Việt Nam, xóa sổ bọn tôi đòi của kẻ thù phương Bắc. Các bạn sẽ không đơn độc. Đồng bào ở trong cũng như ngoài nước luôn sát cánh bên các bạn bằng nhiều cách… Các quốc gia và những người yêu chuộng tự do dân chủ, tôn trọng hòa bình công lý trên toàn thế giới sẽ cùng đứng bên với các bạn. Các bạn hãy ngạo nghễ đứng lên !
Trương Phú Thứ
------------
 

ẢI NAM QUAN NGÀY XƯA CỦA CHA ÔNG NƯỚC VIỆT KHÔNG CÒN NỮA


LGT: Những bức ảnh của tác giả Chân Mây trong tập ảnh "Ô Nhục Ải Nam Quan" là những tài liệu lịch sử vô cùng giá trị. Chúng nói lên sự bán nước trắng trợn của chế độ cộng sản Việt Nam.
Xem hình mà bồi hồi, quặn thắt, một nỗi ray rứt thức dậy trong hồn. Cám ơn tác giả Chân Mây đã cung cấp những dữ kiện cho ngàn đời sau biết được những gì xẩy ra cho dân tộc hôm nay, để không quên tội ác của tập đoàn Việt gian phản quốc Hồ Chí Minh đối với đất nước và dân tộc.Xin trân trọng giới thiệu tập ảnh "Ô Nhục Ải Nam Quan" của tác giả Chân Mây đến cùng quý độc giả trong ngoài nước.
Ven trời góc biển buồn chim cá
Dạn gió dày sương tủi nước non

Thượng Tân Thị

#
Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam!
Từng cây số trên quê hương là từng giòng máu lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan hòa vào nhau trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn.
Hãy tiếp tục nhìn những gì mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lãnh thổ Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh cãi, biện luận với dân Việt thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ
tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rõ hình hài là một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại! Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay vì tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu bằng hình ảnh. Bởi vì, đã có rất nhiều nghiên cứu công phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đã là qúa đủ để khẳng định
“Ải Nam Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của Đảng CSVN!”. Những hình ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rõ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi không còn ngày phải tôn thờ hỉnh Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ còn là một kỷ niệm buồn. Rất buồn!
Hãy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là mãi mãi!

#

Chương I
NHỮNG HÌNH ẢNH LỊCH SỬ
Trong chương này, việc sắp đặt hình ảnh về Ải Nam Quan sẽ dựa theo sự thay đổi của lối kiến trúc v.v. mà phân chia thành các nhóm hình theo ký tự A,B,C… Để sự diễn tả rõ ràng hơn, những hình ảnh bên phía Trung Cộng (hoặc Trung Quốc theo thời đại) sẽ gọi là “Trấn Nam Quan” “Mục Nam Quan” v.v…; ngược lại, nhũng hình ảnh bên phía Việt Nam sẽ gọi là Ải Nam Quan hoặc cổng Nam Quan theo đúng tinh thần lịch sử. Phân chia như sau.
- Nhóm A: họa đồ “Trấn Nam Quan” của Trung Quốc (đánh số A1 đến A4)
- Nhóm B: có chung kiến trúc (đánh số B1 đến B4)
- Nhóm C: có chung kiến trúc (đánh số C1 đến C4)
- Nhóm D: có chung kiến trúc (đánh số D1 đến D2)
- Nhóm E: không xác định (E1 đến E3)
- Nhóm F: hình quân sự và bản đồ (đánh số F1 đến F6)
- Nhóm Phụ ảnh: Một số phụ ảnh bất định sẽ đưa trực tiếp vào nơi hình cần thêm minh họa.
Diễn tả
1, Nhóm hình A:
Trước hết, ta có hai bức họa theo lối sơn thủy về hình ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Trung Quốc). Niên đại của cả hai được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)
A1. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (1) Còn gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (Họa đồ bố trí phòng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh). Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan bên trong nội địa Trung Quốc. Địa hình đồi núi khái lược. Cổng ra vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có đóng khung).A2. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (2)
Các vị trí đóng quân của nhà Thanh nhìn từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo hình B1) do người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Trung Quốc vào thời đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dãy tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dãy tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Trung Quốc. Các điểm này tương xứng với bưu ảnh (B1).
#
A3. “Trấn Nam Quan Đại Chiến” Minh họa cảnh giao chiến giữa quân Pháp và quân Thanh tại cổng Nam Quan vào năm 1885. Niên đại của bức họa không rõ, nhưng ta thấy tường thành có kiến trúc giống cổng Ải Nam Quan của hình A2.
#
A4. “Trấn Nam Quan Đại Lâu Đồ” Mô tả cảnh quân Pháp rút quân và binh lực quân Thanh tại Trấn Nam Quan. Hãy quan sát vị trí cổng theo khung hướng dẫn trong hình.
#
2, Nhóm hình B:
Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.

B1. Ải Nam Quan nhìn từ độ cao ở Đồng Đăng Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đã thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đã nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đã bị phá hủy nên được xây lại không còn qui mô như xưa.
Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên vì dựa theo hình phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm hình C).

#

Phụ ảnh: (B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.
#
B2. Ải Nam Quan nhìn từ hướng Đồng Đăng
Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới hình là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo hình F1 sẽ thấy rõ vị trí lô cốt nhìn từ bên Trung Quốc).
#
B3. Bang giao tại Ải Nam Quan
Quan sát các nhân vật trong hình, ta thấy ở cạnh trái có binh lính Việt Nam đứng thành hàng dài. Giữa cổng đi ra là hàng phu khiêng kiệu đội nón vải rộng vành của quân nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh phải của hình có những người nhà Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam. Có lẽ đang diễn ra một sự kiện nào đó trong lịch sử bang giao tại Ải Nam Quan.

#
B4. Cổng Ải Nam Quan Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao ngất ngưỡng. Hoang tạnh. Trong lời nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng được tu phục vào năm 1908. Nhật ấn “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành chỉ còn dấu thang bậc đi lên để so sánh với tường thành phía bên Trung Quốc (nhóm hình C).
#
Phụ ảnh: Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng

#
3. Nhóm hình C
C1. Trấn Nam Quan (1)
Nhìn từ bên Trung Quốc. Kiến trúc ở đây đã khác. Phần mái ngói lớn phía dưới đã mất, chỉ còn lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng khác. Chỉ có dãy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1907. Để dễ phân biệt với nhóm hình chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác nhau của địa hình đồi núi.
#
C2. Trấn Nam Quan (2)
Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành chia theo lô khác với hình thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rõ bên phía Trung Quốc cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh sự dòm ngó thẳng vào nhà mình từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến trúc cổ của Việt Nam từ đình làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm này). Theo sử liệu Trung Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương trình khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đã xây trên nền này một văn phòng quản lý cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm 1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên còn gọi là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn còn tồn tại cho đến nay.
#
C3. Toàn cảnh Trấn Nam Quan
Có một khu trại và hai dãy nhà mái lá cách xa với cổng lớn ở cạnh tâm phải của hình. “Trấn Nam Quan” là đây! Khởi nghĩa Tôn Trung Sơn là đây! Khu di tích này giờ chỉ còn là ruộng nước, gọi là “khu di chỉ Trấn Nam Quan Khởi Nghĩa”. Các khung trong hình dùng để xác định vị trí so với hình C4.
#
C4. Trấn Nam Quan (3)
Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rõ ràng đây là khu làng mạc (Trấn) trong đất Trung Quốc. So sánh các khung vị trí với hình C3:
Dãy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm trái của hình là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng.
#
Chữ “Trấn” trong văn tự trung Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”, “trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc gìn giữ, ổn định. “Trấn” còn là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời xưa tại Trung Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm trong nội địa Trung Quốc. Thì đây, “Trấn Nam Quan” đã xác định là những hình này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan binh, hai dãy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh hoạt yên bình. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam Quan phải gọi là Bắc Quan”. Chữ “Nam Quan” là do Trung Quốc kiêng kỵ Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngõ giao thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đã thủ lễ với nhau bằng khoảng trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Trung-Pháp thì nhà Thanh đã chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách của hai cổng trong nhóm hình B.4, Nhóm hình D
D1. Cổng Nam Quan (1) Đây là một kiến trúc khác hẳn so với các nhóm hình trên. Có vẻ sơ sài vì đã mất hẳn phần kiến trúc phía trên trong cuộc nội chiến tại Trung Cộng vào năm 1949. Ta thấy có dáng một nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên bưu thiếp “NAM QUAN (Tonkin)…” đây là bên phía Việt Nam khi qua cổng nhỏ để đứng sát với cổng lớn (vào lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ cũng đã mất). Theo sử liệu Trung Cộng, trong cuộc giao tranh vào năm 1949 thì toàn bộ phần trên cổng đã bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo hình E2).
#
D2. Cổng Nam Quan (2)
Hình đăng trên tạp chí “National Geographic” do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng và không rõ niên đại. Một số bạn nghi ngờ bức ảnh này không chính xác với hình ảnh của Ải Nam Quan. Tuy nhiên, so sánh với hình D1, ta đã thấy kiến trúc cùng kiểu của hai hình. Tại đây, dãy tường thành chạy lên cao đến vách núi trắng tương ứng với hình C3-C4, có thể xác định là hình được chụp từ cao điểm bên phía Việt Nam.
============================
 


http://images.yume.vn/blog/201202/23/1329931606-1329931293_image-large-174370zluw.jpgKHÓC NAM QUAN

Nhớ nước nhìn mây, vọng núi rừng
Tin buồn dâng đất lệ rưng rưng
Ngậm ngùi ta khóc Nam Quan ải
Em có bao giờ khóc núi sông !
Ta nhớ Nam Quan tắm máu thù
Đầu non lẽo đẽo bóng trăng thu
U hồn thấp thóang sương thu lạnh
Vó ngựa chinh nhân cát bụi mù
Ta nhớ Nam Quan nắng hạ vàng
Chiến bào nhuộm đỏ máu sài lang
Tống triều, Minh đế, Nguyên Mông cổ
Phách lạc hồn kinh hết bạo tàn
Ta khóc Nam Quan dâng hiến Tàu
Biên thùy nghi ngút chuyện thương đau
Quê người ta khóc quê hương mẹ
Năm tháng lưu vong vạn cổ sầu
TÔN THẤT XỨNG
lính thủy ,sưu tầm và minh họa.

0 comments:

Post a Comment

 
Web Statistics