Sunday, 10 May 2026

KHÓC VÀ NƯỚC MẮT

 Khóc là nguồn cảm hứng và là chủ đề của rất nhiều bài thơ, bản nhạc của các văn nhân, thi sĩ và nhạc sĩ..   Trong số hàng trăm bài thơ về Khóc, Giới ‘Dao cầu thuyền tán’ ưng ý  nhất là bài thơ “Khóc chồng làm thuốc” của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương với những câu thơ có những tên các vị thuốc Bắc trong bài như cam thảo, quế chi, trần bì..

    Về nhạc, có những bài hát nổi tiếng như “Khi người yêu tôi khóc’ (Trần Thiện Thanh), ‘Sang ngang (Đỗ Lễ); Khóc Thầm (Lam Phương) và còn rất nhiều bài khác..

    Văn học Pháp có bài thơ ‘kinh điển’ mà các học sinh học Chương trình Trung học Pháp đều đã phải học qua: ‘Il pleure dans mon coeur’của Paul Verlaine.

    TMQ xin gửi đến quý vị bản dịch của 2 bài về Khóc, qua cách nhìn của các nhà khoa học, sinh-tâm lý học:

* Je pleure sans raison: 7 raisons les plus communes (Comité Psychologue.net).

* Pourquoi est-on fatigué après avoir pleuré (Science & Vie 30 septembre 2023).

  Các bài dịch được Bà Giáo bên Tây hiệu đính và giúp sửa chữa những từ chuyên môn tiếng Pháp. Xin cám ơn sự cộng tác của Bà..

1- Tại sao chúng ta khóc?

               Hình: Psychologue.net 

..: Có rất nhiều lý do để chúng ta khóc và khóc còn có những ý nghĩa khác nhau tùy theo tuổi đời’’ :

* Khi còn nhỏ lúc sơ sinh, bé khóc để biểu lộ sự gắn bó (comportement d’attachement) mà bé muốn luôn được gần mẹ cha, cần đến sự quan tâm và săn sóc của bố-mẹ..

   Theo thời gian, tiếng khóc có khuynh hướng biểu lộ những ý nghĩa khác nhau, ví dụ, chúng ta bật khóc khi chúng ta thấy thương tâm, nghĩ đến người  đang  đau khổ, do quan tâm (empathie) đến họ (theo lý thuyết tâm-sinh-lý) ;..

* Có một số nghiên cứu chú trọng đến vai trò của nước mắt và cho rằng: Nước mắt thay thế cho tiếng khóc của trẻ em, nước mắt có thêm ưu điểm là tạo được sự chú ý của những người lớn mà trẻ có những liên hệ tình cảm thân thiết.

* Nơi người cao niên, ngược lại, có thể họ chảy nước mắt trong những trường hợp cảm động do nhận thức lại được những hình ảnh quá khứ kèm theo với những cảm xúc sâu đậm.

      Nhưng khóc có ý nghĩa gì nơi người trưởng thành?

1- Khóc trong Tâm lý học:

       Các nghiên cứu về khóc liên hệ đến nhiều bộ môn khoa học: từ môn thần kinh/tâm lý học (neuroscience) đến các môn sinh học và  qua tâm lý học.. Giá trị của khóc cũng  có  những ý nghĩa khác biệt (différentes connotations) theo thời gian..

      Khóc, theo cách nhìn của tâm lý học, không chỉ tạo ra do một biến động, do một hậu quả bất thường xảy ta, nhưng cần phải có một yếu tố bẩm chất (predisposition) tâm lý sẵn có:

 “Chúng ta không khóc trước một bi kịch tự phát, nhưng do chúng ta đã có ý thức để so sánh ‘một cách nào đó’ với những gì chúng ta đã từng thấy (?) và nhớ lại những gì chúng ta từng trải qua, từng có kinh nghiệm trong quá khứ..”

   Một số nghiên cứu đã chú trọng tìm cách giải thích ‘tại sao chúng ta khóc?’, Khóc vào trường hợp nào? và tìm các đặc điểm cá nhân đã ảnh hưởng đến sự khóc của người trong cuộc..

   Tiến sĩ Ad Vingerhoets (2013), Giáo sư môn Clinical Psychology tại ĐH Tilburg (Hòa Lan)  đã mô tả một số lý do gây ra.. khóc:

* Đau  thể xác (physical).

* Đau liên quan đến ‘gắn bó’ tâm lý  (‘attachment’).

* Những giọt lệ đồng cảm (empathy) và trắc ẩn (compassion).

* Những giọt lệ liên quan đến các vấn đề xã hội.

* Giọt nước mắt khóc cho luân lý hay xúc cảm..

Larme gif

   Về khuynh hướng cá nhân, theo Vingerhoets, “Phụ nữ Tây phương khóc nhiều hơn Nam giới từ 2 đến 4 lần! 

 Phái Nữ thường khóc trong những tình huống mâu thuẫn, trái nghịch (conflict), trong khi phái Nam lại khóc khi bị kích động, trong các tình trạng ‘tích cực khóc vì.. sướng?’

Không có sự khác biệt giữa 2 phái khi khóc do phản ứng, trước một sự mất mát hay bị ruồng bỏ (rejet)..

   Tần suất Khóc (Frequence des pleurs) không chỉ chịu ảnh hưởng về giới tính hay cá tính, nhưng cũng còn chịu ảnh hưởng của những yếu tố khác như: tuổi tác, tính nết, tổn thương đã từng chịu trong quá khứ, văn hóa, sự kiện xảy ra trong tình yêu, liên hệ xã hội và có thể còn có thêm những vấn đề sinh học như thiếu ngủ, mệt mỏi, trầm cảm và.. uống rượu..

    Các  khác biệt kể trên có thể xảy ra do những lý do sau:

* Différences d’exposition aux situations émotionnelles:

        (Khác biệt về bối cảnh trước những tình thế tạo xúc động).

   Lý do này không chỉ tùy thuộc vào trình độ văn hóa (thường trong trường hợp quý bà khi chọn các phim tâm lý tình cảm buồn), nhưng cũng có thể xảy ra cho người có trình độ văn hóa cao, làm những công việc chuyên môn (như những phụ nữ làm công việc xã hội và ngành phục vụ sức khỏe) (trong khi nam giới thường làm việc trong các ngành nghề kỹ thuật)..

  Trong các sự kiện về tâm lý: Phụ nữ dễ bị ảnh hưởng do các trường hợp chấn thương tâm lý trong mối quan hệ (trauma interpersonnelle), và các rối loạn cảm xúc (troubles emotionnelles).

* Khác biệt thứ nhì tùy thuộc vào cách thức cảm nhận  một vài  sự kiện dưới những dạng xúc động khác nhau.  Sự tức giận nơi phụ nữ có thể biểu lộ qua tiếng khóc; trong khi đó sự tức giận được biểu lộ khác hơn nơi nam giới..

* Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một giả thuyết về ‘ngưỡng nhỏ lệ’ (seuil de pleurs) dựa theo ngưỡng cảm giác đau, cho là do ảnh hưởng phối hợp của các yếu tố cơ thể, tâm lý và kích thích tố?

* Sự chấp nhận của xã hội, thành kiến về..‘nước mắt’ ..Thường giọt lệ nam giới ít được chấp nhận (khóc là hèn!), nhưng giọt lệ của nữ giới lại được xem như biểu lộ của cảm xúc và tình thương.

2- Quand je me sens triste et que je pleure: Pleurer comme exutoire et expression.

     Một số nghiên cứu khác đã thử tìm cách đưa ra những bằng chứng, cho thấy ngoài vấn đề khác biệt giới tính, còn có những trường hợp chúng ta cảm thấy buồn và  khóc..là để cho vơi nỗi buồn, để cảm thấy thoải mái hơn?

William H Frey, một nhà sinh-hóa và nghiên cứu (thập niên 1980s), đâ giải thích về lý do nước mắt giải tỏa được trầm cảm, loại bỏ độc tố và giảm huyết áp.

     Nghiên cứu của  Frey, đã giải thích: Nước mắt cảm xúc (larmes emotionnelles), (khác với nước mắt chảy khi bị thương cơ thể như đứt tay, hay khi chảy do bị cay vì thái hành), có chứa những protein, giúp ích cho tiến trình lành bệnh, phục hồi sức khỏe.

  Những nghiên cứu gần đây, đã tái xác định được một số kết quả và tác dụng trị bệnh của nước mắt: Khoảng 70% những người được phỏng vấn xác nhận  là khóc mang lại lợi ích, và 50% cho rằng họ có những cảm xúc tích cực hơn sau khi.. khóc.

   Trong phạm trù trị liệu, tác động ‘tích cực’ của khóc, được xác nhận là: khóc giúp cho những người không thể bộc lộ nỗi lòng, có cơ hội để giải tỏa những đè nén tâm lý.

   Có thể nói rằng:

* Khóc và Nước mắt, về phương diện sinh-lý-học (physiologique), là để bảo vệ và giữ cho mắt được sạch.

* Về phương diện sinh học (biologique), khóc giúp tiết các endorphins qua nước mắt và có những tác động tốt cho cơ thể.

* Theo Frey, khóc cảm xúc, giúp giảm được stress, đè nén trầm cảm.

* Nước mắt giúp trị một số loại chấn thương và giúp bày tỏ những cảm giác đau (không thể biểu lộ được bằng các dạng khác).

Khóc sẽ tốt, khi khóc liên hệ đến một số điều kiện xảy đến cho cơ thể, và khóc có lợi như một dạng giải thoát và biểu lộ cảm xúc; Trong một số trường hợp khác, khóc có thể là một đáp ứng cho các vấn đề xã hội, văn hóa ..
   Nhưng khóc, khi không biết tại sao, không lý do.. lại có thể là dấu hiệu của suy sụp tinh thần, căng cẳng cảm xúc quá mức.. (détresse émotionnelle)?

 “Khóc đi Em..khóc nữa đi Em” (Lam   Phương).

3- Styles d’attachement (Kiểu, phong cách gắn kết) et les pleurs (và khóc).

   Dựa theo lý thuyết théorie de l’attachement, của Bowlby: có những style (kiểu phong cách) gắn kết khác nhau giữa cha mẹ và đứa bé, để giúp cho sự phát triển một số tập tính, cách xử sự (comportements)  trong cuộc sống gia đình.

   Khuynh hướng dễ khóc (predisposition à pleurer=’mít ướt) có thể tùy thuộc một phần vào style d’attachement giữa trẻ và bố-mẹ.

* Trẻ lớn lên trong “gắn bó an toàn “(secure  attachment) có khả năng dùng tiếng khóc một cách ‘lành mạnh-saine’ để báo khi bị đau và biểu lộ cảm xúc..

* Trong khi đó trẻ trong kiểu “Gắn bó lo-âu/né tránh” (attachement inséévitant’), bất an và lẩn tránh, lại có thể .. khó khóc hơn vì luôn phải tìm cách đè nén cảm xúc..

* Trẻ sống với kiểu lo âu/tùy thuộc (anxiety-dependent) có thể có khuynh hướng thiên bẩm, tự nhiên (propension) biểu lộ bằng dễ chảy nước mắt (aux larmes faciles)?

4- Pourquoi pleure-t-on sans raison? (Tại sao chúng ta khóc không lý do?)

   Truy tìm tận gốc “tại sao lại khóc, khi không có lý do, có thể sẽ tìm được những vấn đề ẩn giấu, liên hệ đến các khủng hoảng tâm lý (détresse émotionnelle) hay những nỗi đau buồn đặc biệt khó biểu lộ.

   Chúng ta hầu như sẽ không khóc vô lý, nhưng chỉ khóc do những lý do được giấu kín, vì những lý do này liên hệ đến một ‘điều gì đó rất sâu đậm mà chúng ta sẽ nhận thức ra  ngay lúc  đầu. Điều quan trọng là cần biết được cái gì đã làm chúng ta cảm thấy buồn khổ, và cần tìm hiểu cái gì đã gây đau khổ, và  cái đó đến từ đâu?

   Thử đặt ra vài lý do:

1- Âu lo: Âu lo có thể là một trong những lý do gây ra ‘Khóc vô lý’. Âu lo tạo một áp lực tình cảm và cơ thể (stress émotionnel và physique) rất mạnh mà chúng ta thường không có khả năng giải quyết nổi (gérer); dẫn chúng ta đến những biểu lộ khác nhau như một cơn hoảng loạn (crises d’angoisse) hoặc đến những tình cảm buồn thật sâu đậm, để biểu lộ bằng nước mắt..

2- Trầm cảm: Trầm cảm cũng có thể là một lý do gây ra các cơn khủng hoảng (crises) và các cơn chảy  nước mắt (crises de pleurs): Trước tiên là tạo ra cảm giác thật buồn, trống vắng và tuyệt vọng,  để sau đó đưa đến.. rơi nước mắt..

3- Vấn đề nan giải, không thể giải quyết: Mọi người đều đã  trải qua kinh nghiệm đối phó với các vấn đề khó khăn và tiêu cực trong đời sống; nhưng có rất nhiều người không muốn ‘rũ thảm, quét bụi’ và  giải quyết cho xong hẳn vấn đề, hy vọng vấn đề sẽ tự biến đi..Nhưng không may là, việc lờ sự đau khổ (ignorer la souffrance) lại không giúp sự đau khổ biến đi, vì trên thực tế, các xúc động luôn tìm ra một phương thức để tái hiện, trồi lên lại (émerger), qua một dạng rối loạn tâm thần cơ thể (psychosomatique) hay có thể qua những cơn bật khóc có vẻ như không có lý do, nhưng thật sự là chúng ta bật khóc khi tâm trí chúng ta đã nhắc lại, làm tái hiện một tâm trạng mà chúng ta đã từng không giải quyết cho xong trong quá khứ..

4- Traumatisme (chấn thương tâm lý) et séparations infructueuse (chia ly không kết quả): Khi phải đè nén cảm xúc (Réprimer les émotions) trước một mất mát, tang chế, hay phân ly.. có thể đưa đến sự ‘không giải quyết’ cho xong một sự việc đã trải qua, khiến cảm xúc này luôn hiện hữu trong đời sống, dù dưới dạng ghi dấu trong tiềm thức. Tình trạng tiềm ẩn này, có thể tái hiện làm chúng ta đau buồn và bật khóc.. không lý do? Nỗi buồn vẫn còn đó dù chúng ta không hiểu buồn này từ đâu đến!

  Do đó một chấn thương tâm lý cần được điều trị, một mất mát cần giúp để quên.. sẽ tối quan trọng cho sức khỏe tâm thần trong thời gian tiếp tục sống..

5- Kích thích tố và Chu kỳ Kinh nguyệt: Chu kỳ kinh nguyệt, Kích thích tố cũng có thể gây ra khuynh hướng dễ rơi nước mắt (predisposition aux pleurs) và sự buồn rầu hay thông thường hơn là những cơn bực bội, cáu gắt bất thường (sautes d’humeur) suốt trong thời gian có kinh. Đặc biệt hơn, Hội chứng tiền kinh nguyệt (syndrome prémenstruel) có thể được biểu lộ bằng một sự buồn rầu không lý do và kéo dài, đưa đến những cơn bật khóc và những suy nghĩ tiêu cực (thường chỉ kéo dài vài ngày..)

6- Phản xạ quá mức và suy ngẫm quá nhiều (Reflexion excessive et rumination) : Phản xạ quá mức là một dạng của phản xạ ám ảnh (obsessionnelle) về những ý tưởng tái hồi (recurrentes). Phản xạ xuất hiện như đáp ứng cho một vấn đề luôn ám ảnh chúng ta, và do ý tưởng  thúc đẩy chúng ta tìm cách giải quyết..

   Phản ứng tự động này, đột ngột xuất hiện, và theo thời gian có thể đưa đến các suy tư nghiền ngẫm. Trường hợp này có thể liên quan đến sự hiện diện ám ảnh và các suy ngẫm tiêu cực gây tác hại (intrusive).. làm chúng ta bật khóc vô lý.

7- Lý do về cơ thể (physique): Như đã trình bày ở các phần trên, có những lý do về cơ thể, ảnh hưởng đến sự ‘muốn khóc’ như: mệt mỏi, khó ngủ, suy dinh dưỡng, stress và những thói quen không tốt.. làm chúng ta trở thành dễ chảy nước mắt.. thành ’mít ướt’..

* Tại sao sau khi khóc lại có cảm giác mệt? (Science et Vie)

Lý do có thể  giải thích được dựa theo ‘Thần kinh học’ (neurologie):

  Khóc và nước mắt do khóc, có liên hệ đến những cơ chế của stress, vận dụng đến nhiều năng lượng..

      Chúng ta khóc khi chúng ta buồn (mal), khi chúng ta sợ, và cả khi giận dữ.

  Các trường hợp stress gây ra tiết các hormones, các chất chính là adrenalinecortisol.. Các hormones này tiết ra từ những hạch ở nang thượng thận khi giúp cơ thể phản ứng để chống đỡ hoặc thúc dục có thể chạy xa, (một cơ chế di truyền từ tổ tiên nhân loại): làm tăng nhịp tim và nhịp thở, làm giãn nở mạch máu, cuống phổi, đưa máu về bắp thịt..làm cứng bắp thịt, gây lông dựng trên mặt da.. tăng khả năng tỉnh thức..

* Khóc: một cơ chế sinh tồn.

 Các hormones trên cũng tạo sản xuất một dạng năng lượng trực tiếp mà các bắp thịt có thể sử dụng; ATP (Adenosine Triphosphate), từ nguồn  glucose và acid béo dự trữ. Kho dự trữ này bị sụt giảm bất ngờ sau khi có thể phải gắng sức. Nước mắt cũng còn vãn dụng đến các bắp thịt ít bị đòi hỏi phải hoạt động, kèm theo các hoạt động của ngực, của cằm, bắp thịt bên trong cổ họng, gây căng thẳng toàn thân (khóc nức nở?).

   Khi stress  tự giảm (estompe): lượng cortisol trong máu cũng giảm xuống, giảm nhanh hơn nước mắt (vì đã thoát ra).

   Theo các nhà khoa học: Sự giảm các kho dự trữ (stock) năng lượng, cùng sự gia tăng các chất thải do biến dưỡng, tồn đọng lại; kết hợp với việc giảm các hormones của stress tạo thành cảm giác mệt mỏi.. khiến cơ thể cần phải qua giai đoạn ‘tái nạp năng lượng’ (kiểu sạc lại bình điện)?

    Một cách giải thích khác hơn:

‘ Cảm giác Mệt sau khi khóc gây ra do sự phối hợp của một số diễn biến thể chất (physical) và sinh hóa (biochimique), đặc biệt là:

* Kích hoạt hệ Thần kinh đối giao cảm (parasympathetic nervous system PNS), để giúp làm xoa dịu cơ thể..

   (Trong khi các emotional stress khởi động hệ thống Giao cảm, thì khóc lại kích hoạt Hệ PNS. Hoạt động này được xem là một van an toàn (safety valve) giúp làm chậm nhịp tim và tạo thư giãn cùng đem lại cảm giác buồn ngủ).

* Phóng thích các kích thích tố tạo  cảm giác xoa  dịu như  endorphins và oxytocin.

  Nước mắt khóc do xúc động, phóng thích độc tố và các stress hormones như cortisol, prolactin. Cùng lúc đó Não bộ tiết các endorphin và oxytocin, tác động như những chất giảm đau tự nhiên và điều hòa tâm trạng (mood). 

* Giảm, nồng độ oxygen..

   Nức nở khi khóc, nhịp tim chậm lại và đập không đều, thông khí phổi tầng.. có thể làm giảm lưu lượng oxygen về óc.. gây nhức đầu nhẹ và choáng váng.

 Hiện tượng cảm giác mệt mỏi tâm thần tồn đọng ‘emotional hangover’ này là phương thức của cơ thể trở lại trạng thái cân bằng nội sinh (homeostasis),  có khi  gây ra  mệt mỏi bất ngờ và kéo dài..

                  KHÓC VÀ NƯỚC MẮT Trần Minh Quân dịch và bổ sung – Trần Minh Quân

0 comments:

Post a Comment

Vietnamese Heritage Museum

https://www.youtube.com/@VietnameseMuseum/featured