DÂN
TỘC – NHÂN BẢN – KHAI PHÓNG là ba nền Triết lý giáo dục của Việt Nam
Cộng hòa (VNCH) được chính thức xác lập tại Đại hội Giáo Dục Quốc Gia
lần thứ I (1958) và củng cố tại Đại hội lần thứ II (1964).A-Dân tộc: Tôn
trọng và bảo tồn các giá trị truyền thống, gồm lịch sử và văn hóa của
dân tộc. Học sinh học để hiểu rõ nguồn cội, để có lòng tự tôn dân tộc và
để có ý thức trách nhiệm đối với sự tồn vong của tổ quốc.B-Nhân bản:
Lấy con người làm gốc, phát triển nhân cách, tâm hồn và thể chất của cá
nhân. Triết lý này đề cao giá trị thiêng liêng của con người, không biến
người học sinh thành công cụ cho bất kỳ mục đích chính trị hay tư tưởng
hẹp hòi.
C
-Khai phóng: Lấy tinh thần bao dung để khuyến khích và công nhận giá
trị của sự suy nghĩ và phản biện, nhằm tạo điều kiện để học sinh tiếp
thu tinh hoa khoa học kỹ thuật và văn hóa nhân loại. Mục đích là đưa con
người thoát khỏi sự dốt nát và định kiến, giúp cá nhân có khả năng tự
quyết định và thích nghi với sự thay đổi của thời đại
Để
thực hiện được ba triết lý này, chương trình giáo dục thời VNC thiết kế
qua các môn học và phương pháp giảng dạy đại lược như sau:
A. Tính Dân tộc: Môn Văn, Sử, Địa và Hán tự
I/Môn
Sử - Địa: Tập trung vào lịch sử chống ngoại xâm và địa lý các vùng miền
đất nước để bồi đắp lòng yêu nước và ý thức về chủ quyền.
II/Môn
Cổ văn và Hán tự: Môn Việt văn, nhằm vào việc giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt. Học chữ Hán (với các bộ thủ cơ bản) để hiểu sâu hơn về ý và
nghĩa của những từ Hán-Việt, từ đó hiểu biết thêm về cội nguồn văn hóa
qua các tác phẩm cổ điển như Kim Vâtn Kiều, Chinh phụ ngâm, Bích Câu kỳ
Ngộ, Lục súc Tranh Công, Bình Ngô Đại Cáo…
B. Tính Nhân bản: Môn Công Dân Giáo Dục và Đức Dục.
Dạy
về lễ nghĩa trách nhiệm của mỗi cá nhân dối với cá nhân, gia đình, tinh
thần gia tộc; xã hội và tổ quốc, trách nhiệm với đồng bào, xóm làng.
Lòng hiếu thảo, lòng tự trọng, lòng tự tôn dân tộc; Học về cách đối nhân
xử thế. Ý thức về quyền lợi, nghĩa vụ của công dân. Không bắt buộc học
sinh phải theo một khuôn mẫu tư tưởng nào đó, mà khuyến khích sự phát
triển tài năng riêng của mỗi cá nhân
C. Tính Khai phóng:
Trí tuệ được khai mở qua: Khoa học, Ngoại ngữ và Nghị luận
1/Ngoại
ngữ: Ngay từ lớp Đệ Thất (lớp 6). Học sinh được chọn sinh ngữ chính là
tiếng Anh hoặc tiếng Pháp giúp tiếp cận trực tiếp với tri thức thế giới.
2/Triết
học: Ở lớp 12, ban Văn chương được học Triết học (Tâm lý học, Đạo đức
học, Luận lý học và Siêu hình học) để rèn luyện tư duy độc lập và khả
năng biện luận.
3/Cập nhật kiến
thức: Để không bị lạc hậu so với thế giới, chương trình các môn Khoa học
thực nghiệm, được biên soạn. theo giáo trình của các nước tiên tiến.
4/Đi
vào thế giới kiến thức: Lên đến lớp Đệ Tam, năm đầu của Trung Học Đệ II
cấp, học sinh phải chọn ban dựa trên sở trường hay ý thích của mình. Có
4 ban chính như sau:
a.
Ban A (Vạn vật - Khoa học thực nghiệm). Dành cho những học sinh muốn
theo ngành Y, Dược hoặc Nông nghiệp. Môn học chính là Vạn vật (Sinh
học), Lý - Hóa. Đây là ban đòi hỏi sự tỉ mỉ. Học sinh phải giỏi quan sát
thực nghiệm (Khai phóng trong khoa học), vừa phải có tư duy nhân bản để
sau này làm ngành nhân ái cứu người.
b.
Ban B: (Khoa học). Môn học chính là: Toán và Lý, Hóa. Dành cho học sinh
muốn vào sư phạm Toán hoặc Kỹ thuật. Đề thi Toán Ban B nổi tiếng là
cực khó, đòi hỏi tư duy rất cao. Tuy học Toán, nhưng vẫn phải thi Triết
học (dù nhẹ hơn Ban C) để đảm bảo tính nhân bản trong tư duy khoa học.
c.
Ban C (Văn chương - Sinh ngữ). Môn học chính là Triết học và Văn
chương. Học sinh phải học Triết học với thời lượng rất nặng (8 giờ/tuần ở
lớp 12). Đề thi Triết và Việt văn của Ban C luôn đòi hỏi sự sâu sắc,
dùng từ hoa mỹ nhưng luận điểm phải đanh thép. Về ngoại ngữ học sinh
thường phải giỏi ít nhất là 1 trong 2 ngoại ngữ như nếu Pháp văn chính,
thì Anh văn phụ hoặc ngược lại, và phải học thêm Hán tự.
d.
Ban D (Cổ văn - Hán tự). Môn học chính là Hán tự, Mạnh Tử, Khổng Tử….
Ban nầy thường ít học sinh. Dành cho những người đi sâu vào nghiên cứu
văn hóa truyền thống. Học sinh học cách đọc hiểu các văn bản cổ để giữ
gìn gốc gác văn hóa của Dân tộc.
5/Thi
cử: các kỳ thi chuyển bậc học là điều kiện của đoạn dường tôi luyên
nhân tài. Vì thê, ba năm Đệ Nhị cấp (Đệ II), học sinh phải vượt qua hai
kỳ thi Tú Tài. Phải thi đậu Tú Tài I (tú Tài Bán Phần hay Tú Tài 1) tức
lớp Đệ Nhị mới được học tiếp lớp Đệ Nhất để dự thi Tú Tài II (Tú Tài
Toàn Phần). Phải có Tú Tài II mới được vào Đại học dự bị trờ thành nhân
tài, đảm trách vai trò lãnh đạo tham chính trong tương lai. Do vậy, học
sinh không những phải học thuộc lòng mà còn phải có kỷ năng thực sự,
đồng thời phải có nỗ lực mới có thể đạt được chứng chỉ học thuật cao
hơn. Đó là sự khai phóng.
6/Hôi
Đồng Giám khảo: Để tôn trọng tính khách quan và công bằng giám khảo
thường là các giáo sư từ địa phương khác đến chấm thi. (Nhân bản - công
bằng).
7/Đề
thi: chú trọng "Nghị luận" và "Tư duy phản biện". Để độc giả thấy được
ba nền tảng triết lý giáo dục: Dân tộc, Nhân bản và Khai phóng, xin dẫn
chứng vài ví dụ về các đề thi thời kỳ đó:
a/Đề thi môn Công dân giáo dục (Tiểu học - lớp Nhất). Ngay từ cấp nhỏ, đề thi đã chú trọng vào hành vi và đạo đức thực tế:
Câu
hỏi: "Em đi học về thấy một cụ già muốn qua đường mà xe cộ lại đông. Em
sẽ làm gì? Tại sao làm như vậy?". Đây là giáo dục về lòng trắc ẩn (Nhân
bản) và trách nhiệm với cộng đồng (Dân tộc).
b/ Đề thi môn Việt văn (Tú tài I - Ban ABC, năm 1970): Đề thi thường yêu cầu sự cảm nhận cá nhân và kết nối với thời đại:
Đề
bài: Anh/chị hãy bình luận ý kiến sau đây của một nhà văn: “Văn chương
không phải là một món giải trí xa xỉ, mà là một lợi khí để phụng sự con
người và dân tộc”. Đề thi này hội đủ cả 3 tính chất: Dân tộc (phụng sự
dân tộc), Nhân bản (vì con người) và Khai phóng (vai trò của trí thức
trong xã hội).
c/ Đề thi môn
Triết học (Tú tài II - Ban C, năm 1974): Đề thi thường đưa ra những vấn
đề có tính gợi ý, buộc học sinh phải suy luận. Thí dụ:
Đề
bài: "Có người quyết định dựa theo dư luận, có người quyết định dựa
theo tiếng nói của lương tâm. Theo anh/chị, thái độ nào đúng đắn hơn?”.
Đề thi này trực tiếp vào tính Nhân bản (cá nhân và lương tâm) và Khai
phóng (tự do lựa chọn, không rập khuôn theo đám đông). Phụng sự dân tộc,
Nhân bản (vì con người) và Khai phóng (vai trò của trí thức trong xã
hội).
8/ Giá trị của văn bằng:
Văn bằng Tú tài II thời VNCH không chỉ là một chứng chỉ học thuật mà còn
là một "giấy thông hành" quyết định vận mệnh của một thanh niên là cánh
cửa duy nhất vào Đại học và Học viện. Vì chương trình học, và vì tỷ lệ
thi đậu rất thấp (chỉ khoảng 20-30%), nên người có bằng Tú tài II thường
gọi bằng danh từ nể trọng là "Cậu Tú hay cô Tú".
a.
Cánh cửa duy nhất vào Đại học và Học viện Hành chánh dân sự, Sĩ quan
quân đội (Quân trường Thủ Đức, Võ khoa Đà Lạt, Chiến tranh Chính trị, Sĩ
Quan Hài quân Nha Trang, Sĩ quan Không Quân, Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc
Gia…). Đào tạo để trở thành những viên chức chỉ huy.
b.
Đại Học Sư Sư phạm: Đây là lựa chọn hàng đầu của các cô Tú vì phù hợp
với thiên chức và hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, và ra trường có việc
làm ngay. Hoặc thi vào Sư phạm Tiểu học tại các trường Sư phạm Quy Nhơn,
Vĩnh Long... trở thành giáo viên tiểu học.
c. Ngành Y - Dược – Nha khoa và Xã hội là những nghề nhân ái.
9/Hoãn
dịch vì lý do học vấn: Nếu đậu Tú tài II và tiếp tục học lên đại học,
thanh niên được quyền hoãn dịch hàng năm để hoàn thành việc học. Nếu
rớt, họ sẽ phải nhập ngũ ngay
Nếu
chỉ có bằng Tú tài I, đi Sĩ Quan Thủ Đức (Chuẩn Úy). Nếu có bằng Trung
Học Đệ I Cấp đi Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế ra Hạ Sĩ Quan (Trung Sĩ)
D-Các Môn học phụ và sinh hoạt ứng dụng giúp định hình nhân cách
1/Đức
dục và Gia chánh: Ngoài các môn học chính, học sinh còn học thêm về Hội
họa, Âm nhạc, Thể thao. Nữ sinh bắt buộc phải học thêm môn Nữ công gia
chánh (nấu ăn, thêu thùa, may vá, cắm hoa), cách tiếp khách, bày biện
bàn tiệc. giúp họ trở thành những người phụ nữ giỏi nhiều mặt.
2.
Báo chí và Văn nghệ: Các trường thường có giai phẩm Xuân, báo đặc san
do học sinh biên tập, vẽ tranh (hồi đó thường gọi là bích báo tức báo
viết và trình báy trên mốt trang giấy lớn và đính vào bức tường của lớp
học).
3.Thể thao và Xã hội: Học
sinh được khuyến khích chơi các bộ môn thể thao như túc cầu, bóng
chuyền, bóng bàn…. và tham gia các hoạt động xã hội như thăm trại mồ
côi, cứu trợ nạn nhân chiến tranh, hướng dẫn những nhàn lãnh tạo tương
lai vừa có học vấn, vừa có thể chất tốt, và phải có ý thức trách nhiệm
với xã hội.
4.Hoạt động xã hội:
Nhiều nam sinh tham gia phong trào Hướng đạo Việt Nam, hay Gia Đình Phật
Tử học cách sinh tồn, trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, tha nhân
và xã hội; kỹ năng lãnh đạo và tinh thần phụng sự quốc gia
5.Tranh
luận và Diễn thuyết: Các buổi sinh hoạt học đường thường xuyên có những
cuộc tranh luận về lịch sử, thời cuộc, khoa học. Mục đích là rèn luyện
cho học sinh có tư duy phản biện, không chấp nhận những kiến thức một
chiều hay có sẳn.
E.Hệ quả:
Hệ quả về những điểm đặc trưng của nền giáo dục Dân Tộc- Nhân Bản- Khai Phóng:
1.
Tinh thần đoàn kết và Tự hào cội nguồn (Dân tộc): Tên trường là Truyền
thống: Mỗi trường mang tên một vị anh hùng dân tộc (Trưng Vương) hay địa
danh lịch sử, giá trị tôn giáo (Bồ Đề của Phật Giáo hay Thánh Tâm, Sao
Mai của Thiên Chúa Giáo). Học sinh tham gia các buổi lễ tưởng niệm, diễn
văn nghệ về lịch sử dân tộc để bồi đắp lòng yêu nước. Học sinh luôn
được nhắc nhở về tấm gương danh nhân. Họ học để trở thành những "kẻ sĩ"
thời đại mới, có trách nhiệm gánh vác tương lai dân tộc.
2.
Kỷ luật tự giác và Phong thái (Nhân bản). Học sinh được rèn luyện cách
đi đứng nhẹ nhàng, lời nói lễ phép "thưa, gửi". Bộ đồng phục còn là công
cụ rèn luyện sự nghiêm trang và nhân cách.
3. Tính Dân tộc: Giáo sư chỉ là người hướng dẫn, còn học sinh là người chủ động khám phá Ý thức về vai trò của kẻ Sĩ
4.
Tính Nhân bản: Sự công bằng và Tình huynh đệ. Thực tài là trên hết: Ở
các trường học, thì dù con của bộ trưởng hay con của người lao động
nghèo đều ngồi chung một lớp, cạnh tranh công bằng qua các bài thi. Điểm
số là thước đo duy nhất cho năng lực cá nhân.
5.
Tính Khai phóng: Tự do tư duy và Khát vọng dẫn đầu. Tinh thần tự học
với việc tự tìm tòi tài liệu tiếng Pháp, tiếng Anh để giải những bài
toán khó hay đọc các tác phẩm triết học kinh điển.
6.Tình
nghĩa sư đồ và bạn hữu: Sự tôn trọng tuyệt đối dành cho các vị Giáo sư
giúp hình thành nhân cách sống, biết kính trên nhường dưới. Các vị giáo
sư thường không chỉ là người thầy dạy chữ vì trí thức uyên bác, mà còn
biểu tượng cho cốt cách "kẻ sĩ" theo đúng tinh thần Nhân bản và Dân tộc.
7/Xưng
hô: Học trò luôn xưng "con" và gọi "thầy/cô" một cách trân trọng. Ngược
lại, thầy cô thường gọi học trò là "anh/chị" thể hiện sự tôn trọng đối
với những nhân cách đang trưởng thành (Nhân bản) và sẽ là những nhà lãnh
đạo tương lai.
E. Kỷ niệm về trong thực tại.
1/
Những cuốn lưu bút chứa hoa ép thường được cất trong những chiếc hộp gỗ
hoặc trong những quyển sách dày và nặng. Có những cụ ông, cụ bà khi
tình cờ tìm thấy những nhành hoa ép khô, mở lại cuốn sổ lưu bút vẫn thấy
như mới hôm qua. Những im lìm trong cuốn sách cũ sau mấy mươi năm lạc
mất nhau, cảm xúc của những cựu học sinh thường là một sự chấn động tâm
hồn mãnh liệt. Đó không chỉ là tìm thấy một vật kỷ niệm, mà là tìm thấy
lại chính mình của thời hoa mộng. Thời gian ngưng đọng, rồi gương mặt
của "thằng bạn” hay "người ấy" hiển hiện sau màn lệ mỏng manh của tuồi
“cổ lai hi”.
2/
Nỗi bồi hồi về một thời "Nhân bản" và "Lễ nghĩa". Nhìn nhành hoa được
ép tỉ mỉ, họ nhớ về cái thời con người đối xử với nhau đầy trân trọng và
tinh tế. Thấy thương cho bản thân và bạn bè mình đầy hoài bão nhưng rồi
bị cuốn trôi vì những thăng trầm của lịch sử.
3/Nỗi
đau về sự chia lìa, mất mát sau biến cố 1975 là chứng tích tang thương
mà quê hương phải gánh chịu. Hoàn cảnh có làm xã hội thay đổi, nhưng
những giá trị giáo dục về tình người (Nhân bản) và Lòng tự hào về giống
nòi (Dân Tộc) mà họ được học vẫn luôn là điểm tựa tinh thần vững chắc
cho tinh thần Khai Phóng .
4/Nhiều
cựu học sinh định cư ở nước ngoài, trong những lần thấy được kỷ vật,
hay khi thấy một cánh phượng vĩ rơi ra từ cuốn từ điển. Đó là những minh
chứng họ đã từng có một quê hương tươi đẹp và một tuổi trẻ rực rỡ. Vì
vậy, cho đến lìa đời Việt Nam vẫn mãi trong trái tim của họ.
G. Nền Giáo Dục Viết Nên Những Trang Sử Cho Quê Hương Bất Diệt
Ba
nền triết lý giáo dục này là kế thừa và tiếp nối dòng sinh mệnh của
lịch sử Việt Nam điển hình rõ ràng nhất là trong cuộc chiến giữ gìn phẩm
giá dân tộc.
Những
anh hùng Thiếu Tá Ngụy Văn Thà, Thiếu Tá Nguyễn Đình Trí và 74 chiến sĩ
đền nợ nước trong cuộc hải chiến ngày 19.1.1974 giữa Hải Quân VNCH với
Trung cộng. Hay anh hùng Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, Đại úy Nguyễn Văn
Đương, Các quân nhân anh hùng hàng hàng lớp lớp trở về đất Mẹ với phong
thái lãng mạn kẻ sĩ “gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao – Da ngựa bọc thây –
xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên….”. Hình ảnh hào hùng ấy được
một cô giáo ờ An Lộc, tỉnh Bình Long viết lời kinh cẩn nghiêng mình
:”An Lộc địa, sử ghi chiến tích – Biệt Cách Dù vị quốc vong thân.”
Ngũ
Hỗ Tướng Quân Nguyễn Khoa Nam – Phạm Văn Phú – Trần Văn Hai – Lê Nguyên
Vỹ - Lê Văn Hưng, và vô số những bậc cân quốc anh hùng như Trung Tá
Nguyễn Văn Long, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn làm sống dậy những hào hùng của Hai
Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Binh Trọng, Đặng Dung, Nguyễn Tri Phương,
Hoàng Diệu, Trương Công Định, Võ Duy Dương, Phan Tòng và nhiều nghĩa
quân khác trong phong trào Cần Vương, Nguyễn Thái Học của Việt Nam Quôc
Dân Đảng…Tuy không có số liệu tổng kết chính thức cho tất cả các biến cố
lịch sử, vì tinh thần "thà chết vinh còn hơn sống nhục, hay Thà Làm quỷ
nước Nam hơn là vua đất Bắc – và Không thành công thì cũng thành Nhân".
Đó là niềm tín ngưỡng truyền thống của Dân Tộc Việt Nam “Sinh ky1q -
tử quy) là một phần trong truyền thống sĩ phu của Việt Nam xưa nay. Tất
cả đều phát xuất từ lòng tự tôn DÂN TỘC, ý thức NHÂN BẢN và KHAI PHÓNG.
Vì
vận nước, quê hương Việt Nam bị chìm đắm trong khổ nạn cộng sản Việt
Nam, nhưng tin chắc quê hương Việt Nam sẽ trở lại nền tự chủ như đã từng
qua bao thời hưng phế. Khi đất nước rạng rỡ sang trang, thì ba nền tảng
triết lý giáo dục:
NHÂN BẢN – DÂN TỘC - KHAI PHÓNG
lại
tiếp tực trở về trên trang sách, thâm nhâp vào hồn người và trở thành
chất liệu cho ý chí, cho sức mạnh lửa thiêng Dân Tộc Việt Nam
Quàng Tuệ Tống Phước Hiến





0 comments:
Post a Comment