Saturday, 23 April 2022

LÁ CỜ TRONG ĐƯỜNG PHỐ

 

 bút ký của Phan Nhật Nam


Chúng tôi đến Đà Nẵng lúc thành phố đang nằm trong cảnh chết, nhà đóng cửa thành phố vắng vẻ, dây kẽm gai giăng đầy ; biểu ngữ chống chính phủ căng la liệt khắp nơi, thành phố lặng lẽ như một nỗi phản kháng tuyệt vọng, im lặng đáng sợ như một trái bom đã được rút chốt.

Tôi không ngờ được trở về với thành phố tuổi nhỏ trong hoàn cảnh oái oăm như thế nầy. Con đường Khải Định chạy qua đường Ông Ích Khiêm đến chùa Tĩnh Hội giờ này đầy lặng lẽ và nguy biến. Con đường này thuở xưa qua khỏi cầu Vồng ngợp lá Phượng xanh dẫn đến biển, vòng xe đạp học trò lăn đi thần thoại như bánh xe hồng trong cổ tích, nhưng bây giờ thì hết rồi…

Chia lính đi hai bên đường súng cầm tay, áo giáp, nón sắt vì từ một ngôi nhà nào đó biết đâu không có một họng súng hướng về tôi ? Người bắn đó là ai ? Có thể là một người tuổi nhỏ tôi đã biết.

Tạm dừng chân ở cầu Vồng, xuống khỏi chiếc dốc rẽ về phía tay trái, là đường Đông Kinh Nghĩa Thục, trước sân vận động: Nhà của M. Tối mùa đông gió thổi, lá cây Phượng rơi đầy sân. Tôi cùng T và M ngồi cạnh nhau ở bậc tam cấp trước thềm nhà. T thổi khẩu cầm bài Etoiles Des Neiges. Tuổi 17 đẹp như nốt nhạc hoang đường, tình bạn, tình yêu, ước vọng mù mờ của một tuổi mới lớn hòa hợp, se sắt nồng nàn như cơn gió mùa đông làm căng da mặt, nẻ những đường môi rơm rớm hơi máu nóng…

Đà Nẵng bên kia cầu Vồng qua hai ngã tư, nghĩa trang người Pháp trên một đồi cao đầy bóng cây Đại. Tôi trải chiếc blouson trên một mộ bia ngủ thiếp đi trong mùi thơm nồng nồng của hoa Sứ. Trời mùa đông xám đặc như xuống thấp, trên độ cao u ám của nghĩa trang tôi sống như gạch nối của nỗi chết cùng sự sống.

Bỏ nghĩa trang tiến thêm một đoạn, rẽ về phía tay trái: Trường tôi !. Thuở ấy chỉ có một dãy nhà ngang tám lớp. Hàng cây Phượng mới trồng trơ vơ trên nền cát trắng..! Lúc nhập học trời vào Thu, trong lá cây Kiền Kiền đầy bướm ngài sặc sỡ, lũ bướm chập chờn bay yếu đuối như một đời đài các phải chạm vào cuộc sống gió bão nơi chốn này. Lớp học thứ hai kể từ tay trái, bàn thứ hai bên phải, tôi dùng mảnh chai khắc tên trên bàn học với hy vọng một tương lai trở về trong vinh hiển, đi vào lớp học ngồi lại trên chiếc ghế băng học trò mát lạnh, thật im lặng rồi chào người thầy học cũ để đi ra; thành kính như Đại tướng Carnot trong bài học thuộc lòng ngày nhỏ…

Nhưng bây giờ tôi đang trở về trên quê hương thơ ấu và không phải là như vậy. Ngôi trường kia và tôi giờ này quá xa cách và người ở thành phố này có thể đốn ngã tôi trong khoảnh khắc. Đời sống đã giết hết kỷ niệm.

Lệnh tập họp đại đội lại đi về phía chùa Tĩnh Hội vì lực lượng biểu tình từ trong chùa đang tiến ra. Ở Sài Gòn suốt thời gian cuối năm 1964, tôi đã va mặt với đủ các loại biểu tình, đã hiểu thế nào là nỗi chịu đựng của một người lính khi đối mặt với đám đông nhân danh Tổ quốc và Thượng Đế.. Nhưng ở đây thì khác tôi linh cảm đến một sức mạnh bí ẩn làm động cơ thôi thúc một tập hợp thật hỗn độn về một phía chống với Chính quyền. Đằng sau đám đông trước mặt này là gì? Tôn giáo Đảng phái ái quốc cực đoan hay là «mặt trận»?

Tôi không rõ, nhưng với đám đông này tôi không thấy phẫn nộ như ở lần trước V.H.Đ. đường Trần Quốc Toản Sài Gòn, bây giờ là một nỗi buồn rầu mệt nhọc đang tràn đầy…

– Coi chừng tụi nó có súng, có thể chúng tấn công vào anh… – Đám biểu tình dẫn đầu bởi một người mang lá cờ. Gã phất cờ và bắt đầu bằng những lời lẽ khích động, những lý luận thông minh, được diễn tả bằng một giọng hùng hồn đanh thép đầy nhiệt tình. Tôi chóng mặt, người như muốn ngồi xuống với một nỗi xót xa… Dinh, đúng nó đấy, thằng bạn của tôi, thằng bạn của những ngày còn bé đã nuôi dưỡng hoài bão thay đổi đất nước và văn hóa. Không phải là một hoài bão viển vông nhưng là một ước vọng có thật ám ảnh hoài hoài và bây giờ cũng bằng giọng nói đó, ánh mắt đó rực lửa đam mê đầy nhiệt tình, nó đứng trước mặt tôi! Dinh ơi, mầy có biết cho tao không ? Lịnh tấn công được ban ra, tiểu lịnh riêng phải bắt cho được gã cầm cờ, chúng tôi và cảnh sát dã chiến bắt đầu tấn công, tôi thấy nó, thằng bạn của tôi, tóc xõa dài xuống trán, tay nâng cao lá cờ lúc chạy lui. Hình ảnh này giống như một cảnh trong War And Peace do Mel Ferrer đóng. Tôi không phải là Napoléon, nhưng cũng là kẻ chiến thắng trên bạo lực và thằng bạn tôi đang chạy lùi về đằng sau, chưa bao giờ tôi cảm phuc một người trong đời đến như vậy…

Một viên đạn nào đã trúng nó, tôi thấy nó ngã quỵ, cảnh sát dã chiến nhào tới, tôi thấy cánh tay nó đưa lên vùng vẫy, những ngón tay cứng rắn nhưng tài hoa — những ngón tay trước kia mỗi khi diễn tả ý nghĩa hay đọc một câu thơ, nó hoa lên trước mắt tôi…

Đem tình thương dựng nên đời.
Không tro tàn, bếp lạnh
Mỗi độ xuân sang rộn tiếng trẻ thơ cười.

Câu thơ mở đầu cho Đặc san Chỉ Đạo của Thủy Thủ được nó ngâm đi, ngâm lại nhiều lần, những ngón tay dài kia theo câu thơ chuyển động trước mắt tôi… Nhưng bây giờ chỉ còn là những ngón tay tuyệt vọng. Dinh ơi, tôi kêu những tiếng đau đớn trong lòng.

Từ thuở bé tôi vốn đã không thích làm chuyện lớn, nhưng tôi với nó chơi với nhau vì cùng có thái độ thiết tha với những điều mình ưa thích. Những ngày ở Đà Nẵng tôi và nó chưa thân với nhau lắm. Nhưng kể từ những năm về sau, lúc nó về ở lại căn phòng nhỏ cạnh cầu Bạch Hổ , lúc này chúng tôi mới thật cần nhau. Căn gác nhỏ trong mùa mưa lạnh buốt như một thỏi đá, gió từ sông thổi lên luồn qua khe cửa trống trải lồng lộng. Nó ngồi như một kẻ điên, một thứ điên tỉnh láo, tội nghiệp, lảm nhảm kể cho tôi nghe cảnh người ta vớt xác đứa em gái độc nhất của nó — đứa bé gái tóc dài, mắt đen, 12 tuổi, thông minh và xinh xắn như một nàng tiên nhỏ… Nó kể cho tôi nghe cảnh người ta kéo xác em nó vào bờ, rồi nó ôm cái thân thể nhỏ bé ấy vào tay, bế xác em đi thất thểu trong bầu trời đông u ám. Những câu chuyện rời rạc về một người cha, một người gác cổng xe lửa bị lao xương, một đứa em bị bệnh tê liệt, hậu quả của một thứ dương mai di truyền, lâu lâu lên cơn một lần giật bắn người, sùi bọt mép ! Những câu chuyện đó lập đi, lập lại hoài bằng một giọng nói – không – bằng những tiếng hú thất thanh, tuyệt vọng như một loài chó bị trấn nước.

Nhưng trong những ngày tháng thê thảm đó, tôi chưa hề nghe nó một lần than vãn.. Không phải là một thái độ thách đố kịch cỡm, nhưng với một can đảm dũng mãnh, nó vẫn chú tâm dịch cho hết cuốn Condition humain, vẫn nuôi dưỡng những hoài bão tưởng như chỉ là huyền thoại và nhất là về thơ một cách si mê, cùng với tình yêu của một người con gái tên Hà… Sau này có gặp phải những cảnh đời khắt khe, tôi vẫn cắn răng chịu đựng vì nghĩ đến nó, một thằng bạn dị biệt, tài hoa và can đảm đáng kính phục.

Từ đó trở về sau này, tôi không được tin tức gì về Dinh nữa cho đến ngày hôm nay. Không biết vì một chủ quan nào, tôi vẫn nghĩ rằng nó không thể là một người Cộng sản được. Đấy chỉ là một nghệ sĩ mang nhiệt tình vào đời sống và ấp ủ hoài bão làm quê hương lớn lên, tôi tin chắc như vậy. Dinh ơi, lâu quá tao không gặp mày, nhưng tao vẫn nhớ lá thư tình dài hơn hai mươi trang giấy học trò của mày. Nhớ, để nghĩ rằng đấy tuy là tình yêu mơ mộng của một tuổi mới lớn, nhưng đồng thời xác định nỗi nhiệt tình tha thiết của mày, lòng của một người luôn luôn muốn sống cho chân thật. Mấy năm sau này dù mày có vào khu ra báo cho «mặt trận» tao vẫn nghĩ rằng đấy chỉ là một thế sống trong giòng đời sôi nổi và đam mê của mày. Không có một chủ nghĩa Cộng sản nào trong mày hết, chỉ có một lòng tin: Đem tình thương tạo dựng nên đời... Phải thế không Dinh ? Tao là kẻ lông bông, lếu láo ngay cả trong tư tưởng, đối với tao chẳng có gì đáng để gọi là lý thuyết và chủ nghĩa, những hình ảnh của mày để tao nhớ chỉ là những buổi chiều mưa đông, mưa giăng kín mắt song, mày làm thơ để tặng cho Hà viết vào cuốn nhật ký của tao …«Từ đó xa em đời ở trọ…»

Mày chỉ nên làm gã thi sĩ lang thang. Ai có thể biết được một tương lai sau này : Tao biến thành một tên lính chiến thắng, chứng kiến lúc mày ngã xuống cho một quê hương thật đẹp trong hư vô.

Phan Nhật Nam
Đà Nẵng – Tháng 4-1966

 https://baovecovang2012.wordpress.com/2022/03/15/doc-duong-so-1-phan-nhat-nam/6/

0 comments:

Post a Comment

Covid-19 World Daily Update