ATTENTION: UK-ĐẤU TRANH Will Be Permanently Retired on December 30th, 2017.

Saturday, 23 May 2015

Dân Muốn Biết Dòng Hương sao đã đặt tên?


Dòng Hương sao đã đặt tên?
Phanxipăng

1
  Dòng sông ai đã đặt tên?
Để người đi nhớ Huế không quên...
Bài hát kia được nhạc sĩ Trần Hữu Pháp sáng tác năm Nhâm Tuất 1982. Năm sau, Quý Hợi 1983, lần đầu tiên bài hát xuất hiện trên tạp chí Sông Hương số ra mắt. Từ đó đến nay, bài hát dần trở nên quen thuộc với đông đảo công chúng gần xa qua những giọng ca như Đình Văn, Vân Khánh, Hương Mơ, Thanh Hoa, Thu Hiền, Thanh Thanh Hiền, Cao Diệu Hiền, Hồng Thảo, Hồng Anh, Long Nhật, v.v. Âm giai chủ rê thứ, nhịp 4/4 dặt dìu man mác, bài hát thể hiện tình cảm lưu luyến dòng sông Hương nước êm trôi lững lờ chứ nội dung ca từ chẳng hề giải đáp câu hỏi mà nhan đề tác phẩm nêu lên: Dòng sông ai đã đặt tên?
Một năm trước đấy, Tân Dậu 1981, cũng đề cập sông Hương, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết Ai đã đặt tên cho dòng sông? Đây là đoạn kết thiên bút ký nọ: “Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như thế này: con người đã đặt tên cho dòng sông như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hoá và lịch sử".
Về mùi thơm toả ra từ dòng sông kiều diễm, tác giả bài Hương giang hành là Vân Bình Tôn Thất Lương (1887-1951) có cách giải thích khác: "Hương giang phát nguyên từ hai nguồn Tả, Hữu Trạch ở miền thượng lưu tỉnh Thừa Thiên, quanh co gành bãi ruộng vườn, chảy qua Kinh Thành, đến cửa Thuận An rồi ra Đông Hải. Hai bên bờ Tả, Hữu Trạch có giống thạch xương bồ là một vị thuốc quý trường sanh, có mùi thơm, mọc hai bên bờ khe, nước khe lần hoá ra thơm. Hương giang (sông Thơm) bởi đó mà có danh vậy”. Cách giải thích ấy về sau được nhiều người hưởng ứng, chẳng hạn Nguyễn Dược và Trung Hải đã đưa vào Sổ tay địa danh Việt Nam (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2001; trang 130) khi biên soạn mục từ "Hương giang".
Thạch xương bồ được định danh khoa học Acorus gramineus Soland, thuộc họ Ráy (Araceae), là dược liệu được Đông y lẫn Tây y sử dụng. Kỳ thực, loài cây thảo đó có mùi thơm, song trong thực tế, chẳng thể nào khiến nguồn nước ngan ngát mùi thạch xương bồ được.
Cũng nên ghi nhận thêm cách giải thích tên sông Hương vẫn được dân gian vùng Huế truyền tụng, liên quan đến sự tích chùa Thiên Mụ / Linh Mụ và công cuộc định đô tại Phú Xuân. Rằng xưa trên đồi Hà Khê bên tả ngạn sông Hương vốn có chùa Thiên Mỗ, thỉnh thoảng hiện ra một "bà già trời" vào ban đêm mà phán:
- Đời sau nếu có bậc quốc chúa muốn an dân giúp nước thì hãy đến đây cầu thỉnh linh khí!
Năm Tân Sửu 1601, chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) tuần du đến đây. Thấy hình thế núi sông vừa xinh tươi vừa hùng vĩ, lại nghe huyền tích thiêng liêng, chúa Tiên cả mừng, cho tái thiết ngôi già lam và đặt tên chính thức là Thiên Mụ tự. Sau đó, chúa Tiên may mắn gặp "bà già trời" chỉ bảo:
- Hãy đứng nơi đồi Hà Khê, đốt nén hương (nhang) rồi đi xuôi theo bờ sông, tới chỗ nào hương tàn thì đấy chính là nơi định đô vững chắc.
Chúa Tiên vâng lời, tìm thấy địa cục Phú Xuân để tạo lập thủ phủ và cũng từ ấy, dòng sông này được gọi Hương giang.
Chuyện khẩu truyền đó chứa lắm chi tiết hấp dẫn nhưng mâu thuẫn với sự thật lịch sử. Giai đoạn 1600 - 1613, Nguyễn Hoàng dựng thủ phủ ở Dinh Cát (nay thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Kế vị là chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên), năm Bính Dần 1626 dời thủ phủ vào Phúc An (còn gọi Phước Yên, nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên). Năm Bính Tý 1636, chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan) chuyển lị sở đến Kim Long, bên bờ sông Hương, cận kề chùa Thiên Mụ. Kế tiếp, dưới đời chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần), Kim Long cũng là thủ phủ. Năm Đinh Mão 1687, chúa Nghĩa (Nguyễn Phúc Thái) mới dựng thủ phủ ở Phú Xuân.
Tóm lại, cả ba cách giải thích từ nguyên thuỷ danh sông Hương nêu trên đều mang tính giả thiết, truyền thuyết.
2
Vấn đề đặt ra: căn cứ vào nguồn thư tịch khả tín, sông Hương từng mang những tên gì trong quá khứ?
Một tài liệu địa phương chí thuộc loại sớm nhất nước ta là tập 烏州近錄 /  Ô châu cận lục do Dương Văn An biên soạn năm Quý Sửu 1553, dưới triều Lê - Mạc, đã ghi tên dòng sông: 靈江 / Linh giang. Lưu ý rằng sông Gianh ở tỉnh Quảng Bình cũng mang tên Linh giang, nên nếu cần phân biệt thì người xưa gọi sông Gianh là Đại Linh giang. Tuy nhiên, sự trùng tên ấy khiến người đời sau lắm phen phân vân lúc tham khảo cổ thư như trường hợp sau.
Hãy đọc đoạn ghi chép vắn gọn về vùng Thuận Hoá trong tác phẩm An Nam vũ cống tức Dư địa chí của Nguyễn Trãi (1380 - 1442): "Biển là Nam Hải. Vân là núi ở cửa ải. Linh là tên sông".
Nam Hải tức biển Đông. Núi Vân tức Hải Vân. Nhưng sông Linh thì hậu thế hiểu không thống nhất: kẻ bảo sông Hương, kẻ cho rằng sông Gianh. Vả lại, Dư địa chí nguyên là quyển thứ 6 trong bộ Ức Trai di tập, tuy được Nguyễn Trãi soạn thảo năm Mậu Ngọ 1438, song đã có thêm bớt, sửa chữa bởi nhiều lớp nho gia vào các thế kỷ XVI - XVIII. Đến năm 1976, ấn hành Nguyễn Trãi toàn tập, Viện Sử học Việt Nam phải cẩn thận chú dẫn: "Khi nghiên cứu và sử dụng Dư địa chí, vì vậy, phải thận trọng".
Cần thêm rằng trong Plan d' une partie des côtes de la Cochinchine (Bản đồ một phần duyên hải xứ Đàng Trong) do Le Floch de la Carrière - đại uý hải quân Pháp - quan trắc thực địa năm Ất Hợi 1755 rồi về Lorient in ấn năm Đinh Mùi 1787, tên sông Hương được ghi nguyên ngữ sông Huế và chua thêm tiếng Pháp: "Rivière du Roi" (sông Vua). Nhiều tài liệu khác còn cho biết dòng Hương từng mang các tên gọi: sông Lô Dung, sông Yên Lục, sông Bồ Đài, sông Tam Kỳ, sông Trong, sông Cái, sông Dinh.
Trở lại với Linh giang, thuỷ danh được xác định chắc chắn là sông Hương trong pho Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1726 - 1884). Dưới triều vua Lê Hiển Tông, năm Bính Thân 1776, Lê Quý Đôn được cử vào Thuận Hoá giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ. Nhân đó, nhà bác học họ Lê tranh thủ biên soạn Phủ biên tạp lục và đã cẩn thận ghi chép các tên gọi sông Hương thuở nọ: Linh giang, sông Phú Xuân, sông Kim Trà.
Mà Kim Trà là gì? Vốn là một huyện thuộc phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hoá, địa danh Kim Trà xuất hiện chậm nhất cũng từ thời Lê sơ. Trong công trình nghiên cứu Đất nước Việt Nam qua các đời (NXB Thuận Hoá, Huế, 1996; trang 198), học giả Đào Duy Anh khẳng định: "Thời Lê sơ là Kim Trà; chúa Nguyễn đổi làm Hương Trà. Huyện Hương Trà bấy giờ tương đương với đất huyện Hương Trà và một phần huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên hiện nay".
Lấy tên làng, xã, huyện, tỉnh, v.v., để đặt tên con sông ở địa phương là chuyện phổ biến. Một dòng sông chảy qua nhiều địa phương, lắm đoạn mang tên khác nhau tuỳ thuộc vào tên vùng đất. Ví như tại miền Bắc, sông Hồng có những khúc mang tên Mê Linh, Bạch Hạc, Việt Trì là vì vậy. Và khi tên địa phương thay đổi, tên sông ngòi thường theo đó mà đổi thay. Bởi thế, tới đời chúa Nguyễn, sông Kim Trà được gọi lại là sông Hương Trà.
Thuỷ danh nói riêng, địa danh nói chung, trải quá trình lịch sử thường biến đổi theo quy luật: rút gọn nhằm dễ đọc, dễ nhớ, và viết lách lại giản tiện. Hải Phòng là sự rút gọn nhóm từ "Hải tần phòng thủ / Hải dương thương chính quan phòng", về sau còn được rút gọn triệt để trong khẩu ngữ "Phòng". Sông Bằng chính là rút gọn tên địa phương mà dòng nước chảy qua: Cao Bằng. Sông Bôi cũng thế, là tên huyện Kim Bôi (thuộc tỉnh Hoà Bình) đã tắt hoá. Như vậy, sông Hương Trà được rút gọn thành sông Hương là điều hoàn toàn có thể chấp nhận.
Quốc sử quán triều Nguyễn thực hiện công trình Đại Nam thực lục chính biên (Tập I - Bản dịch của Viện Sử học Việt Nam, Hà Nội, 1963; trang 428) từng ghi rõ: "Sông Hương tức là sông Hương Trà".
3
Lần giở thơ văn cổ, chúng ta biết vua Thiệu Trị (1807 - 1847) từng ngự chế bài 香江曉泛 / Hương giang hiểu phiếm (Sáng sớm bơi thuyền trên dòng Hương) đoạn cho khắc bia đá và dựng ven sông, cạnh Phu Văn Lâu, ngay trước Kỳ Đài. Toàn bộ bài thơ ấy cũng được nhà vua chọn in mộc bản trong 御題名勝圖會詩集 / Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập ngợi ca "Thần Kinh nhị thập cảnh" với lời dẫn 香江之水 / Hương giang chi thuỷ / Nước sông Hương đầy tự hào:

0 comments:

Post a Comment

 
Web Statistics