ATTENTION: UK-ĐẤU TRANH Will Be Permanently Retired on December 30th, 2017.

Saturday, 23 May 2015

BÀI CHÒI: Cái của Caesar trả lại cho Caesar

BÀI CHÒI (BỘ BÀI TỚI)
LAIQUANGNAM
Phần I –Tổng quan


               Một trong các thói hư tật xấu của người Việt khó bỏ xuất phát từ những người trong đầu có chút chữ Hán là cố tật “van vái tứ phương”, đội Hán và vọng Hán. Người thất học ngày xưa không được đi học chữ Hán nên không thể nào ra làm quan ăn trên ngồi trước được, nên thấy ai biết chút chữ nghĩa thì lòng thán phục lắm, có khi sợ nữa là khác. Người bình dân ấy đâu biết rằng một ngày làm việc của họ có khi là một tháng lương tích lũy của một vì quan thanh liêm. Gánh nước thì khỏi bồng em. Người ít học đôi khi suy nghĩ và quy Hán thì chúng ta không nói làm gì, bởi ảnh hưởng của họ ít tác hại với quần chúng, lời nói gió bay. Giới được cha mẹ cho ăn học tử tế thì không vậỵ Tầm tác hại của họ lớn hơn nhiều, bởi họ dùng văn tự, dùng uy tín cá nhân với đám người bình dân có khi là phu dân của họ. Họ nói điều càn rỡ xúc phạm đến tiền nhân ta, một khi đầu mình đội Hán quá nặng, tội ác tăng dần theo, tỉ lệ với số sách vở mà họ đã đọc được từ nguồn Hán tộc mà chính họ có khi không hiểu cội nguồn. Với chúng ta đôi khi còn dừng lại tự hỏi đúng sai, với bọn họ nhắm mắt, 100 % tuyệt đúng. Từ cái đầu “mít đặc” đó họ không còn niềm tin vào trí năng của tiền nhân mình. Hể dân tộc Lạc Việt này có vật phẩm gì khiến văn hoá Việt nổi trội mang tầm nhân loại là lập tức có "Người được mẹ cha cho ăn học" /ndmccah./ viết “ bên Tàu đã từng có như thế rồi “, hàm nghĩa rằng Dân tộc ta đang ăn cắp ý tưởng từ Tàu. Tại sao họ không dám nói rõ điều này nếu như họ tin tưởng lập luận của mình đúng? Tại sao phải ẩn dụ câu phỉ báng tiền nhân mình bằng cách lý luận hở đầu lòi đuôi như thế, “ ấm ớ, do vì dẫn dụ sai “ trong lập luận của mình? Họ hèn! Xin cứ nói thẳng điều mà ta suy nghĩ nếu như ta tin ta đúng. Ngày nay thế hệ 1, 5 đòi hỏi mọi việc phải rạch ròi. Của Caesar trả lại cho Caesar. Dân tộc Việt không có gì phải xấu hổ. Vay mượn về văn hoá là chuyện rất đổi bình thường khi mà hiện tượng thế giới phẳng nay đang được phổ cập. "Người được mẹ cha cho ăn học" bằng các lập luận giấy trắng mực đen, moi từ góc kẹt trong kho tàng văn minh Tàu, họ nêu người Tàu đã viết trong sách A, B, C rồi, thậm chí họ viện dẫn ông X, ông Y người Anh, người Mỹ, người Pháp; thấy Tàu chưa thiêng, phải có có cánh Pháp Mỹ kê vào mới thiêng? Họ dùng sách XYZ để củng cố lập luận của mình. Cách làm này tưởng đúng nhưng lại trật bởi chính tác giả Phương Tây kia đã không hiểu rõ nền văn minh của dân tộc Lạc Việt. Thêm vào đó là lập luận họ suy diễn tối hù, dẫn dụ lùng bùng, thật xa, có khi vô cùng “ méo mó “ của chính họ nữa. Người đọc bài viết của họ có khi rối như tơ vò vì không sao phân biệt được đâu là câu nói của ai, và đâu là lời nói của chính tác giả bài viết “ bêu rếu “ đó. Trước bối cảnh ấy, một khi dù lòng rất muốn bảo vệ di sản tiền nhân mình thì nhiều người Việt đành ú ớ do vì chính mình không tìm được bằng chứng khả dĩ thuyết phục được người đọc để mong tìm nơi họ một sự ủng hộ, người Việt có tâm đành bỏ cuộc. Vì sao? Một là vì họ khớp kiến thức tầm chương trích cú của đám kia, hai là quá tốn thì giờ. Ngày nay những lý luận bằng lối văn “ biền ngẫu “ làm rơi lệ người Việt nhưng không có data của ngườiViệtCóTâm này thật khó lòng thuyết phục được độc giả, nếu độc giả đó là một người Việt 1,5 hay một người Tàu lai, cha Tàu mẹ Việt, hay một người Âu Mỹ xưa nay quen luận lý thuần lý, quen nói có sách mách có chứng. Ngày nay chúng ta thừa hưởng một đất nước mà trong đó người Tàu đã dã tâm phá banh, dã tâm quét thật sạch văn hóa cội nguồn Lạc Việt từ thời Hán kéo qua Thời Minh một cách kiên trì. Trước người Tàu Hán phá không sạch thì nay có đám hậu duệ ConTàuLai 50/50 trên đất nước này tiếp tay khiến người Việt tứ bề thọ địch khi đọc lại văn hoá dân tộc mình với những lập luận có thể thuyết phục được người. (1)
 
Xin tạm dừng lại tại đoạn (1) nàỵ
Gần mươi năm trước, có người thuộc lớp đàn anh của tôi là anh Đặng Tiến, từ lâu anh đã nổi tiếng là nhà viết Văn Học Sử hàng đầu của nước ta vào cuối thế kỷ thứ 20, anh đã viết cho tôi các dòng này:
DT gui LQN:
Y ddinh cua anh viet ve^Bai Choi, giai thich te^n cac con bai theo he^tho^ng,la rat hay va ddoc ddao.
Vo Phien dda dat van dde^nay, nhu+ng chu+a giai quyet.( Nguyet san Ta^n Van,Saigon, so 1 thang 4- 1968. Co in lai trong Toan Tap, My,cuon Tap But, 1989, tr277.Anh cho biet ddia chi, toi se photocpy gui.
Ngoai ra Nguyen van Xuan co viet, so+ luot, Tren Nguyet San Va(n, so 2, thang 12-1967.Quach Tan,co ban to+i , trong Nuoc Non Binh Ddinh, Saigon, 1967, tr 444.****
Nhieu ban ca^n nhung tham chieu nay, nen toî man phep chuyen dden nhieu nguoi.Chuc Anh, va ca nuoc Quang Nam Quoc, mot cuoi tuan vui.
Tha^n, va lu bu nhieu chuyen,
DT
Laiquangnam chuyển về unicode:
Đặng Tiến gửi laiquangnam
Ý định của anh viết về Bài Chòi, giải thích tên các con bài theo hệ thống rất là hay và độc đáo.
Võ Phiến đã đặt vấn đề này, nhưng chưa giải quyết ( Nguyệt san Tân văn, SAIGON, số 1 tháng 4-1968 có in lại trong Toàn Tập, Mỹ, cuốn Tạp Bút, 1989, trang 227. Anh cho biết địa chỉ, tôi sẽ photocopy gửi. Ngoài ra Nguyễn Văn Xuân có viết sơ lượt trên NGUYỆT SAN VĂN số 2, tháng 12 năm 1967. Quách Tấn có bàn tới trong Nước Non Bình Định, Saigon, 1967, trang 444.
Nhiều bạn cần tham chiếu này nên tôi mạn phép chuyển đến nhiều người. Chúc anh, và cả nước Quảng Nam Quốc, một cuối tuần vui .
Thân và lu bu nhiều chuyện,
ĐT.
 
Thành thật khai báo cùng ông anh kính yêu của mình.
Lúc ấy 2006, laiquangnam nghĩ mình không đủ sức hiểu hết các ẩn dụ trong cổ Bài Chòi, bộ Bài Tới của tiền nhân; nghĩ rằng sự phân tích mình còn ú ớ, không làm sao chống đỡ nổi lý lẽ của các kẻ Vọng Hán, đội Hán đưa ra lập luận VanVáiTứ Phương. Vào lúc ấy các tên gọi từ trên con bài quá kin kẻ, ví dụ: con bài Tuyết, tại sao lại có sự chuyển biến thành tên gọi là Bạch huê như thế?, hoặc từ Đấu, tên trên con bài Đấu chuyển biến tên gọi thành Nhì Bí, liệu có mối quan hệ gì giữa chúng với nhau không? và còn nhiều điều phải được tìm hiểu cần thấu đáo hơn không? Nay quỹ thời gian đã gần cạn, lúc này không nói ra, đợi đến lúc hoàn hảo thì biết đến bao giờ?! 60 tính từng năm, 70 tính từng tháng, 80 tính từng giờ! Chỉ mong việc làm của mình mang tâm thức tự phát của một sĩ quan đềlô sẽ là động cớ khiến cho AiĐó động tâm và cùng tiếp tục. Trong văn học Việt Nam hiện nay còn quá nhiều điều cần phải được giải mã, cần được làm sáng tỏ. Hãy trả về cho lịch sử những gì mà tiền nhân chúng ta đã “kín đáo gởi vào đó lời dạy khôn dại “ cho thế hệ mai sau. Mong rằng Người Việt hải ngoại hôm nay sẽ là Tổ bốn đời, tổ năm đời …. của các hậu duệ 1,5 ; 1,7 ….1,9999 của mình sẽ để lại chút gì cho cháu chắt của mình có chút lận lưng. Cám ơn ông anh của mình vô cùng. Kính.
Laiquangnam.
 
Nay xin quay trở lại chủ đề chính, bộ Bài Tới.
Bộ Bài Tới vốn là di sản mang dấu ấn của tiền nhân ta. Một di sản ở tầm cao mang tính nhân văn của nhân loại cũng không khỏi bị nạn. Người vận động được sự ủy nhiệm của chính phủ Việt Nam đương thời đứng tên xin UNESCO chấp nhận nó là di sản Văn hoá Thế giới cũng chỉ dám xin chung chung, xin cho Trò Chơi Bài Chòi được công nhận. Trò Chơi Bài Chòi gồm các thuộc tính hát hò, cách chơi bài đặc trưng, lời hô thai tiêu tiếu nặng về khía cạnh âm thanh, âm nhạc, làm sao mà so sánh nổi cái hồn, cái tinh hoa cùng nét nhân bản trong khi phác họa tính nhân loại và nữ quyền của dân tộc mình đi trước thế giới Phương Tây hàng vài thế kỷ đã thể hiện mình trong bộ Bài Tới. Bộ Bài Tới là gì ? Đó là hệ thống tư tưởng “khó hình dung nổi “ của một nước ở châu Á đã bị hiểu lầm rằng “dường như” họ chịu ảnh hưởng nặng nề của văn minh Trung Hoa, nay lộ rõ bản sắc mình xuyên qua bộ tranh hội họa kỳ ảo. Ngôn ngữ hội họa mới là ngôn ngữ chung của nhân loại thì các chuyên gia văn hoá trong nước lại không dám đề cập. Tại sao? Xin mời đọc câu sau đây do Sở Khoa học công nghiệp tỉnh Bình Định ngày nay viết : “..ngược lại đánh bài chòi là hoàn toàn của người Bình Định, người Việt Nam, do người Việt Nam nghĩ ra, không chịu ảnh hưởng nước ngoài nhiều, song cũng phải thừa nhận đã tiếp thu có chọn lọc của loại hình bài diệp tử mã điếu và toàn đố ”http://skhcnbinhdinh.gov.vn/?p=2705.
Tại sao Sở KHCN này lại cạn nghĩ như thế? Rằng ai ăn cắp của ai. Phải gọi là ăn cắp mới đúng tính chất nghiêm trọng của vấn đề. Bởi vì đâu đây có các bài viết cho là “di sản này ” ta bắt chước của Tàu. Vì sao? Rõ ràng nhất từ hai bài viết. Một của Huỳnh Ngọc Trảng và một của bsi Lê Văn Lân, Người Việt hải ngoại.
Bài của Huỳnh Ngọc Trảng được nhiều nguồn trích dẫn đang laị, trong đó có trang báo Tuổi Trẻ, và có lẽ SKHCN tỉnh Bình định đã khớp từ bài viết này? Cho đến bây giờ, 2005, tại Việt Nam vẫn có người nay đang là giáo sư tiến sĩ môn Văn học dân gian vẫn còn phân tuyến Văn Vạn Sách, một cách phân hạng mục xuất hiện từ Võ Phiến khi dựa vào bộ bài “tổ tôm” trên đất Bắc?. Bài viết của Võ Phiến vào năm 1968 tại miền nam Việt Nam như anh Đặng Tiến đã ghi lại. Bài của Võ Phiến bây giờ có thể truy cập dễ dàng tại link: bài Võ Phiến bạn có thể đọc lại link: http://www.gocnhin.net/cgi-bin/viewitem.pl?4775
Bạn sẽ làm gì khi gặp bối cảnh như thế?
Cái gì của Caesar trả lại cho Caesar. Bạn OK?

****

I- Vài thuật ngữ bạn cần biết.
Bộ Bài Tới là công cụ chính của Trò chơi Bài Chòi.
Trò chơi Bài Chòi là tập hợp gồm bốn yếu tố xảy ra cùng một lúc tại không gian chơị
1-một là, trò chơi tập thể xảy ra công khai trong một cái chòi. Chòi là nhà cất vội dùng tạm. Chòi nay được hiểu có thể là đình làng, là nhà công cộng đông người.
Chòi có thể được hiểu là chỗ ngồi đủ rộng cho một thành viên chơi bài với số đông người, tuy họ chỉ là một tay chơi; hay chòi là không gian là tập hợp của 10 tay chơi gồm cả nhà cái lẫn người xem. Tùy. Bạn có tìm hiểu thêm qua Google search khi gõ từ khóa “bài Chòi”
2- hai là, phải có một cỗ bài đặc trưng thuần chất Việt, đó là bộ Bài Tới, hay còn gọi là bài Trùng gồm 60 lá bài với ba mươi hình vẽ ẩn dụ, hình vẽ được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ hội hoạ đặc trưng văn hoá Lạc Việt, mang tính nhân loại.
3- ba là, phải có dàn trống, kèn hổ trợ lời hô thai, tức lời hát xướng tên lá bài qua các câu văn vần, tiêu tiếu, có khi dung tục.
4- phải có người hoạt náo linh hoạt, gọi là anh Hiệu cùng một ban bệ tổ chức.
Để tổ chức được một buổi bài chòi thành công cần các bước chuẩn bị kỹ lưỡng, cần có tài chính. Đó là lý do tại Quảng Nam quê tôi, bài Chòi được tổ chức vào các ngày đầu xuân. Ăn tết dài ngày, đồng quê Việt Nam dạo ấy sống bằng nền kinh tế nông nghiệp, lúa nước.
Và thêm vài thuật ngữ khác:
- Đừng nói : Đánh bài chòi mà nói Đánh bài tới, Đánh bài trùng.
- Bạn có thể nói: chơi bài chòi, chơi bài tới. Từ “ Chơi “ xin hiểu lẹ là từ " Play " trong Anh ngữ. Bạn vào mạng tra cho lẹ.
- Xin nói đúng: hát bài chòi, đi nghe hát / hô bài chòi, đi coi bài chòi.
- Hô/hát bài chòi có nghĩa là hô thai câu có vần điệu về một lá bài chòi nào đó.
- Đi nghe Hát Bài Chòi: Từ này xin hiểu theo từng địa phương, từng thời điểm. Tại Bình Định có lối hát Bài Chòi rất đặc trưng. Có lẽ trên đường hành quân ngày xưa, nghĩa quân Tây Sơn đã dùng lối hát này trên đường hành quân dưới thời vua Quang Trung chăng? Chính lối hát nhặt khoan vui tươi, âm điệu dồn dập khiến cho lòng binh sĩ thêm hưng phấn, quên đường xa. Thời ấy đạo quân Quảng Nam dưới sự điều binh của danh tướng Trần Quang Diệu tham gia rất khí thế. Họ đánh trận như chẻ tre. Khí thế này mất khi danh tướng Nguyễn Huệ đột ngột ra đi vào lúc 32 tuổi. Tiếp đến khi bên nhà vợ lớn của Quang Trung can thiệp thô bạo vào việc triều đình thì nhuệ khí Tây Sơn sa sút hẳn. Mười năm sau thì họ tan hàng. Đáng tiếc. Nếu không, dòng lịch sử Bài Chòi đã chuyển sang một khúc quanh sâu sắc hơn không chừng!.
- Hát Bài Chòi tại Bình Định là lối hát có tuồng tích. Tuồng ta tuồng Tàu. Thế hệ người Quảng Nam tại miền Nam Việt Nam, thuộc lớp chúng tôi sinh thập niên 40, có lẽ không mấy ai biết về lối hát này. Đa phần họ chỉ biết hát Bài Chòi là hát các câu hô thai theo từng lá bài mà thôi.
Nghệ thuật hát Bài Chòi được các giới nghệ sĩ người gốc Bình Định mang ra Bắc sau năm 1954, họ đã xây dựng và hoàn thiện bộ môn hát Bài Chòi tại đó. Sau năm 75 nó được mang trở lại vùng đất Đàng Trong cũ, gồm Nam Ngãi Bình Phú và vài địa phương khác mà tôi thật sự không biết hết. Bạn có thể tìm trên Google search. Vậy hô thai bài Chòi (Bộ Bài Tới) liên quan đến độ tồn vong của trò chơi dân gian này, nhưng lối hát bài Chòi Bình Định mà bạn tìm gặp qua youtube lại thuộc một phạm trù khác và hiểu về nội hàm bộ bài tới thì hầu như đội Hán nặng nề như đã dẫn ở trên.
 
II -Cội nguồn xuất phát.
Tiền nhân ta người Đàng Ngoài tự hỏi tại sao có sự lặp đi lặp lại mãi trên vùng đất văn vật này những điều bất an? Gạt nước mắt, lòng đầy quyết tâm giúp họ có thể bỏ lại phía sau sản nghiệp cùng mồ mả ông bà để dẫn cả gia đình vào Nam. Đoàn người theo chúa Nguyễn Hoàng bỏ miền Bắc vượt đèo Ngang vào Nam, họ không quên mang theo những kinh nghiệm sống cay đắng từ nơi chôn nhau cắt rN#7889;n. Tại vùng quê hương mới, nơi đây họ kỳ vọng mọi việc sẽ được cải thiện. Một quyết định đầy khó khăn và đầy cao vọng. Họ bắt đầu làm lại từ đầu với hai bàn tay không. Lịch sử cho thấy họ là những người khôn ngoan nhất bởi qua bàn tay họ, bởi những thành quả mà họ đạt được trong thời kỳ đầu dựng nước vào đầu thế kỷ 17. Vậy xã hội Đàng Trong vốn do từ những rường cột ban đầu là người Đàng Ngoài dựng nên. Người ra đi hầu như không có mấy ai trong số họ đỗ cử nhân, Tư HƯƠNG, nghĩa là dân đội Hán rất ít. Con cháu họ quả thật được hưởng hơn 150 năm sau đó trong cảnh thái bình. Họ đã làm được điều “ biến việc không thể thành có thể. “ Nhờ đâu? Có thể so với xã hội cũ Đàng Ngoài họ ít bị nhiễm bẩn văn hóa Tàu ít hơn không?
 
III -Người Đàng Trong ngày ấy là ai?
Lần qua dòng lịch sử dân tộc, năm 40 SCN, Mã Viện thời Hán đã làm cỏ nước ta. Người Việt gốc chạy vào vùng Thanh Nghệ Tỉnh bởi họ không muốn ra làm quan Bờm cho Tàu. Đến thời Lê Mạc Trịnh, họ chạy vào Nam. Tại miền đất mới này họ đã chọn giải pháp dùng bộ bài tới vẽ chân dung quan Bờm. Bài ca thằngBờmCóCáiQquạtMo đã để lại hai nét vẽ. Một là, trên đám con trai được mẹ cha cho đi học chữ Tàu, là đầu phải đội Hán. Âm Hán này và háng( hán+g) này dân Trung eo đều đọc như nhau, kể cả dân Nam bộ bây giờ. Biểu trưng là trên đầu bọn ấy có chữ Hán. Chữ Hán ấy là gì ? Ý nghĩa ra sao? Rất ốt dột. Ốt dột trong ngôn ngữ Trung eo nghĩa là xấu hổ quá. Chữ Hán ấy lấy âm là “điền kiến”. Chữ Hán chép không đầy lá mít, mà học đòi nói chữ! Điền, âm điền chỉ người,[ 佃, ] làm ruộng, khác nhau với ruộng 田, điền thổ, là có bộ nhân đứng gá thêm vào; kiến là kiến văn, kiến thức. Điền kiến, 田見, lấy âm, là kiến thức của một gã nông dân. Từ nông dân được dùng ở đây như tính từ, chỉ trạng thái tiêu cực, kẻ ít được học hành. Hai là, mặt anh luôn luôn có cái quạt mo che mặt, bởi thực tâm anh muốn che dấu cái khí cốt xấu xa của mình.
Mấy ai biết cái quạt mo trên đất Bắc trong bài ThằngBờmCóCáiQuạtMo. Nay tại đàng Trong, hình vẽ được thống nhất che mặt cho toàn đám Quan Bờm lại phát xuất từ câu ca dao:
Văn chương chữ nghĩa bề bề,
Thần l. ám ảnh cũng mê mẫn nguờị
Xót lòng mẹ góa con côi
Kiếm ăn lần hồi, l. lớn bằng mo (ca dao)
Rõ ràng nhờ đội Hán, vọng Hán thì được họ sẽ được gần với Thần l. mà thôi. Kinh thiệt! Độ mĩa cay nghiệt của ông bà mình! Rõ ràng, Mo là hình tượng so sánh với L. Trong vết ngôn ngữ Việt ngày nay, nay còn thể hiện nơi người Huế. Một người đàn ông Huế khi chê trách một người đàn ông khác, có thể là một quan chức cấp cao, một thường bạn khó ưa, cái thằng cha hay làm khó mình vô cớ, mặt mày chai cứng, họ gọi là "Thằng Mặt L.". Trong khi Quảng Nam quê tôi thì “nhìn cái bản mặt Bạch Huê của thằng đó là khó ưa rồi !”. Nghĩa là người đàn ông nọ có bộ mình mặt mang là sân xi măng láng cóong!.
Quạt mo là dấu ấn của bài thằng Bờm khi bài ca này được hiểu dưới dạng phong dao thay vì đồng dao dành cho trẻ thơ. Trong tinh thần đồng dao của bài ca “thằngBờm Có CáiQuạtMo”. Từ “Có” trong bài đồng dao là động từ chỉ việc “ thủ trong tay mình, phần ấy là của mình”. Khi bài thằngBờmCóCáiQuạtMo được hiểu trong tinh thần phong dao, có là giới từ, tỉ như “with” trong Anh ngữ, có khiến cụm từ “có cái quạt mo’ là cụm từ thuộc tính bổ nghĩa cho thằng Bờm. Ngoài hai điều nhận dạng trên, tên cúng cơm mỗi lá bài là một sự định danh cho một nhân vật dang tồn tại trong xã hội Đại Việt thời đó. Tên mỗi lá bài trong nhóm đội Hán này, từ chớm thành quan bờm cho đến hiện thân là quan bờm, nói trại ra là “quan bợm”. Bợm là lưu manh. Bọn quan bịp bợm. Vậy mỗi lá bài tự thân nó đã là một nối tiếp truyền thông thống nhất tư tưởng giữa hai miền Nam Bắc, Đàng Ngoài và Đàng Trong cho dù giữa họ đang thật sự có chiến tranh mất còn. Chiến tranh là vấn đề giữa hai nhà cầm quyền, văn hoá thống nhất là thuộc tính của nhân dân. Bạn xem 10 nhân vật có ăn học đội Hán mang mặt người.
 
 
Trong hình này có hai dấu hiệu mà người Việt ngày nay không mấy am tường. Chữ trên lá bài là tên người xưa đặt cho. Chữ viết tay của laiquangnam là tên dân gian.
Ví dụ 1: Một là, từ cổ như thể lá bài tới mang tên " Đấu " có nghĩa là gì? Vậy mà người phụ nữ Đàng Trong gọi đúng ý tiền nhân là anh “ Nhì Bí ” mới tài tình làm sao! Từ khi tên dân gian Nhì Bí từ họ mà ra, khiến cho nhân vật này trở nên dễ hiểu vô cùng. Đấu là một từ cổ. Sao Đấu, sao Đẩu, là chùm sao trong nhị thập bát tú. Sao ĐẤU có hình cái đấu để đong rượu, nhưng không dùng đựng rượu hay đong lúa được. Hàm ý thấy tưởng chừng như có mà thực tế không sao sử dụng được. Tỉ như học chữ Hán láp nháp, học không tới nơi tới chốn có hại hơn là có lợi. Đôi khi mình phạm tội ngộ sát văn hoá dân tộc mình mà mình không hay. Đó là tâm trạng của người đi học còn chút tâm huyết, học để làm gì, phục vụ cho ai?
Lỡ quan, lỡ lính, lỡ làng.
Lỡ hàng dân giả, lỡ hàng công khanh.( cadao )


Ví dụ 2: Tại sao tên Hương, Tư Hương nay lại có tên dân gian là “Tứ Cẳng"? Cách hiểu của người phụ nữ Đại Việt thời ấy khác với cách hiểu của một chú HIỆU hiểu theo tình huống mua vui hiện nay.
Ví dụ một câu Hô thai biến tướng từ ca dao.
Ví dụ tình huống hiện tại của anh (chị) chạy Hiệu. Anh/chị ta đang rút ra từ trong ống tre một lá bài có tên là Tứ Cẳng (con bài HƯƠNG, tư Hương). Muốn cho người chơi đoán được lá bài trong tay mình đang có là lá bài gì, anh HIỆU cố lồng vào câu hát của mình sao cho có từ “ tứ cẳng” càng tốt, hay ý văn độ chừng có thể am hiểu, hay đoán mò chừng 50/50 là Ok. Anh Hiệu đó nhớ câu ca dao này và hát.
Có chồng từ thuở mười lăm.
Chồng chê tôi nhỏ không nằm cùng tôị
Đến chừng mười chín đôi mươị
Tôi ngủ dưới đất chàng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn cẳng giường gãy một còn ba! (Cadao ) .


Hay bạo hơn thì hát như vầy;
Có chồng từ thuở mười lăm.
Chồng chê tôi nhỏ không nằm cùng tôị
Đến chừng mười chín đôi mươị
Tôi ngủ dưới đất chàng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương


==> Từ câu cuối Có bốn cẳng giường gãy một còn ba! ==> sẽ được hát là:
“Chớ thương chi, thương chi mà HUNG RỨA ….
Cho bốn cái cẳng giường… nó rung rinh!"
 
Lời hát rất dung tục, chuyện ăn nằm nay được nói trước đám đông trước các bà ngoại, trước các cháu bé, không sao, ba ngày tết, vui là chính. Cười là liều thuốc bổ. Không ai lấy thế làm phiền mà lên mặt đạo đức Giáo Khoa Thư! Đừng lo. Xin mời các bạn cùng nghe lại đoạn rất ngắn Mp3, do laiquangnam ghi âm tại một đêm lửa trại tại Cù Lao Chàm do các anh chị văn công Quảng Nam quê tôi hát vào cuối thập niên 00, thuộc niên kỷ 2000, với sự tài trợ từ anh SANG, người Hà Mật-Thi Lai. Anh là một doanh nhân Quảng Nam thành đạt, thương hiệu của anh là dệt Phước Thịnh.
baichoi-thaitu_tucang.mp3

Trong câu hát ấy, Tư Hương, anh là ai ? Có phải anh ta là một người ham hố " ba cái ruồi bu nó khuấy ta ” ? Tư Hương là tên một con bài, rằng một anh học trò đã ” ba chân bốn cẳng ” học vội, học vàng để mong được đi làm quan. Anh đã đỗ kỳ thi Hương, hình vẽ có ghi lại trường thi năm xưa. Nay anh lận lưng cái bằng cử nhân và đang chờ vua phân bổ ra làm quan. Bạn có thấy bốn cái lều trại dưới tấm hình này nay lại trở thành bốn cái chân của cặp tình nhân, hay bốn cái “chưn” giường nó rung rinh như dưới con mắt của người hô thai vừa hát qua câu hát?
 
lá bài tới tên là HƯƠNG, tư hương ==> tứ cẳng.

Bạn thấy đấy, do vì bốn lều dưới đáy lá bài trong trường thi nay trở thành bốn cái dấu chân người. Từ “tứ cẳng” là vội vàng trong thành ngữ Quảng Nam, ba chân bốn cẳng, nay lại trở thành “tứ cẳng” là số đếm, số chân của một cặp tình nhân. Tài tình ở cả người vẽ tranh, lẫn ở người đặt cho tên cúng cơm là HƯƠNG. Người phụ nữ Đại Việt thời ấy tài hoa quá!.
Câu hát ấy rõ ràng không đúng với ý kiến của tiền nhân, nhưng không sao; bởi các Ngài dẫu có sống lại các ngài cũng cười trừ. Tôi hình dung các Ngài đứng xoa xoa hai bàn tay rồi nói, “Xung quá tụi bây! Qua chịu! Qua ước gì dân tộc này của Qua luôn có tiếng cười như thế trong mọi gia đình thay vì giữ khuôn mặt đầy đăm chiêu ô nhục vì “ dung nhan dân tộc” ngày ngày đang bị bôi đen một cách dị hợm như hiện nay! Chính những lời như thế mà các lá bài của Qua còn tồn tại. Còn tồn tại là còn hiểu Qua. Sau các cuộc chiến tranh tàn phá tan hoang đất nước này không mấy ai quan tâm đến nó, chính cái vui này giữ nó tồn tại. Thôi Qua đi đây."
Tiền nhân ta gần gủi làm sao!
 
Ví dụ 3: Tại sao ==> mà lại có tên biến là Trạng; Tại sao Dọn?. Dọn là gì? ==> Nhọn. Tại QuảngNômQuốc thời ấy, người phụ nữ Quảng Nam quê tôi lại thấu hiểu và cho nó một tên dân gian là đầy ấn tượng như thế. Vì sao? Bởi bộ bài này xuất phát từ ý kiến của Chúa Hiền Vương (Nguyễn Phúc Tần). Ngài ra lệnh cho các quan hầu cận, và thỉnh cầu người họ Đoàn Đông Yên cố sáng tác giúp cho Bà mẹ kính yêu của mình có một thú vui tao nhã lúc về già. Mẹ ông là người họ Đoàn, người làng Đông Yên. Bà cần được vui sống cùng với gia nhân theo hầu Bà khi Bà xa xứ Quảng. Giải trí cho bà là điều chúa Hiền quan tâm. Người phụ nữ thời ấy cần được mẹ ông truyền cho nhau nghe điều khôn dại từ suy nghĩ của mình. Là nữ nhi, họ có miệng cũng như không, bởi sự điều hành đất nước thuộc về cánh đàn ông. Bởi thế đại diện cho họ là lá bài chủ trong bộ Bài Tới, lá bài duy nhất, tuy không có con dấu đỏ của nhà vua ban cho, nhưng nàng là người có miệng ăn miệng nói, dõng dạc nhất, chững chảng nhất trong ba mươi con bài. Nàng TUYẾT nói câu khí phách, “ nhân danh người trưởng thành tôi xin thưa cùng Thái tử, đó là ý nghĩa ba chữ Hán ghi kín đáo “Đinh khẩu bạch” [丁口白 ] ghi nhỏ trên đầu lá bàị
Tuyết là từ Việt cổ nay còn vết trong câu thơ của Lê Thánh Tông.
Cắp cầm con Tuyết tình cờ đến
Bỏ nón chùi chân khặc khặc cười

( Hồng Đức Quốc Âm thi tập )

Lời hô thai như vầy :
Tiếc thay cây mía ngọt lại sâu
Tiếc con gái tốt mà cái bím bầu không lông
( từ BS. Hồ Đắc Duy).
 
Từ “Tuyết” này trong hình là nhánh rong rêu mà biến thành từ Bạch Huê mới là lạ lẫm. Ngoài từ Bạch Huê, không còn một từ nào hay hơn để diễn đạt một khổ nạn thứ nhất trong mười đại khổ nạn mà một đời người phụ nữ Đại Việt phải cam chịu. Khổ nạn này không tự họ gây ra mà là khuyết tật bẩm sinh trong cơ thể một số ít người phụ nữ Đại Việt do vì có gia cảnh nghèo, hay vì lúc mang thai, mẹ nàng đã trãi qua những phút giây chịu đựng trong lo âu, hoặc từ sự suy sinh dưỡng ngay từ người mẹ lúc mang thai truyền sang thai nhi, nay chuyển sang thực tế bất hạnh vì cố tật đội Hán của gia đình nhà chồng, hay của chính anh chồng cà chớn bất tài chỉ có mỗi một tài là tài đổ thừa. Chuyện nhân sinh mười đại nạn người phụ nữ Đại Việt chúng ta cùng gặp nhau trong một bài khác trên trang website này. Nó cần một không gian lớn hơn để tâm tình.
Tạm gác chuyện nhân sinh khôn dại khi người phụ nữ Đại Việt muốn thưa cùng Thái tử.
Nay chúng ta tiếp tục với đám Quan Bợm nàỵ
Trong cỗ bài có lá bài tên là Dọn. Đây là dấu vết của người gốc Quảng Trị. Ngày đó đất Quảng Trị là nơi đặt kinh thành đầu tiên của chúa Nguyễn Hoàng. Người Quảng Trị phát âm NH ==> D, gi. Ví dụ: họ nói: cái thằng nhỏ nhỏ, nhiều người trong họ nói như chim, cái thằng do dỏ. Rất đáng yêu. Người Quảng Nam hiểu ngay lập tức Dọn là Nhọn. Con bài nằm ở bậc thứ bảy. Bảy là thất. Một lá Bài Tới có tên là Thất Nhọn hình thành. Thất nhọn là gì? Thất nhọn là một Quan Bờm sau giai đoạn Lục Chạn. Lục Trạng trở thành viên Quan Bờm chuyên nghề bẻ cong công lý, ngậm máu phun người, kết án người vô tội, không tội đánh cho nhận tội, muốn khỏi đòn roi thì phải chung chi, đút lót … Đánh mới có tiền lận lưng. Đó là cái nghề làm quan ăn cướp. Thất là tội ác đứng ở bậc thứ bảy.
 
Phân tuyến 60 lá bài trong bộ Bài Tới Quảng Nam.
Đặc diểm từng tuyến:
Tuyến I: Là cánh phụ nữ, cánh cuối cùng của chính họ. Họ tự nghĩ về thân phận chính họ.Hình vẽ liên quan đến những gì mà người phụ nữ có và đàn ông thì không có, kể cả phần anatomy trực quan cơ quan sinh dục nữ như lá tứ tượng, dái doi chẳng hạn ..
Tuyến II: Là cánh đàn ông không được học hành, họ không thể nào lọt vào chốn quan trường đầy thủ đoạn như cánh III. Hình vẽ liên quan đến những gì mà người đàn ông có mà người phụ nữ không có.
Tuyến III: là thế giới học trò, nhờ cái học mà vào đời qua con đường quan lại, ăn trên ngồi trước với nhiều mưu mô thủ đọan. Hình vẽ là Mặt người luôn có cái quạt mo che mặt.
Cột I
Bậc cao dần
Tuyến I
Phụ nữ
Tuyến II
Đàn ông
không được ăn học
Tuyến III
Đàn ông được ăn học,
==> Quan Bờm
Bậc 1
Bạch Huê
Nhất Nọc, Nọc Thược
Nhất Trò
Bậc 2
Bánh/ Bành Hai
Nhì Nghèo
Nhì Bí
Bậc 3
Bánh / Bành Ba
Ba Gà
Tam Quăn
Bậc 4
Dái Doi/ Tứ tượng
Tứ dóng/ Tứ nhóng
Tư Hương/ Tứ Cẳng
Bậc 5
Năm Rún/ Đổ Ruột
Ngũ Đụm
Ngũ Trưa/ Ngũ Trợt
Bậc 6
Sáu Tiền
Sáu Hột
Lục Trạng
Bậc 7
Thất Liễu
Bảy thưa/ sưa
Thất Nhọn
Bậc 8
Tám Tiền
Tám Dầy
Bát Bồng
Bậc 9
Chín ghe/Chín xe
Chín Gối
Cửu Chùa
Bậc 10 (có
đóng dấu đỏ)
Âm/ Ầm
Đỏ mỏ
Thái Tử


Vài hình ảnh :
Bánh chưng cô để đó, chứ cái bánh dầy /(bánh hai, bánh ba) cô để đâu? (AVT)

 
Đượn /đượng là từ của người Đàng Trong, chỉ "Thẳng" tưng/ băng, ngay chừ!
Vài nơi như Phú Yên, gọi Chín gối là chín Q.
Hô thai tầm bậy,
Con Q ăn đậu ăn mè
Chứ ăn chi của chị chị đè Q tôi.
Bậy hết sức, cho dù vui là chính.
Chín gối là lá bài chỉ điều hoạn nạn bậc chín mà người phụ nữ Đại Việt gặp phải khi họ vớ phải anh chồng thất học, không lo làm ăn, tối ngày chỉ mơ đến chuyện trăng hoa sàm sỡ với phụ nữ khác ngoài vợ mình. Gây khổ đau cho con cái bà. Cái anh chàng này đôi khi " là đại họa cho gia đình vợ". Anh ta thường khi thuổng cả cô em khi có điều kiện, nhất cô em được mẹ phái đến săn sóc cho chị mình lúc sinh nở.
 

Bài chòi của chúng ta còn lắm điều sâu xa, thâm trầm, bạn làm quen đôi nét như thế theo laiquangnam đã tạm đủ.
 
Nam California,
Tháng tư, 2015.
Laiquangnam
 
_______________
Chú thích :
Ai nói từ "Thằng Mặt L*.". Vào Da Màu, đọc bài của họa sĩ Trịnh Cung. Bất ngờ nhưng rất đáng yêu.
 
---------------------------
Kỳ tới:
BàiChòi -Bộ Bài Tới,
Phần II. Cội nguồn sáng tạo: Người Việt.
( Bọn Tàu chỉ là người ăn cắp ý tưởng của ta).
Gợi ý : bạn có thể dùng Google search các cụm từ “ bàiChòi, nguồn gốc “, bạn đọc trước các bài viết trên mạng, nhất là bài viết Huỳnh Ngọc Trảng để tiện theo dõi Phần II.
Cội nguồn bộ Bài Tới là của TA, 100% không sao tranh cãi được cho dù họ có viện dẫn Tây Tàu ...
Laiquangnam

====================
Dư âm bài viết :
Câu chuyện bài chòi, bộ bài tới Quảng Nam
 
Một người bạn học lớp, sau khi đọc bài này anh viết trên Facebook của mình như sau :
ĐÊM RẰM PHỐ CỔ HỘI AN

2 @ Trò Chơi Dân Gian Thuần Việt : ĐÁNH BÀI CHÒI
& Hội Đánh Bài Chòi được tổ chức vào những đêm Lồng Đèn Sáng, trò chơi nầy đông vui vì sự hấp dẫn của người hô có giọng hát hay và lời ca dí dỏm. Trong đêm nay cô gái mặc áo màu đỏ đô thắt lưng vàng có giọng hô rất tuyệt.
& Hoài Ngọc vừa đọc một bài viết về Đánh Bài Chòi của anh Laiquangnam Lai ,
http://art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_baichoi_baitoi_phan1.htm
một bài viết hay ,công phu nhưng anh không đề cập sâu đến trò chơi nầy ở Quảng Nam quê tôi.
& Riêng ở quê tôi,làng Bảo An trong những năm tháng thanh bình từ sau 1954 đến trước 1963 mỗi lần Xuân về Tết đến đều có hội Đánh Bài Chùa mà tôi đã từng được vui chơi ở đó.Hội Bái Chùa ở làng tôi có ông Bảy Kiều ( ông Thảo ) hô hay nhất.

 
và sau đây là câu trả lời của Laiquangnam:
laiquangnam xin trả lời bạn

Cám ơn bạn hiền đã nhắc đến tên laiquangnam sau khi bạn hiền đọc bài của tôi.
Bạn hoài niệm về bài chòi tại xứ Gò Nổi gồm Bảo An, Phú Bông, Đông Bàn, Hà Mật, Thi Lai. Bạn trách tôi không viết về thú vui của bài chòi. Tôi nghĩ vào youtube bạn sẽ gặp các điều bạn muốn nghe biết.

Theo tôi, giá trị trong trò chơi bài chòi mà chỉ để ý đến hát hò, hô thai vui vui thì chúng ta chỉ làm trò chơi này nằm quanh quẩn ở miền Trung eo của mình mà thôi. Nó không vào sâu trong Nam được do vì người Việt mọi miền sẽ không thấy hết được giá trị hình vẽ ẩn dụ và tên gọi ba mươi lá bài. 30 lá bài có gì bí ẩn? Đấy là ba mươi khuôn mặt hắc ám, gồm mười khuôn mặt phụ nữ Đại Việt khổ đau, và 20 thằng đàn ông làm khổ họ, nghĩa là làm khổ dân tộc này. Đó mới là một thông điệp mang tính nhân bản nhất thuộc tầm cỡ thế giới của dân tộc ta. Còn các câu hô thai?, giá trị gì ? Nó chỉ khiến cho người ta cười tại chỗ̉ mà thôi. Tụi tây nghe, họ không hiểu. Người miền Nam không nghe được tiếng Trung eo nên họ không cười nắc nẻ như ta. Nếu người Quảng Nam quê mình cứ loanh quanh lẩn quẩn để ý đến các câu hô thai vui vui ngồ ngộ thì di sản này sẽ không được các miền khác chia sẻ. Chúng ta mãi mãi tự mình khoanh vùng di sản quý báu của tiền nhân. Đó không là điều đáng tiếc hay sao? Do thuộc tính mắn miệng, tính hay cà rỡn, nói lái giỏi, câu chuyện lặp đi lặp lại bốn lần, năm lượt nên khi các anh Quảng Nam này đứng ra làm anh Hiệu, thì người địa phương của anh có một buổi tiệc cười chết bỏ, rất đã. Nếu anh Hiệu này có chút biệt tài nói lái giỡn, có tài nói tục, mà không tự cười trước, anh nói gần gần, anh nói xa xa ba cái chuyện vợ chồng, chuyện gái trai, gặp lứa tuổi mới lớn nữ thập tam, nam thập lục tháp tùng theo mẹ theo chị cùng chơi trong mấy ngày xuân, lúc này bọn trẻ đang vào tuổi yêu nên càng thích tợn. Ngày ấy trong làng ta ai mà đậu được cỡ tú tài cho dù hỏng kỳ thi Hương (cử nhân lận lưng) thì đã hiếm rồi. Ngày đó giấy mực đâu có, học viết chữ Tàu dưới đất rồi chùi chùi thay cho tấm bảng. Học một chữ Tàu biết một hai nghĩa thông thường đã là khá lắm,nói gì đến ngữ cảnh của từ. Họ được dân trong làng thán phục lắm, các anh này mà một khi đội Hán; vì sao phả

0 comments:

Post a Comment

 
Web Statistics