ATTENTION: UK-ĐẤU TRANH Will Be Permanently Retired on December 30th, 2017.

Friday, 30 May 2014

Đánh tay đôi thì Việt Cộng đánh không lại Trung Cộng, vậy vấn đề sẽ được giải quyết ra sao?


 
1* Mở bài
16 chữ vàng và 4 tốt

Để trả lời câu hỏi trên, trước hết cần xác định mục đích chính yếu của Trung Cộng là gì? Những phương tiện nào được xử dụng để đạt được mục đính đó. Có thể nói Trung Cộng có hai mục đích: một là chiếm tài nguyên, hai là chiếm quyền làm chủ trên Biển Đông tức là làm chủ con đường huyết mạch nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương qua eo biển Malacca.
Tuy nhiên việc áp đặt chủ quyền gặp khó khăn vì Hoa Kỳ tuyên bố vùng biển đó là quyền lợi cốt lõi của quốc gia Hoa Kỳ. Do đó để chiếm dầu khí, có ý kiến cho rằng tạm thời gác bỏ vấn đề chủ quyền qua một bên, mà chiếm dầu khí bằng kế hoạch hợp tác khai thác chung với Việt Nam.

Tình hình căng thẳng tại Biển Đông vừa qua đưa đến câu hỏi là chiến tranh Việt Trung có thể xảy ra hay không?

Thiết nghĩ cần phải phân tích tương quan sức mạnh quân sự giữa hai bên, chiến thuật, chiến lược, để từ đó đánh giá sự thiệt hại về mọi mặt của cả hai bên sau trận chiến.

Đối tượng cần theo dõi sát là động thái của Trung Cộng, vì nước nầy luôn đóng vai trò chủ động, có quyết định cho VN một bài học nữa hay không. Đối với Trung Cộng, người thầy vĩ đại, thì Việt Cộng luôn ở thế bị động, nghĩa là chỉ đánh trả chớ không dám tấn công trước “tiên hạ thủ vi cường”. Không cường thì liệt.

Trung Cộng có hai lựa chọn để đạt mục đích đó: một là đánh kinh tế, hai là dạy cho Việt Nam bài học quân sự thứ hai. Phương án nào ít thiệt hại thì có thể được xử dụng.

Ngoài hai phương án trên, còn một phương án chính trị, đó là thành lập một ban lãnh đạo bù nhìn, tay sai đắc lực, ngoan ngoản phục tùng chính quyền trung ương ở Bắc Kinh. Giải pháp nầy có hai lựa chọn:

1). Nếu. Ban lãnh đạo hiện tại đạt được mục đích yêu cầu, nghĩa là tay sai chính hiệu đã có thành tích, thì tiếp tục đánh cuội, đánh võ mồm, kịch bản trình diễn xem như thật, nhưng cuối cùng cũng đâu vào đó: cắt đất dâng biển bằng một hình thức hợp pháp nào đó như “Phương án C. Xoá bài làm lại” của Trúc Giang.

2). Nếu. Ban lãnh đạo còn một vài thành phần lấn cấn, tham lam đòi hỏi quá độ, thì làm một cuộc đảo chánh dưới hình thức nào đó, (ám sát, bắt giữ…) thành lập một ban lãnh đạo tay sai đắc lực. Việc nầy không khó lắm bởi vì cái đám tay sai thời nào cũng có, nhất là đang có tình trạng tranh giành quyền lực trong nội bộ như hiện nay.

Bài nầy phân tích những nội dung nêu trên.

2* Hạm Đội Nam Hải của Hải quân Trung Cộng
Tàu chiến của Hạm Đội Nam Hải.
Hải quân Trung Cộng có 3 hạm đội: Hạm đội Bắc Hải, Hạm đội Đông Hải và Hạm đội Nam Hải.

Hạm Đội Nam Hải được phân tích vì nó là đối trọng của Hải quân Việt Nam.

Hạm đội Nam Hải (HĐNH) phụ trách vùng Biển Đông. Chính hạm đội nầy đã đánh chiếm Hoàng Sa (1974) và Trường Sa (1988). Phần nổi của Hạm đội đóng tại Trạm Giang tỉnh Quảng Đông. Phần chìm là lực lượng tàu ngầm đóng tại đảo Hải Nam nằm sát Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam. Bộ tư lệnh đặt tại tỉnh Quảng Đông, trách nhiệm kiểm soát vùng Nam Hải, vùng “lưỡi bò”, khu vực Việt Nam, Phi Luật Tân, Malaysia và Indonesia.

2.1. Một số định nghĩa về tàu chiến

1). Khu trục hạm

Còn gọi là tàu khu trục (Destroyer) là tàu chiến chạy nhanh, hoạt động lâu dài trên biển. Nhiệm vụ là hộ tống để bảo vệ các tàu không có khả năng chiến đấu như tàu vận tải, hàng không mẫu hạm, tàu đổ bộ và các toán thương thuyền, chống lại những tàu tấn công mạnh, chống tàu ngầm và phi cơ địch. Cho nên còn được gọi là hộ tống hạm.

Khu trục hạm hiện đại có trang bị hoả tiển điều khiển (hỏa tiển tinh khôn) có thể mang đầu đạn hạt nhân có thể san bằng thành phố. Khu trục hạm đánh giặc trên trời, trên bờ, trên mặt nước và tàu ngầm dưới mặt nước.

2). Tuần Dương hạm

Tàu tuần dương (Cruiser) là loại tàu chiến cở lớn. Cái tên Cruiser có ghĩa là đi tuần khắp nơi. Sang thế kỷ 21, các Tuần Dương hạm được thay thế bằng những khu trục hạm.

2.2. Số lượng các loại tàu thuộc Hạm Đội Nam Hải của Trung Cộng

2.2.1. Khu trục hạm (Destroyer)
- 28 khu trục hạm loại cũ
- 4 khu trục hạm hiện đại nhất thuộc lớp Sovremenny của Nga. Được trang bị bằng hoả tiễn có vận tốc vượt âm thanh, có khả năng tiêu diệt Hàng Không Mẫu Hạm.

2.2.2. Tuần dương hạm của Hạm Đội Nam Hải
- 71 tuần dương hạm với hỏa lực thật mạnh. Ngoài ra Trung Cộng có một hàng không mẫu hạm, Liêu Ninh.

2.2.3. Tuần duyên hạm của Hạm Đội Nam Hải
83 tuần duyên hạm. Là tàu chiến cở nhỏ hơn tuần dương hạm, dùng để tuần tra dọc theo bờ biển.

2.2.4. Tàu ngầm (Submarine)
Hạm Đội Nam Hải có 51 tàu ngầm mang đầu đạn hạt nhân bao gồm 12 tàu ngầm lớp Kilo (Kilo class)

Tàu ngầm nguyên tử của Trung Cộng có 2 loại chính:

1) Tàu ngầm chiến lược: mang 12 hoả tiễn đạn đạo (Ballistic Missile) là hỏa tiễn tầm xa tên Ngưu Lang JL-2, bắn xa 14,000km (8,700 dặm).

2) Tàu ngầm chiến thuật: chống chiến hạm nổi, và chống tàu ngầm đối phương.

Vũ khí trên 12 chiếc tàu ngầm Kilo đã được TC nâng cấp và trang bị hoả tiễn hiện đại hơn tàu Kilo của VN. Vì thế vũ khí tàu ngầm hiện đại nhất của VN so với TC cũng còn kém xa.

2.2.5. Tàu đổ bộ (Landing Ship) của Hạm Đội Nam Hải
HĐNH có 37 tàu đổ bộ.

2.2.6. Không Quân thuộc Hạm Đội Nam Hải
4 Trung đoàn phi cơ chiến đấu gồm các loại J và Su-27, Su-30. (Thế hệ 4)
1 trung đoàn phi cơ vận tải, 2 đơn vị trực thăng Z8 và Z9

2.2.7. Các đơn vị lính thủy thuộc Hạm Đội Nam Hải
1 Lữ đoàn gồm: 3 trung đoàn bộ binh cơ giới, 1 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn tăng-thiết giáp đổ bộ, 1 trung đoàn phòng không, 1 tiểu đoàn "tên lửa" đối hải, 1 lữ đoàn radar

3* Căn cứ tàu ngầm hạt nhân đảo Hải Nam
Vị trí căn cứ tàu ngầm Hải Nam - Ảnh: Telegraph.
Căn cứ nằm phía đông đảo Hải Nam, thuộc Hạm Đội Nam Hải của HQ/TC.

Có 11 cửa vào, rộng 23 mét cho 20 tàu ngầm. Các tàu ngầm nguyên tử nầy được trang bị bằng hoả tiển đạn đạo (Ballistics) JL-2 có tầm hoạt động được cải tiến, đến 14,000 Km. Căn cứ tàu ngầm nầy còn là mối đe dọa cho các nước ASEAN và Ấn Độ.

Cơ quan Jane's Intelligence Review và Federation of American Scientists (FAS) lần đầu tiên phổ biến hình ảnh do vệ tinh chụp được vào tháng 2 năm 2008, cho thấy cửa hang rộng vào một căn cứ tàu ngầm và một chiếc tàu ngầm lớp Tấn (Jin-class) tại căn cứ nầy.

(TC đặt tên các tàu ngầm theo tên của các nhà vua như Hán (Han-class), Hạ (Xia-clas), Vũ Hán (Wuhan Golf-class), Thương (Shang-class), Minh (Ming-class), Nguyên (Yan-class), Tống (Song-class)...

Căn cứ Du Lâm có sức chứa 20 tàu ngầm mang đầu đạn hạt nhân. Với hoả lực của căn cứ, TC có thể kiểm soát từ Eo Biển Malacca và Biển Đông trong trường hợp có khủng hoảng xảy ra, cũng như có thể hạn chế sự can thiệp của Hoa Kỳ đối với vấn đề Đài Loan.

Hơn một nửa số lượng hàng hoá trên thế giới đi qua Eo Biển Malacca nầy mỗi năm. Số lượng tàu chở dầu đi qua eo biển nầy để vào Biển Đông nhiều gấp 3 lần so với số lượng tàu đi qua kinh đào Suez và gấp 5 lần so với số lượng đi qua kinh đào Panama.

Trung Cộng đã chính thức đưa đường "Lưỡi Bò" vào bản đồ nước họ và tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ Biển Đông.

Căn cứ Du Lâm đã có từ lâu trên đảo Hải Nam, nhưng mới đây, qua tin tình báo và vệ tinh do thám người ta mới phát hiện ra TC đang xây thêm một cơ sở dưới mặt đất, đào sâu vào trong lòng núi, dùng cho tàu ngầm nguyên tử.

Theo Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, từ năm 2010 HĐ Nam Hải của Trung Cộng đã có 5 tàu ngầm nguyên tử chiến lược hạng 094, mỗi chiếc mang 12 hoả tiển đạn đạo, liên lục địa Ngưu Lang JL-2 có tầm bắn xa từ 8,000 đến 14,000 Km.

Căn cứ tàu ngầm Du Lâm ở Tam Á cách Đà Nẳng 150 hải lý, cách Vịnh Bắc Bộ, VN, 130 Km.

Một hệ thống khoảng 11 đường hầm ngầm với cửa vào 23 mét được xây xuyên qua các con đồi chung quanh căn cứ Du Lâm, phía Nam đảo Hải Nam.

Báo Daily Telegraph số ra ngày 2-5-2008 bình luận, căn cứ nầy có khả năng che giấu 20 tàu ngầm hạt nhân để tránh các vệ tinh do thám.

Tờ Indian Express (Ấn Độ) thì nói, giới quân sự TC nhận định Biển Đông là khu vực rất khó điều khiển tàu ngầm và TC chưa phát triển được kỹ thuật điều khiển loại tàu nầy cách xa đất liền. "Còn khá lâu nữa, TQ mới có được kỹ năng và hệ thống điều khiển tàu ngầm thế hệ mới để tạo ra một chiến thuật mới cho lĩnh vực nầy".

Trung Cộng đã mua 12 tàu ngầm lớp Kilo (Kilo-class) là tàu ngầm hiện đại nhất của Nga và Việt Nam cũng đã ký hợp đồng đặt mua 6 chiếc.

3.5. Tàu ngầm lớp Kilo (Kilo-class)
Kilo là tên đặt của Khối NATO, là loại tàu ngầm quân sự chạy bằng Diesel-điện, được chế tạo tại Nga. Tên của Nga là Dự Án 636 Varshavyanka. Sau lớp nầy là lớp Lada.

Tàu ngầm Kilo dùng để chống tàu chiến, chống tàu ngầm của địch ở vùng biển cạn.

Tàu Kilo chạy rất êm, Hoa Kỳ gọi nó là "Lổ Đen" vì khả năng tàng hình biến mất của nó. Nó được cho là tàu chạy Diesel-điện êm nhất thế giới. Đó là một ưu điểm vì địch khó phát hiện ra nó từ xa. Nhờ kỹ thuật của vỏ tàu, làm méo đi tín hiệu dội lại của radar, đồng thời, làm giảm tiếng ồn do máy tàu tạo ra.

4* Hải quân Việt Nam

Hải Quân và Không Quân là hai quân chủng yếu nhất trong lực lượng vũ trang của Việt Nam.

4.1. Việt Nam tăng cường lực lượng Hải quân

Ngoài 18 chiếc hộ tống hạm cở nhỏ (Corvette) cũ kỹ, HQ/VN hiện có 7 tàu hộ tống cở lớn (Frigate), trong đó hai chiếc hiện đại nhất vừa mua của Nga thuộc lớp Gepard 3.9.

Đối tượng phải tiêu diệt là tàu chiến của địch, phi cơ và tàu ngầm tấn công của đối phương, do đó phải được trang bị vũ khí thích hợp để làm nhiệm vụ.

4.2. Tàu hộ tống Gepard 3.9

Ngày 22-8-2011, VN nhận chiếc Gepard 3.9 thứ hai từ Nga. Chiếc thứ nhất mang số HQ-011 tên Đinh Tiên Hoàng, chiếc thứ hai số HQ-012 tên Lý Thái Tổ. VN đang ký hợp đồng mua thêm 2 chiếc loại nầy nữa.

Hai chiếc hộ tống hạm mới mua được đưa vào biên chế của Vùng 4 HQ, bao gồm các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận, chủ yếu là bảo vệ quần đảo Trường Sa mà sự đe dọa là Trung Cộng.

Các chi tiết của tàu Gepard 3.9

Trọng tải: 1,500 tấn* Dài: 93.5m* Ngang: 13.8m* Tốc độ: 28 knot* Tầm hoạt động: 15 ngày* Thủy thủ đoàn: 98.

Vũ khí:

- 8 hỏa tiễn chống tàu. -20 hỏa tiễn chống phi cơ - 1 bệ phóng hỏa tiễn chống tàu ngầm

- 4 ống phóng ngư lôi với 20 quả đạn -1 súng đại liên 76.2mm, 2 súng 6 nòng 30mm với 4,000 viên đạn

Tàu Gepard 3.9 được Nga thiết kế vào cuối thập niên 1980 dưới Dự án số 1166.1 cho nên ngày nay xem như đã lỗi thời so với những loại tàu mới hơn, có khả năng vượt trội hơn về mọi mặt, vì thế nó chưa phải là chúa tể trên mặt biển.

4.3. Tàu ngầm lớp Kilo
Tàu ngầm lớp Kilo Việt Nam.
Lớp Kilo là tên gọi của NATO để chỉ tàu ngầm Dự án 636 của Nga. Tàu chạy bằng Diesel-điện, được thử nghiệm lần đầu tiên vào năm 2005. Thế hệ sau lớp Kilo là lớp Lada, hiện do Nga sản xuất. Hồi năm 2009, Việt Nam đặt mua 6 chiếc lớp Kilo, chiếc thứ nhất đã giao vào ngày 15-11-2013 mang số và tên HQ-182 Hà Nội. Chiếc thứ hai và thứ ba sẽ được giao trong năm 2014.

Khả năng tàu ngầm Kilo: chống tàu nổi và tàu ngầm, chống phi cơ địch, dò mìn và thả mìn.

Đặc tính

- Hoạt động trong vùng nước cạn

- Tàu chạy rất êm. Hải quân HK gọi nó là “lổ đen” (Black hole) vì thường biến mất, do khả năng tàng hình và chạy rất êm của nó.

- Nga sản xuất 29 chiếc lớp Kilo để xuất cảng theo đơn đặt hàng: Trung Cộng: 12 chiếc, Ấn Độ: 10, VN: 6 và Iran: 1 chiếc.

Chi tiết kỹ thuật

Dài: 74m* Ngang: 9.9m* Tốc độ: nổi: 22km/giờ, chìm: 46km/giờ.

* Độ lặn sâu: 300m* Thời gian hoạt động: 45 ngày.* Thủy thủ: 52.

Vũ khí: *8 hỏa tiễn* 6 ống phóng ngư lôi* Giá tiền: 250 triệu USD/chiếc

5* Hệ thống phòng thủ bờ biển của Việt Nam

5.1. Hệ thống phòng thủ K-300-P Bastion P.

Việt Nam mua của Nga hai hệ thống phòng thủ bờ biển K-300-P Bastion P, xử dụng hỏa tiễn

P-800 Yakhont. Mỗi hệ thống gồm 6 chiếc xe tải hạng nặng 8 bánh cao su, gồm 1 xe chỉ huy, 2 xe mang bệ phóng, mỗi xe có 2 ống phóng, và 3 xe chở hỏa tiển.
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển K300P Bastion-P.
Hai hệ thống gồm 40 hoả tiễn trị giá 300 triệu USD.
Chi tiết về hoả tiễn P-800 Yakhont
Dài: 8.9m . Đường kính: 0.71m . Nặng: 3,000Kg. Đầu nổ: 200Kg

Thuộc loại hỏa tiển hành trình (Cruise Missile) siêu âm, bay không cao quá 15m, càng bay thấp càng tránh bị Radar phát hiện. Hỏa tiễn nầy thuộc loại “bắn rồi quên” (Fire and Forget), nghĩa là sau khi bấm nút, hoả tiễn tự tìm mục tiêu để đánh, chủ yếu là đất đối biển, mà mục tiêu là tàu chiến.

Chiến thuật thường dùng là “chiến thuật bầy sói”, tức là 3 hỏa tiễn bắn ra, thì một quả sẽ bay cao hơn, bật Radar, hướng dẫn 2 quả còn lại đánh vào mục tiêu.

Khuyết điểm.

Một hệ thống K-300-P Bastion P gồm 6 chiếc xe tải hạng nặng 8 bánh, tập trung tại một điểm ngoài trời, vì hỏa tiển phải phóng thẳng đứng, giống như giàn phóng phi thuyền con thoi ở Bang Florida. Như thế mất khả năng ngụy trang và không tránh khỏi bị vệ tinh do thám xác định vị trí, đưa đến bị tấn công đánh sập trước khi khai hỏa.

Hơn nữa, những vũ khí được dẫn đường bằng Radar thì sẽ bị làm vô hiệu hóa bởi phi cơ chiến tranh điện tử, phá sóng, gây nhiễu điện từ, làm mất đường bay và bị đánh chặn để phá hủy.

Bờ biển Việt Nam quá dài, trên 3,000km nhưng chỉ có hai hệ thống bảo vệ như thế thì chưa đủ. Trung Cộng chiếm lợi thế là có số lượng lớn về các loại vũ khí.
5.2. Chiến thuật giữ biển của Việt Nam
Các nhà quan sát cho rằng, với số lượng vũ khí phòng thủ ít ỏi, VN sẽ áp dụng chiến thuật giữ biển mà họ gọi là “Sát thủ giản”, tức là xử dụng tầm hoạt động xa của hoả tiễn để thiết lập một vùng chống tiếp cận, nghĩa là không cho đến gần, mà giới quân sự gọi là Anti-Access/Area Denial (A2/AD). Cũng như Trung Cộng dùng hoả tiển “Sát thủ tàu sân bay” Đông Phong

DF-21(Dong-Feng-21) thuộc tầm trung, tầm sát hại 300km, tốc độ Mach 10, để ngăn cản, không cho hàng không mẫu hạm HK đến gần.

Đối với VN, hoả tiễn Kh-59MK của tàu ngầm Kilo có phạm vi bắn 115km, hỏa tiễn Kh-35E của tàu Gepard 3.9, có tầm bắn 130km, và hỏa tiễn P-800 Yakhont của hệ thống phòng thủ

K-300P Bastion P, có tầm sát hại 300km, do đó, khu cấm tiếp cận của VN là 300km. Như thế, đối thủ ở ngoài vùng tiếp cận, như ở căn cứ Du Lâm có thể dùng hỏa tiễn Jl-2, có tầm xa 14,000km để tấn công bất cứ một nơi nào trên lãnh thổ VN.

Vùng cấm tiếp cận nầy chỉ có thể áp dụng đối với tàu hải giám và các tàu cá của TC mà thôi. Tuy nhiên, VC luôn luôn lạnh cẳng trước khi bóp cò, nhấn nút, chỉ vì cái tinh thần 16 chữ vàng và 4 tốt và tấm lòng nhớ ơn đối với quan thầy Trung Cộng, quá khứ đã cho thấy điều đó.
5.3. Hệ thống phòng thủ yếu
Giáo sư Robert Karniol, một chuyên viên về các vấn đề phòng thủ của tờ báo Straits Times, trả lời phỏng vấn BBC như sau: “Lổ hổng của kho vũ khí VN hiện nay là thiếu thiết bị phòng không. VN cần có phi cơ thám thính cảnh báo sớm, cần có hệ thống hoả tiễn mặt đất, và mạng lưới Radar. Ví dụ. Phi cơ trang bị Radar báo động sớm sẽ phối hợp với các phi cơ chiến đấu và với hệ thống hỏa tiễn, để kịp thời tiêu diệt hoả tiễn và phi cơ từ xa, trên đường bay đến tấn công VN. Ba đơn vị nầy phải được nối kết với nhau chặt chẽ và đồng bộ bằng những hệ thống thông tin liên lạc điện toán và điện tử, thế nhưng VN chưa có”.

Trước kia, trong chiến tranh VN, hệ thống phòng không chủ yếu là đại bác phòng không và hoả tiễn SAM, mà mục tiêu để tiêu diệt là các loại phi cơ trên bầu trời. Ngày nay, mục tiêu phải tiêu diệt từ xa, là các loại hỏa tiễn có điều khiển với tốc độ siêu âm và rất chính xác.

Việc phòng thủ ngày nay quan trọng hơn tấn công, vì có được an toàn ngay trong những giờ phút đầu tiên thì mới còn cơ hội để phản công, đánh trả.

Trong chiến tranh Vùng Vịnh Ba Tư, hệ thống phòng thủ của Iraq quá yếu, không thể ngăn chặn được hỏa tiễn Tomahawk của HK, cho nên các phi cơ hiện đại của Iraq không thể cất cánh lên được, vì phi trường bị phá hủy, các trung tâm chỉ huy bị đánh sập… cuối cùng, một số phi cơ cất cánh được, không phải để chiến đấu mà là để chạy trốn sang Iran.

Trong kế hoạch giả tưởng “Đánh chiếm VN trong 31 ngày”, ở ngày 1, Trung Cộng ghi như sau:

- Dùng 900 hỏa tiễn hành trình (Cruise Missile) và hỏa tiễn tầm ngắn để phá 300 mục tiêu, làm tê liệt hoàn toàn bộ máy chiến tranh của VN.

- Lực lượng chiến tranh điện tử gây nhiễu điện từ, phá sóng, làm tê liệt hệ thống thông tin liên lạc, chỉ huy…

Đó là kế hoạch lớn, đánh chiếm VN, trái lại kế hoạch nhỏ, như dạy cho VN một bài học thứ hai, thì số lượng vũ khí và mục tiêu phải phá hủy sẽ thu hẹp lại. Với hệ thống phòng thủ hiện nay, thì VN đành bó tay, lãnh đủ. Đó là cái lổ hổng trong kho vũ khí của VN.

Tiến Sĩ Richard Weitz, Giám đốc Viện Nghiên Cứu Quốc Phòng Hudson tại WA D.C., trả lời báo chí như sau: “Năng lực phòng thủ của VN rất yếu, một mình Trung Cộng cũng đủ đè bẹp VN, nhất là những năm gần đây, họ đã mua và sản xuất vũ khí nhiều gấp mấy lần của VN”.

Nhận xét về Hải Quân và Không Quân của VN, TS Weitz cho biết: “Đó là hai bộ phận yếu nhất trong lực lượng vũ trang của VN”.

6* Không Quân Trung Cộng

Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc thành lập ngày 1-8-1927. Tổng số quân chính quy là 2,480,000 người (Năm 2008).

Không Quân Trung Quốc (KQ/TQ) có tổng số 470,000 người với 446 phi đội bao gồm tiêm kích, cường kích, ném bom, vận tải, trinh sát, trực thăng. 8 trung đoàn cao xạ phòng không, 2 trung đoàn "tên lửa" Hongqi-2, 2 trung đoàn tên lửa S-300 và 8 tiểu đoàn tên lửa SA-20.

6.1. Một vài định nghĩa về phi cơ

1). Phi cơ tiêm kích (Fighter Aircraft)

Phi cơ tiêm kích còn gọi là phi cơ chiến đấu, khu trục cơ, nhiệm vụ chính là không chiến. Tức là đánh với những phi cơ khác trên trời như chiến đấu cơ, phi cơ ném bom, phi cơ vận tải và cả với hoả tiển nữa.

Vì thế cần bay nhanh, kích thước nhỏ để dễ dàng nhào lộn, né tránh, hoả lực mạnh.Phi cơ tiêm kích hiện đại nhất thế giới, thuộc thế hệ thứ 5, là F-22 Raptor và F-35 Lightning II của HK.

2). Phi cơ cường kích (Ground-Attack Aircraft)

Nhiệm vụ chính của cường kích là tấn công trên mặt đất. Yểm trợ các đơn vị bạn trên mặt đất. Các loại nầy của HK có mang chữ A đứng trước như A-6, A-10. Phi cơ cường kích tối tân nhất hiện nay là A-10 Thunderbolt II (HK) và SU-25 (Nga) Ngoài ra HK còn có trực thăng tấn công trên mặt đất, diệt chiến xa, là AH-64 Apache.

3). Phi cơ ném bom

Gồm ném bom chiến lược là ném bom xa căn cứ để phá hủy những mục tiêu chiến lược như nhà máy, xưởng đóng tàu, căn cứ hậu cần, phi trường...như B-52, B-2 Spirit của HK và T-160 của Nga.

Phi cơ ném bom chiến thuật có tầm hoạt động ngắn hơn như diệt xe tăng, khối bộ binh... Hiện đại nhất là F-16 Fighter Falcon, F/A 18 Hornet của HK và SU-32 của Nga.

6.2. Số lượng các loại phi cơ của Không Quân Trung Cộng

1). Phi cơ ném bom (640 chiếc)

- 120 Tu-16. - 120 IL-28 - 400 Q-5 Do TQ sản xuất theo mẫu Tu-16

2). Phi cơ tiêm kích và tiêm kích ném bom (2,845 chiếc)

- 15 MiG-17 (J-5 là do TQ sản xuất theo kiễu mẫu của Liên Xô. TQ sản xuất có tên là J)

- 1,800 J-6 (Theo mẫu MiG-19) * MiG= Mikoyan-Gurevich, là tên của công ty sản xuất của Liên Xô). - 500 J-7 (MiG-21). - 180 J-8 - 120 J-10. - 24 J-11 (SU-27 của Nga). - 23 SU-30MK2

3). Các loại phi cơ khác: 844 chiếc

Phi cơ trinh sát: 38 chiếc đủ loại.* Phi cơ vận tải: 455 đủloại.* Trực thăng: 207 chiếc đủ loại. Phi cơ huấn luyện: 150 chiếc đủ loại.

4). Phi cơ Su-30MK của Trung Cộng

Về phần phi cơ chiến đấu thế hệ 4, Trung Cộng hiện có 280 chiếc, vừa mua của Nga, vừa do họ sản xuất. Trong số đó, có 100 chiếc Su-30MK, gồm có:

- 76 chiếc Su-30MKK. - 24 chiếc Su-30MK2.

Cho thấy VN hiện đại hóa, tăng cường thì cũng vẫn còn thua kém xa về kỹ thuật và số lượng phi cơ so với Trung Cộng.

7* Không Quân Nhân Dân Việt Nam
                Su-22M4 của Không quân Việt Nam                        Su-27 thế hệ 4.
Su-22M4 của Không quân Việt Nam Su-27 thế hệ 4

Không Quân Nhân Dân Việt Nam trực thuộc "Quân Chủng Phòng Không-Không Quân" thuộc Bộ QP/CSVN.

Hầu hết các phi cơ của KQ/VN đều do Liên Xô chế tạo và cung cấp.

7.1. Số lượng phi cơ tiêm kích: 465

- SU-30MK2: 26 chiếc vào năm 2012. Thế hệ 4.5 (1990-2000)

- SU-27: 39 chiếc Thế hệ 4 (1970-1990)

- MiG-21: 250 chiếc. Thế hệ 3 (1960-1970)

- SU-22: 150 chiếc. Thế hệ 3

7.2. Phi cơ huấn luyện, trực thăng, vận tải: 423

7.3. Việt Nam hiện đại hóa Không Quân

12 Su-30MK2 thế hệ 4.5 (1990-2000). Tương đương với Dassault Rafale (Pháp), Boeing F-15E, Lockheed Martin F-16 C/D và F-18 của Hoa Kỳ.

Việt Nam đang có hợp đồng mua thêm 12 chiếc Su-30MK2 nữa.

7.4. Phi cơ Su-30MK2
Chiến đấu cơ SU-30MK2 mới nhất của Việt Nam.
Su-30MK2 là phi cơ đa năng, tức là vừa tấn công mặt đất (cường kích), vừa không chiến (tiêm kích). Được tiếp xăng trên không, nhưng VN chưa có phi cơ vận tải chở xăng tiếp tế trên không.

Tốc độ: Mach 2 (1,350km/giờ) * Tầm hoạt động: 3,000km (bay 5 giờ)

Vũ khí:- Đại liên 30mm. - Hỏa tiễn được hướng dẫn bằng Radar hoặc tầm nhiệt. Mỗi chiếc gắn 12 hỏa tiễn trên thân và 2 cánh.. - Có hệ thống chỉ huy, hệ thống điều khiển phi cơ, truyền tin, máy vi tính, tình báo và thám thính.

8* Những điểm yếu của sức mạnh quân sự Việt Nam
Xứ của những người mù

8.1. Những điểm yếu

- Số lượng và chất lượng vũ khí của Việt Nam thua kém Trung Cộng quá xa. Mở màn thì thấy thất bại rồi.

- Phải mất 10 năm mới xử dụng thuần thục các loại vũ khí của Việt Nam. Vũ khí thuộc nhiều hệ thống sản xuất khác nhau, từ Nga, Do Thái, Trung Cộng, Pháp, Bỉ, Áo, Hòa Lan, Ấn Độ, Canada…Công việc bảo trì cũng phức tạp vì lệ thuộc vào nhiều quốc gia.

- Còn lâu mới đưa tàu ngầm hiện đại lớp Kilo vào xử dụng. Trước hết cần xây bến cảng đặc biệt cho tàu ngầm ở Cam Ranh. Quan trọng nhất là hệ thống thông tin liên lạc bằng điện tử, từ bộ chỉ huy đến tàu ngầm và các binh chủng chiến đấu liên hệ. Hệ thống liên lạc giữa tàu ngầm với các đơn vị liên hệ trong việc hợp đồng tác chiến và với bộ chỉ huy. Nga hứa giúp VN xây dựng các hệ thống nầy, nhưng chưa biết bao giờ mới xong.

8.2. Ba không trên biển

Hôm thứ năm 22-5-2014 trang mạng Nguyễn Tấn Dũng nhắc lại 3 không của quốc phòng Việt Nam:

1. Không tham gia liên minh, đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào.

2. Không cho nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam.

3. Không dựa vào nước nầy để chống nước kia.

8.3. Nhận xét của GS Carl Thayer

Ngày 22-5-2014 trả lời phỏng vấn của đài BBC, GS Carl Thayer nêu nhận xét:

- Chiến tranh năm 2014 sẽ xảy ra trên nhiều mặt trận: không quân, hải quân, bộ binh, tàu ngầm, hỏa tiễn.

- “Trung Quốc sẽ tiêu diệt một cách nhanh chóng hải quân và căn cứ hải quân, bao gồm hậu cần tiếp tế nhiên liệu, vũ khí, cụ thể là căn cứ Đà Nẵng sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn bằng phi cơ ném bom, hỏa tiễn tầm xa, tàu ngầm, thủy lôi. Đây là một yếu tố rất quan trọng. Vì nếu hư hại, tàu Việt Nam phải lui về cảng, thế nhưng mất cảng thì các chiến hạm sẽ không được tiếp tế nhiên liệu và sẽ trở thành vô giá trị. Khó có khả năng Nga sẽ tiếp tế phụ tùng cho Việt Nam vì không muốn gây hấn với Trung Quốc, Thậm chí Nga muốn giúp thì cũng đã quá trễ”.

9* Phương án “Xoá bài làm lại”
Khi vẹt Ba Đình bắt đầu lột lưỡi. Trang Babui.

“Phương án xoá bài làm lại” của Trúc Giang là cả hai bên thực hiện những bước để giữ được thể diện của cả hai bên, mà cuối cùng hai bên cũng đạt được mục đích. Đó là Trung Cộng chiếm tài nguyên của VN một cách công khai và hợp pháp. Và Việt Cộng cũng dâng tài nguyên của dân tộc cho quan thầy Trung Cộng cũng công khai và hợp pháp.

Bước 1. Trung Công rút giàn khoan về gần đảo Tri Tôn thuộc chủ quyền của họ ở quần đảo Hoàng Sa. Việc nầy vừa hé lộ khi Trung Công tuyên bố hoàn thành giai đoạn một và đã lùi giàn khoan 114m về phía đảo Tri Tôn.

Bước 2. Việt Nam đâm đơn kiện Trung Cộng ra tòa án quốc tế.

Bước 3. Việt Nam rao mời gọi thầu và công ty Xi Nóc (CNOOC) lại nạp đơn và đương nhiên trúng thầu và giàn khoan được lôi về vị trí cũ trong vùng biển đặc quyền kinh tế của VN.

Lợi nhuận mà Trung Cộng giao nạp cho Việt Nam, sẽ được đưa vào chương mục mua sắm vũ khí quốc phòng, cho nên tuyệt mật. Đố ai biết được là bao nhiêu, lãnh đạo Đảng chia chác nhau là bao nhiêu?.

10* Kết luận
Giàn khoan 4 Tốt. Tranh Babui.

Về sức mạnh quân sự thì Việt Nam yếu hơn Trung Cộng rất nhiều, nhưng với vũ khí hiện đại Việt Nam dù bại trận cũng gây thiệt hại cho Trung Cộng. “Chó le lưỡi, chó chết thì nai cũng vạt móng”.
Nhưng giải pháp quân sự không mang lại mục đích chiếm tài nguyên của Trung Cộng, bởi vùng biển hình lưỡi bò có quyền lợi cốt lõi quốc gia của Hoa Kỳ.

Nếu có đánh nhau thì chỉ trong một thời gian rất ngắn không quá một tiếng đồng hồ, sau đó cả hai bên đều chờ có người nhảy vào can ngăn. Thế là một ủy ban song phương hoặc đa phương hội họp để giải hòa.

Giải pháp quân sự không đạt được mục đích của Trung Cộng, cho nên rất khó xảy ra chiến tranh toàn diện giữa hai nước. Vậy thì Trung Cộng còn đòn kinh tế để đánh Việt Nam. Hoặc đòn chính trị là thành lập một ban lãnh đạo bù nhìn làm tay sai ngoan ngỏan với chính quyền trung ương ở Bắc Kinh.

Nếu ban lãnh đạo hiện thời đáp đúng yêu cầu của Trung Cộng thì tiếp tục đóng cho trọn vở kịch đánh cuội, đánh võ mồm xem giống như thật và cuối cùng Trung Cộng chiếm tài nguyên Biển Đông một cách hợp pháp theo như phương án C của Trúc Giang là “xóa bài làm lại”, hoặc làm cuộc đảo chánh (ám sát, bắt giữ...) để thành lập ban lãnh đạo trung thành với 4 tốt và 16 chữ vàng.

Đánh tay đôi thì Việt Nam đánh không lại Trung Cộng, vậy thì xóa bài làm lại, cả hai bên đều đạt được mục đích yêu cầu. Dĩ hòa vi quý. 4 tốt và 16 chữ vàng muôn năm!

Trúc Giang
Minnesota ngày 29-5-2014

0 comments:

Post a Comment

 
Web Statistics