ATTENTION: UK-ĐẤU TRANH Will Be Permanently Retired on December 30th, 2017.

Saturday, 1 August 2015

Hồi Ký BS Mũ Xanh Nguyễn văn Dõng


Thưa Quý Vị,
Chúng tôi hân hạnh giới thiệu Hồi Ký hào hùng của một vị lương y gốc Thủy Quân
Lục Chiến, một binh chủng từng một thời bách chiến bách thắng trước Công quân
trước khi QLVNCH bị ” đồng minh Hoa Kỳ ” bẽ súng.
Mặc dù đứng trước khí thế của kẻ thắng trận (!) với mũi súng AK kè bên hông, vị BS
Mũ Xanh Nguyễn văn Dõng vẫn luôn kiên cường bất khuất trong các trại tù VC nôm
na gọi là Cải Tạo. Xin mời đọc.
Tôn-thất Sơn, ĐHV-Nước Việt
______________________________________________________________________


  Có mực viết nên chữ
  Có sử chép thành sách

 Thương tặng
 A.H. Hồthị

 Và các con

 Hồ Diệp

 Hồ Duy

 Hồ Danh


Để nhớ những tháng năm dài
Xa sầu, cách nhớ, chờ mong

                       
tại sao ông bà cha mẹ chúng nó phải bỏ quê hương xứ sở sống phiêu bạt nơi xứ người, biết được phần nào sự thật về bản chất lưu manh gian ác của chế độ « chuyên chính vô sản », về tính không tưởng của chủ nghĩa xã hội, về tính sắc máu của cộng sản quốc tế. Viết để cho con cháu không lầm về những xuyên tạc, bóp méo lịch sử mà Việt Cộng đang làm và sẽ tiếp tục làm để đánh bóng chế độ tanh hôi mùi máu của chúng nó. Viết để cho con cháu thấy chúng ta đã sống ra sao trong gông cùm Cộng sản, cho chúng nó không chỉ hảnh diện về những chiến tích hiển hách trong suốt cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do, mà còn cho chúng nó hảnh diện về tư cách của chúng ta khi bị bức tử phải chịu khổ nhục trong lao tù…Đó cũng chính là một món nợ phải trả cho tiền nhân, cho hậu thế.

Vì kể lại cho các bạn nghe những gì tôi đã sống qua, nên tất cả tên họ của những người tôi đề cập đến đều là tên họ thật. Những người có tên trong sách sẽ là những người thấm thía nhứt khi đọc những trang ký ức nầy vì dù sao đây cũng là chuyện của chính họ với tôi. Những người bạn nầy đa số hiện còn sống rải rác từ Âu sang Mỹ,  có một số còn ở lại Việt Nam và cũng có vài người đã vĩnh viễn ra đi.
Đã 30 năm qua nhưng đối với tôi mọi việc như vừa xảy ra năm trước ! Tuy nhiên tôi vẫn biết là mình còn nhiều thiếu sót ; tôi chỉ cốt ghi lại những mẫu chuyện tiêu biểu nhứt, có khi khó tin nhưng khó quên nhứt, có nhiều tác động tâm lý nhứt đối với tôi và với cả bọn cán bộ thời bấy giờ. Tôi rất mong các bạn tù nhắc nhở, đóng góp cho tài liệu thêm phong phú và chính xác.
Một lời tâm sự cuối cùng tôi rất mong được gởi đến các bạn tù và bạn đọc : tôi viết cuốn « ký sự » nầy chỉ vì cái duyên và cái nợ, với một ước vọng duy nhứt là ghi lại trung thực lối sống của tôi, cuộc sống của chúng ta trong chốn lao tù cải tạo. Nếu có ai đó không hài lòng về những điều tôi ghi lại thì xin rán mà chịu vì họ đã sống như thế trước mắt tôi, tôi không thể viết khác hơn bởi vì dù sao chăng nữa đây cũng là một chứng tích lịch sữ cận đại của dân tộc Việt Nam.
Cuối cùng, tôi đã phải cầm bút ghi lại những sự việc mà có người rất có thể mỉm cười hay sẵn sàng xuyên tạc, vì tôi nhận thấy chẳng có mấy ai viết lại cho hậu thế biết họ đã « sống » ra sao trong vòng kiềm kẹp của cộng sản ngoài những đày đọa thể chất, những dằn vật tinh thần, những than thân trách phận…
                   Một Ngày Trong Tù
Hôm nay, thứ năm 25-12-75, là ngày Giáng Sinh đầu tiên trong tù sau 6 tháng trình diện học tập, nhưng đối với VC đó cũng chỉ là một ngày như mọi ngày nên anh em cải tạo vẫn phải đi lao động. Tôi được miển theo toán công tác bên ngoài, ở lại lán chờ quản giáo. Nội qui của trại ấn định mỗi khi có trên một phần ba nhân số trong lán đi lao động thì lán trưởng phải đi theo. Hôm nay có đến trên hai phần ba đi lao động nhưng vì có lịnh của thủ trưởng nên tôi ở lại chờ quản giáo đến « dẫn độ » lên ban chỉ huy trại « làm việc ». Trại không cho biết làm việc gì, chỉ mập mờ là về chuyện nghề nghiệp của tôi. Tôi nghĩ có lẻ VC cần biết thêm vài chi tiết về thời gian tôi du học ở Hoa Kỳ như tôi đã ghi trong bản tự khai. Nhưng có một điều làm tôi thắc mắc : tại sao trại lại chờ đến hôm nay mới gọi tôi lên làm việc ? Gần 10 giờ tôi đã thấy quản giáo Trung bước lên khoảng sân trước của lán 1. Không chờ anh gọi, tôi đã lên tiếng :
- Anh Trung đúng hẹn nhỉ.
Và tôi chống tay lên vai Tân để đứng lên. Vừa cúi xuống xỏ chân vào đôi dép tôi vừa nói khẻ với Tân :
- Lát nữa trở về tao sẽ « báo cáo » mầy nghe.
Tân cười căn dặn :
- Mầy rán bớt ba gai một chút để còn về với vợ con và có dịp để vọt.
Lương Huỳnh Tân, bào đệ của bác sĩ Lương Phán, cựu « quản gia » của T.T. Lê Nguyên Khang, là bạn học cùng lớp ở trung học Taberd (Sài Gòn), chịu phép rửa tội cùng ngày và cùng bỏ đở đầu với tôi.
Vào thượng tuần tháng 6-75 khi có lịnh « chuẩn bị thức ăn cho 10 ngày học tập », Tân đã từ cư xá Thanh Đa sang Hàng Thị, Bà Chiểu, tìm tôi hẹn đúng ngày sẽ cùng đi. Và từ ngày đó, thứ hai 23-6-75, cho đến 2 năm sau, khi tôi rời Hốc Môn lên trại Bổ Túc dưới chân núi Bà Đen, Tây Ninh, Tân không rời tôi nửa bước. Suốt hơn 10 tháng ở Long Giao, hai đứa nằm cạnh nhau, mỗi đứa đuợc non 45 phân vừa đủ để ngả cái lưng « như tấm thớt đình » trên nền đất nghỉ đêm, qua ngày đoạn tháng.
Mấy tuần lễ đầu, thời gian còn lo chỉnh đốn nơi ăn chốn ở chứ chưa học tập gì cả, bầu không khí trong trại còn rất lành mạnh : anh em bạn tù đa số đều rất hăng hái, vui vẻ lo tu bổ « lán » của họ, những căn nhà tiền chế ngang 5 thước, dài 15, vách ván, mái tôn lủng nát vì bôm đạn của những trận đánh cuối cùng vừa qua. Cán bộ CS còn đối xử với Ngụy cải tạo rất « hài hòa ». Trong ngày tôi còn có thể đi « thám hiểm » khắp nơi trong toàn trại mà không hề bị cán bộ làm khó dễ như về sau nầy, có lẻ vì buộc phải cho chúng tôi được tạm tự do để chúng tôi đi tìm vật liệu cần thiết cho việc tu bổ, sửa chửa nơi ăn chốn ở. Chúng tôi phải tự lo lấy mọi thứ, trại không hề ngó ngàng đến, chẳng giúp được một tí gì cả. Muốn vét cái giếng nước duy nhứt trong T1, sâu có đến hơn mười thước, chúng tôi phải đi tìm bao cát về tháo gở ra từng sợi để se chỉ bện dây. Chúng tôi rồi cũng có được những sợi dây thừng to và dài đủ cở để giúp chúng tôi hoàn thành các công tác cần thiết. Trại không giúp chúng tôi được một cái cuốc, cái xẻng ; chúng tôi phải đi tìm sắt, tìm nhôm về rèn lấy các thứ đó để vét giếng, đào cầu tiêu…Trại chỉ có phát cho mỗi đội hai cái chảo to như chảo của các lò đường để nấu cơm, nấu nước. Xây cất, tổ chức nhà bếp chúng tôi tự lo lấy. Chuyên viên gì cũng có, nhưng chuyên viên nhà bếp thì chẳng có mấy ai, cũng may trong nhóm có anh Lê Thành Lân có vẻ thạo chuyện nên đã gíúp xây nhà bếp và nhứt là chỉ anh em cách nấu nồi cơm cho cả trăm người ăn một lúc, không phải là chuyện dễ, lạng quạng là thấy ngay cảnh « tam tai : trên sống, giữa nhão, dưới khê » và anh em có nhiều triển vọng đói ! Bao nhiêu là khó khăn đó của buổi ban đầu, anh em đều đã vượt qua trong một thời gian hết sức ngắn, trước sự kinh ngạc thán phục của bầy khỉ đỏ đít. Nhà bếp, nhà tiêu, nhà ở, giếng nước chúng tôi đều đã « khắc phục » nhanh chóng, chỉ có vấn đề điện thì chúng tôi chịu. Trại hứa sẽ có điện…trong thời gian tới đây ! Đố ai biết được là đến bao giờ ! Mấy ngày đầu, khi trời vừa chạng vạng tối, tôi phải lo giăng mùng, dọn ổ kẻo lúc tối trời không biết đâu mà mò ! Trong lán có đại úy Chi trước kia thuộc công binh rất rành về vũ khí. Anh biết chắc là quanh đây thế nào cũng phải có một kho đạn của Sư Đoàn 18 còn để lại. Và chỉ một ngày truy lùng anh đã tìm ra kho đạn đó. Việc cần thiết đã khiến anh đi kiếm cho được kho đạn là để gở lấy lớp giấy dầu quấn quanh các ống đạn pháo binh. Anh đem về vấn thành những cây tròn bằng nửa cùm tay, dài năm bảy tất. Đêm đến anh châm lửa là những cây đuốt kia đủ để tạm soi sáng trong lán giúp anh em tiếp tục sinh hoạt thêm được vài giờ, tránh cảnh mò mẫm trong bóng đêm. Lúc bấy giờ chưa có chuyện chiều tối phải sinh hoạt với quản giáo vì chưa có điện. Anh em tự do tán gẩu, nhắc chuyện vui buồn đời lính,  tranh nhau kể chuyện tiếu lâm, cười nói ồn ào vui vẻ lắm ! Có người còn bày ra cả chuyện làm thơ : một người ra đề tài, rồi tuần tự mỗi người làm một câu sao cho đúng vận hợp tứ để cuối cùng thành một bài thơ. Đến giờ đi ngủ, tôi trở về chổ chui vào mùng và khẻ rỉ tai Tân : « Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ ! » và Tân phá lên cười. Hùng trợ y nằm bên cạnh vội hỏi có gì vui cho cười hùn!
 Trong thời gian đôi ba tuần lễ đầu tiên sau khi nhập trại, lúc còn chưa bị các « bạn học » trong lán đề cử tôi làm lán trưởng thay thế đại úy Khánh, tôi rất ít nói, chỉ âm thầm để tâm quan sát tình hình của Ngụy và của các cán bộ oắc con. Ai nói gì tôi cũng mặc kệ, chẳng buồn đôi co, đính chánh. Có một số người nghe tôi là bác sĩ chỉ cười, chẳng tin khi nhìn qua bộ gió của tôi:
- Thằng cha đó làm Thủy Quân Lục Chiến thì tao đồng ý, chứ còn bộ gió đó mà làm bác sĩ thì cần coi lại!
Tân Cò ngồi bên cạnh tôi nghe thế thúc cùi chỏ vào hông tôi và cười dòn. Riêng tôi khi nghe ông bạn phát biểu ý kiến đó, tôi vụt nhớ đến thuở TĐ1/TQLC còn hay nghỉ quân bên cầu Cái Răng trước khi trở về hậu cứ. Lần đầu tiên khi tiểu đoàn dừng quân nơi đây, có hai ông bà nhà ở cạnh bên đường, khi nhìn thấy tôi và tiểu đoàn trưởng, “đại bàng” Tango (Tr.t. Nguyễn Thành Trí), họ đã bảo với mấy đệ tử của tôi đang tạm để đồ đạc trong sân nhà, rằng:
- Ông bác sĩ dáng người thư sinh nho nhả quả là đúng tướng của một lương y.
Và đưa tay chỉ thẳng vào tôi ông tiếp:
- Còn ông tiểu đoàn trưởng cũng thế, vậm vở thật đúng mẫu người võ tướng.
Thấy mấy đệ tử của tôi bò ra cười, ông già lấy làm lạ:
- Tôi nói thế có chi mà mấy anh em lại cười?
Thượng sĩ Lân, y tá trưởng của tôi, nhịn cười và giải thích cho ông chủ nhà biết là ông đã lầm người nầy sang người kia.Và khi tôi đủng đỉnh quay gót vào ngay nhà của ông xin phép cho toán quân y được tạm trú qua đêm, ông đã nhìn tôi như mắt đứng trồng! Cô bé Biếc, đứa cháu gái của ông trạc 14, 15 tuổi cũng nhìn tôi không chớp mắt! Từ đó cứ mỗi lần đoàn Quái Điểu ghé lại Cái Răng là hai ông cháu lăng xăng đi tìm toán quân y mời về nhà nghỉ đêm. Cái bộ gió của tôi khi khoát vào người quân phục Cọp Biển nó có vẻ hung tợn như thế nào tôi chẳng biết mà cho đến cả mấy đệ tử của tôi lúc ban sơ cũng « ngán ». Năm theo lữ đoàn 147 sang Miên, tiểu đoàn đống quân tại một trường học đã bị tiêu hủy chỉ còn là một đống gạch đổ nát, cách  quận lỵ Kampon Trapek ngoài trăm thước. Vài hôm sau ngày Th.T. Nguyễn Đăng Tống về nhận tiểu đoàn thay cho Tr.T. Nguyễn Thành Trí, tiểu đoàn Quân Y có nhã  ý « biệt phái » cho tôi trung sĩ T.L. người vừa « hạ » một quân nhân đơn vị bạn trong một quán cóc ở đầu cầu Bình Lợi. Sau vụ đó, tiểu đoàn Q.Y đã « tống » anh T.L. ra hành quân ngay nhằm « bao che » cho anh. Nhưng hình như không có ông trung đội trưởng Quân y nào « cai quản » nổi trung sĩ T.L. nên cuối cùng tiểu đoàn trưởng Q.Y đã biệt phái sang Miên cho tôi ! Khi anh đến trình diện tôi, tôi im lặng nhìn anh rồi ra dấu cho anh « lui ». Và luôn cả mấy ngày liền tôi chẳng nói năng gì đến anh cả. Rồi tôi nghe anh than thở với mấy đệ tử của tôi rằng bác sĩ Thế, trung tá tiểu đoàn trưởng Q.Y, lần nầy đã xài « liều lượng thuốc» quá mạnh chắc anh chẳng còn cách nào khác hơn là đào ngủ. Anh em khuyên can thì anh T.L. bảo là chưa bao giờ anh « đụng » phải môt « ông Thầy » có « bộ gió » như ông nầy ! Tôi nghe mà bắt tức cười nhưng chẳng nói gì. Hàng ngày tôi dẫn một số đệ tử đi làm dân sự vụ trong xóm quanh vùng đống quân. Mỗi ngày T.L. đều phải theo tôi và tôi bắt anh luôn luôn ở bên cạnh ; tôi không để cho anh một giây phút nào rảnh rổi để đi dạo xóm. Tôi cố ý cho anh nhìn tận mắt cung cách « xử thế » của tôi đối mọi người, Miên cũng như Việt, bịnh hoạn hay lành mạnh. Một buổi sáng tôi cùng mấy đệ tử xuống xóm dưới công tác như thường ngày, và tôi để ý ngay là trong tiệm chạp phô của ông chủ góc người Tàu có chuyện chẳng lành. Tôi liền đi thẳng vào tiệm và hỏi thăm thì được bà vợ cho biết là đêm qua đứa con trai của họ làm rẫy trong làng cách đó vài ba cây số, bị trúng đạn pháo binh bắn quấy rối bể đầu, mất rất nhiều máu. Gia đình đang gôm góp tiền bạc để đưa lên Nam Vang điều trị. Người con trai, đã gần 30 tuổi, đang nằm trong buồng. Tôi liền nói với ông chủ tiệm vào dẫn anh ấy ra cho tôi xem xét vết thương. Khám qua tôi thấy anh chỉ bị miển đạn cắt đứt da đầu đến sát xương sọ, trên một đường dài có đến 5 phân. Anh cũng còn tốt số. Máu đông đặc cả mái tóc. Tôi bảo trung sĩ T.L. cạo đầu cho thật sạch trong lúc tôi soạn đồ nghề, thuốc tê, kim chỉ đề khâu vết thương. Mỗi ngày tôi đều đến thăm bịnh, thay băng. Sáng ngày thứ ba khi tôi vừa bước chân vào nhà cùng với mấy đệ tử, ông chủ tiệm trịnh trọng đến trước tôi chấp tay tỏ lời cảm ơn và trao cho tôi một gói giấy nhựt trình to bằng bắp tay. Hơi ngạc nhiên, tôi liền mở gói giấy ra ngay. Ông chủ nhà lật đật ngăn tôi lại. Tôi nhìn ông càng ngạc nhiên thêm và xé phăng gói giấy ra xem cái gì bên trong. Anh T.L. đứng bên cạnh tôi vụt kêu lên kinh ngạc làm mấy đệ tử kia xúm lại xem chuyện gì. Tôi chỉ cười cầm gói giấy bạc to tổ bố đưa cho mấy đệ tử đếm ! Đếm xong T.L. cho biết tổng cộng là 30.000 riels (tiền Miên), một số tiền khá lớn. Tôi cầm xấp giấy bạc trao lại cho ông bà chủ tiệm và nói với họ rằng chúng tôi chỉ làm nhiệm vụ của một lương y trong hoàn cảnh khó khăn mà mọi người đang hứng chịu. Nài ép tôi thế nào, ít nhiều gì tôi cũng khăng khăng từ chối ; và tôi cũng từ chối không nhận cái giỏ thật to bên trong có đến chục con gà nên hai ông bà đã bắt mấy đệ tử của tôi mỗi ngày phải ghé lấy một cặp gà hay ít ra là cũng một con đem về làm cho « ổng » ăn. Đang thiếu thốn mà có gà xơi mỗi ngày thì tôi không thấy có lý do từ chốí, và thầy trò được tạm no đủ cho đến ngày hồi hương. Sau thời gian tuy ngắn ngủi đó, anh T.L. như chợt hiểu ra và anh đã không còn e dè tôi nữa mà trái lại rất thích được gần tôi để nghe và hỏi tôi nhiều vấn đề khác nhau.
Thuở ban đầu vào trại, tôi chỉ có Tân Cò và Trần Hùng Hải để hàn huyên, tán gẩu. Về sau Hải Mù có giới thiệu anh em nhà thơ Thanh Tâm Tuyền ở cùng lán với hắn. Nhưng cả hai anh em đều có vẻ “thủ cẳng” nên tôi cũng ít gần gủi. May sao còn có mũ xanh Hồ Thiện Hiền, thuộc bộ tư lịnh Sư Đoàn. Hiền cũng chẳng xa lạ gì với tôi: anh vợ của Hiền là giáo sư đại học Khoa Học Chu Phạm Ngọc Sơn, một đàn anh của tôi ở Taberd và cũng là anh em trong nhóm La San Nghĩa Thục. Nhưng rốt lại tôi chỉ có Tân Cò thường xuyên bên cạnh để cùng nhắc kỷ niệm xưa hay trao đổi ý kiến về những ngày sắp tới… Khi chuyện trò đã chán, hai anh em lại theo chân các bạn tù lò mò đi hái lá hà thủ ô đem về nấu nước thay trà uống rất ngon do có vị thơm rất đặc biệt, màu nước nâu nâu làm quên đi nước giếng lạt lẽo lại đục mò. Có mấy ông “lang vườn” cả quyết rằng hà thủ ô, nhứt là củ, có tính cường dương!
Một hôm, chẳng biết mắc chứng gì hay do lạm dụng hà thủ ô, Tân Cò nổi hứng khơi khơi hỏi tôi:
- Mầy thấy sao?
Tôi trố mắt nhìn Tân không nói. Tưởng tôi không hiểu, Tân đặt lại câu hỏi:
- Mầy tính sao? Liệu có còn thay đổi nữa được hay không?
Tôi mơ màng:
- Thay đổi là lẽ tất yếu của Trời Đất. Còn như chuyện lật ngược thế cờ hiện nay thì trước mắt, tao không thấy có ai có khả năng!
- Mầy nói! Phe ta vẫn còn nguyên đây…
- Còn nguyên là mầy nói. Đối với tao chẳng có gì còn nguyên nữa hết.
Tôi trầm ngâm giây lát, Tân cũng im lặng chờ đợi. Tôi lại hỏi Tân :
- Đất nước nầy cần phải được giải phóng một lần nữa. Tao hoàn toàn đồng ý. Nhưng theo mầy, đâu là đối tượng ưu tiên cần được giải phóng ? Và với phương tiện nào ?
Hỏi xong chẳng đợi Tân trả lời tôi tiếp luôn :
- Đối với tao, trong ngắn hạn phe ta hết xài rồi ! Giờ phút nầy mà còn nghĩ đến một cuộc chiến kháng cộng kiểu vừa qua thì quả là ngây ngô mù lòa…Đối tượng giải phóng ưu tiên mà tao hỏi mầy chẳng phải là cái miền Nam nầy đâu. Ý của tao là phải giải phóng đám cán binh, cán ngố nầy trước tiên. Sau đó chính bọn nó sẽ là cái phương tiện hữu hiệu nhứt để giải phóng hai miền Nam Bắc.
 Tân nhìn tôi cười :
- Mầy nói không giống ai !
- Ừ, mầy nói đúng, tao nói không giống ai cả. Nhưng ngay từ bây giờ nếu mầy chịu khó nhìn kỹ một chút bọn quản giáo, mầy có thể hiểu được ý của tao phần nào.
Tân có vẻ ngơ ngác rồi bật cười :
- Mầy nói gì tao điếu hiểu.
- Thế nầy, quan sát chúng nó mấy tuần nay, tao nhận ra rằng khi chúng nó đặt chân vào khu vực của cải tạo, thái độ của tất cả chúng nó đều rập khuôn nhau : làm ra vẻ nghiêm trang hách dịch, dùng ngôn ngữ và cung cách của kẻ « bề trên » v.v…Nhưng khi bọn chúng nó vừa ra khỏi khu vực của Ngụy, tức là lúc hết nhiệm vụ, chúng nó trở lại « trẻ con » ngay. Mầy không nhìn thấy điều đó à ? Điều đó cho phép tao suy ra kết luận : chúng nó được chỉ đạo, được giao nhiệm vụ nên phải « chấp hành nghiêm túc » lịnh trên, không có chuyện làm thân hay đối xử tử tế với Ngụy cải tạo. Tao có thể đoan chắc với mầy rằng nếu bình thường thì đa số bọn quản giáo không đối xử với bọn mình tệ như vậy. Chúng nó chỉ làm bổn phận cai tù, cải lịnh chúng nó sẽ bị « hạ từng công tác » và có nhiều triển vọng được đi « học tập cải tạo » như bọn mình. Không tin mầy cứ chờ xem, thời gian sẽ chứng minh điều tao thấy, tao nghĩ là đúng. Và đó cũng là cái yếu điểm mà bọn mình có thể đút đòn bẩy vào để lật đổ cả cái khối Đảng nặng nề đang đè lên đầu lên cổ. Bây giờ mầy có hiểu tí nào ý nghĩ của tao chưa ?
Tân nghe có vẻ châm chú nhưng chỉ ừ ừ hử hử rồi cười ruồi, có vẻ không tin :
- Mầy nói không giống ai !
Có giống ai hay không tôi chẳng quan tâm. Đã từ lâu tôi vẫn cả quyết với chính mình rằng : không phải vì có hàng triệu người cắn đuôi nhau đi vào một hướng mà vội kết luận hướng đó là đúng, phải theo. Cứ mỗi lần nghe ai đó nhắc đi nhắc lại câu « thiểu số phục tùng đa số » là tôi bực mình. Quả là chỉ biết học sáo ngữ chính trị xa long rồi nói như Vẹm, không có một chút cố gắng suy nghĩ nào. Ở đời những Thích Ca, Ki Tô, Khổng Tử…chỉ đếm trên đầu ngón tay, thế họ có phải nghe theo tuyệt đại đa số hay ngược lại ? Không có kẻ chăn chiên khôn ngoan hiểu biết, đức độ, đoàn cừu của Panurge chỉ có nối đuôi nhau lao vào chổ chết chứ nào được tích sự gì. Có trí khôn, ham học hỏi, thích hiểu biết, trọng đức độ…đó chính là phương tiện đẫn đến an bình, hạnh phúc cho chính mình và cho người xung quanh.
Chính trong khoảng thời gian ban sơ nầy tôi đã biến vài ba sự việc có vẻ vô thưởng vô phạt thành những khó khăn có thể nguy hiểm cho bản thân. Chỉ với riêng một mình Tân là tôi còn hé môi thổ lộ đôi chút tâm tình, suy tư. Sở dỉ Tân đã nhắc nhở tôi bớt ba gai là vì trước đó vài ba tháng tôi đã có hơn một lần đụng chạm với các chính ủy không những của T1 mà còn với cả chính ủy của « trung đoàn », tức trại L 19, Long Giao.
Cuộc va chạm đầu tiên xảy ra non ba tháng sau ngày nhập trại (đêm 24-6-75), nhân một cuộc tham quan kiểm tra công tác hậu cần do một số cán bộ từ trung ương đến thực hiện. Vài ba ngày trước, Ngụy cải tạo được các quản giáo cho học tập rộng rải và chỉ thị nếu ai muốn phát biểu ý kiến bất cứ về vấn đề gì liên quan đến việc ăn ở, đều phải trình qua các tổ trưởng. Các lán trưởng có nhiệm vụ gom góp các ý kiến từ các tổ trưởng và trình lại quản giáo để quản giáo sẽ báo cáo lên ban chỉ huy trại cúu xét. Hệ thống nầy phải được mọi người « chấp hành nghiêm túc », tuyệt đối cấm không ai được trực tiếp thưa gởi gì với bất cứ ai trong phái đoàn thanh tra. Tôi cười thầm : cũng như dưới thời của Ngụy thôi ! Trong buổi sinh hoạt lán tối hôm trước, quản giáo Trung hỏi anh em có ý kiến hay thắc mắc gì không, anh em chỉ cưòi nói xầm xì với nhau thôi, không ai có vấn đề gì cả. Tôi cũng hơi bực mình : không có lúc nào là không có người thắc mắc cái nầy, không vừa lòng cái kia, lầu bầu nhiều nhứt là về vụ bắt đầu bị bỏ đói từ hơn tháng qua tuy rằng trại bắt phải đóng tiền cơm tháng (đi học chứ nào phải đi tù !). Ấy vậy mà tôi chẳng thấy có một ai chính thức nêu thắc mắc hay đặt vấn đề với trại xem trại giải thích ra sao. Tôi nghĩ là việt cộng chỉ có giải thích thôi vì bố lếu bố láo là nghề của chàng, cỏn giải quyết thì chúng nó không có khả năng và cũng chẳng có ý muốn nào cả. Theo nhận xét của riêng tôi, lúc bấy giờ đa số tù cải tạo đều có ý thu mình nhỏ lại thành những kẻ vô danh tiểu tốt, không ai dại gì tách ra khỏi đám đông cho việt cộng nhắm vào. Rất nhiều anh em đã nghĩ rằng cố nhẫn nhịn vài ba tháng cho xong chuyện, khi nào ra khỏi trại sẽ tính sau. Trong thời gian đầu, số người ngây thơ nầy nhiều vô số kể ! Cụ thể là trong lán của tôi có một sinh viên học viện Quốc Gia Hành Chánh vừa tốt nghiệp chưa kịp đeo lon chuẩn úy nhưng cũng cứ đi trình diện học tập ! Cán bộ phụ trách từ chối không cho đi học, anh cũng cứ nài nỉ để được đi học ! Đa số lúc bấy giờ đều tin rằng sẽ chỉ học tập 10 ngày, đúng thời gian ấn định như các binh sĩ và hạ sĩ quan đã học, hay nhiều lắm là vài ba tháng cho nên họ cố thủ trong một bề ngoài ngoan ngoản. Tân chỉ nói đùa rằng rán gở vài ba cuốn Tam Tông Miếu đi đã rồi tính sau, anh em đã nhao nhao phản đối. Có một lần tôi chỉ đọc tên Trần văn Trà ra Trần văn Chè thôi, nếu lở quản giáo có nghe cũng chẳng thể biết được tôi muốn nói ai, ấy vậy mà cũng có những « anh hùng hào kiệt » không bằng lòng, cho rằng không phải lúc để đùa như thế, đến tai bọn cai tù sẽ bị rắc rối cả lũ ! Những người nầy làm tôi có cảm tưởng việt cộng chỉ có đằng hắng chứ chưa lên tiếng hăm he là đủ để cho họ rung ! Họ toàn là cấp đại úy quân lực VNCH cả ! Cái điều trông thấy mà đau đớn lòng nầy thật sự đã làm tôi buồn chán, và tôi đã thú nhận với Tân rằng tôi không còn tin tưởng, hy vọng gì bao nhiêu vào Ngụy nữa, và từ nhận định đó tôi đâm ra buồn thấm thía cho tương lai đất nước, rồi mơ màng đến « thời liệt oanh của bao người xưa tranh đấu »…
Ngày phái đoàn đến tham quan, tù cải tạo được miển lao động để tiếp đón phái đoàn. Anh em được tập trung trước mỗi lán, lán trưởng đứng đầu. Mọi người đều nghĩ rằng làm hàng rào danh dự trong chóc lát để sau đó được nghỉ cả ngày cũng đở mệt chứ chẳng mất mát gì. Đây chỉ là một cuộc viếng thăm nghi thức chiếu lệ kể từ ngày thành lập trại L19. Riêng tôi thì tôi không nghĩ như vậy, đối với tôi đây sẽ là một dịp may để thức tỉnh bạn tù. Từ đôi ba ngày nay tôi suy tính tìm cách nào làm cho ban chỉ huy trại và phái đoàn trung ương phải giựt mình, dù chỉ giựt mình đôi chút thôi, chứ đừng tưởng rằng chấp tay sau đít đi một vòng thị oai như vào chổ không người, chẳng có ai dám hó hé thưa gởi gì cả. Tôi không ngửi nổi chuyện trên một nghìn cựu đại úy của quân lực VNCH bị cho ăn đói dù đã phải đóng tiền cơm mà chẳng hề thấy có một ai lên tiếng đặt vấn đề với trại. Đối với tôi, sự im lặng nặng nề như vậy của anh em cải tạo đồng nghỉa với sự khiếp nhược, một sự khiếp nhược cũng nặng nề ý nghỉa và hậu quả : là nhịp cầu cho VC xem thường, khinh bỉ. Như mọi người tôi có vẻ thờ ơ chờ đợi phái đoàn đến thăm đội của tôi và nhà bếp của đội, ngay bên cạnh lán 1. Phái đoàn cũng khá hùng hậu, gồm trên chục người mà hơn phân nửa là cán bộ của trại. Đám cán bộ trung ương cũng dễ nhận ra: họ ăn mặc bảnh bao hơn, cung cách ra vẻ quan liêu hơn, tướng tá phốp pháp hồng hào hơn. Họ không đeo quân hàm cũng chẳng có bản tên nên không thể biết được ai là ai cả. Từ hướng ban chỉ huy trại phái đoàn vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ, cứ tưởng chừng như họ đang dẫn nhau thong dong đi dạo mát. Họ chẫm rãi tiến vào giữa hai hàng tù đang làm hàng rào chào đón họ từ đầu trại đến cuối trại. Lại một cảnh trông thấy mà đau đớn lòng ! Theo sau phái đoàn là đám quản giáo nhóc con. Bọn chúng nó có vẻ thích thú, kênh kiệu khi được trên một ngàn đại úy của quân đội miền Nam mới đây thù địch mà nay đứng yên ngay hàng thẳng lối đón chào ! Mới ngày nào chỉ cần vài ba đại úy đó thôi cũng đủ làm cho chúng nó thất điên bát đảo !
Phái đoàn dừng lại ở đội 3, xem xét qua loa rồi bước qua đội 2. Ngó tới ngó lui, nhìn xuôi nhì ngược, chẳng ai thưa thốt, mọi việc đều tốt, phái đoàn lại vui vẻ đi về phía đội 1. Tôi vẫn bình tỉnh chờ đến lúc chạm mặt với phái đoàn trung ương sẽ chỉ cho họ vài điều cụ thể trước mắt xem ý của họ ra sao. Ý của VC ra sao tôi đã dư biết, nhưng cố tình chọc quê một phát cho bỏ tức. Tôi tức là vì kể từ sau khi làm bản tự khai, anh lán trưởng lán 2 ngay bên cạnh lán 1 đã hạ mình thấp hơn ngọn cỏ, cung kính và phục vụ tên quản giáo của  anh đến độ làm cho anh em cải tạo loại thủ cẳng nhứt cũng cảm thấy bực bội, nhục nhả. Thường lệ mỗi ngày vào khoảng 18giờ30 khi trời vừa chạng vạng tối, các quản giáo chia nhau xuống khu của cải tạo để « làm việc » với các lán trưởng trong vòng 30 phút trước khi vào lán sinh hoạt chung với cả lán cho đến 21 giờ. Quản giáo và lán trưởng giao ban ở ngoài sân ngay trước mỗi lán. Trong 30 phút giao ban đó, quản giáo chỉ thị công tác ngày hôm sau để các lán trưởng nhận và phân phối lại cho anh em thi hành. Phần các lán trưởng phải báo cáo tình hình chung của lán trong ngày về mọi mặt và nhứt là tình hình riêng của vài cá nhân để trại có « phương thức giúp đở » ! Đây chính là yếu điểm vô cùng tế nhị của vai trò lán trưởng : nếu thuộc loại yếu bóng vía lán trưởng sẽ là mối nguy hại cho anh em trong lán vì anh sẽ « thành khẩn khai báo » bất cứ gì với quản giáo để tránh trách nhiệm. Nếu lán trưởng thuộc loại cầu tiến thì càng nguy hiểm hơn vì anh ta sẽ lợi dụng « chức vụ » để làm bất cứ gì, dù có phải hy sinh anh em, để được xét là tiến bộ với hy vọng sớm được về với gia đình, hay ít ra cũng tạm được « an tâm tư tưởng học tập… ». Lúc loạn ly nguy biến, cúi đầu khom cật, dẫm lên nhau để thoát lấy thân, để sống còn, tự nghìn xưa vẫn là lý của kẻ thấp kém yếu hèn, tham sinh úy tử. Với phương thức nầy CS đã buộc đa số tù cải tạo phải ở vào thế thủ, ít ra là cũng trong thời gian đầu rất cần thiết cho chúng nó trong cố gắng kéo dài hiệu quả của diệu kế « 10 ngày học tập », một loại thuốc an thần dành cho đám tù khi VC chưa có đủ phương tiện để củng cố bộ máy kiềm kẹp trong các trại cải tạo đang mọc lên như nấm khắp nơi trong nước. Có lẻ vì không tin tưởng lán trưởng do trại chỉ định nên anh em đã đề nghị với quản giáo Trung để tôi làm lán trưởng thay cho đại úy Khánh do trại chỉ định từ mấy tuần lễ trước: anh em nhận thấy Khánh hiền lành đến độ lờ quờ ! Thiệt thà là cha dại nên anh em lo xa cũng phải.
Anh lán trưởng lán 2 thuộc loại cần tiến bộ, hoặc cần sự che chở của quản giáo vì cái quá khứ của anh không được tốt đẹp đối với Cách Mạng, bằng chứng là sau khi làm bản tự khai năm lần bảy lượt, anh đã được mời lên ban chỉ huy trại làm việc luôn mấy ngày liền. Công việc giao ban mỗi chiều giữa lán 1 và lán 2 hoàn toàn khác biệt nhau đến độ làm cho một số anh em trong lán 1 đâm ra lo lắng trước cách tôi đối xử với quản giáo Trung. Thật ra tôi chẳng có làm gì quá đáng, có quá đáng chăng là anh lán trưởng lán 2 đã biến buổi giao ban thành một nghi lễ : trước khi quản giáo đến, anh đã áo quần tề chỉnh, tự tay quét dọn sạch sẽ góc sân ngay trước lán ; dựa vách cạnh bên cửa lán anh có đặt một cái băng đề quản giáo ngồi, trước băng anh cẩn thận đặt thêm một cái bàn nhỏ trên anh để sẳn một điếu cầy. Anh đã biến tên quản giáo nhóc con kia thành một tiểu thái thú ! Hắn xem anh cựu đại úy của miền Nam không vào đâu cả mặc dù hắn chỉ là một tên bần cố nông. Khi tên quản giáo đến, anh lán trưởng cung kính chấp tay khẻ cúi chào ! Sau khi tên quản giáo ngồi yên, anh tự tay dâng điếu cầy mời và châm lữa ! Cuộc nghênh đón như vậy thật là hoàn hảo, còn ai hơn được. Tôi buồn bực tự hỏi không biết anh bạn học kia có biết danh dự và sỉ nhục là cái quái gì chăng ?
Phần tôi thì trái ngược hẳn : dù biết rằng sắp tới giờ giao ban nhưng không khi nào tôi ra sân trước lán để đón quản giáo. Thường khi quản giáo đến phải chờ anh em đi tìm tôi về giao ban. Tôi chẳng đi đâu xa, chỉ lẩn quẩn quanh lán nhưng cố tình để hắn chờ. Tử tế lắm thì tôi nằm trong lán đấu láo với anh em, khi Trung đến tôi chỉ việc bước ra sân trước lán là buổi giao ban bắt đầu. Cả hai chúng tôi đều ngồi chồm hổm chứ tôi cũng chẳng thèm đem ghế ra mời Trung, mặc dù lúc đầu tôi rất khổ tâm với thế ngồi nầy : cái thùng nước lèo còn khá tròn nên tôi cứ bị té ngửa ra phía sau ! Tôi đã cố tình đối xử với Trung như vậy vì tôi muốn cho Trung và các đồng chí của hắn thấy và hiểu rằng tôi và đồng bọn của tôi không phải là những kẻ vào đây để hầu hạ chúng nó. Trong lúc giao ban, tôi xem Trung như em út, như một tên đệ tử ! Ban đầu có lẻ do học tập nội bộ, Trung có ý muốn thị oai với tôi, xem tôi là một tên tù không hơn không kém, nghỉa là trong vòng tay sinh sát của hắn. Nhưng chỉ đôi ba tuần lễ sau, Trung đã hiểu ra là hắn không làm sao đứng trên, đứng trước tôi được. Và tự động hắn trở nên nhỏ nhẹ, lễ độ hơn đối với tôi, nhứt là sau khi tôi cho hắn mấy viên thuốc Chloroquine để tạm ngăn chận cơn sốt rét rừng đang hành hạ hắn đều đều. Trong buổi giao ban đầu tiên với tôi, Trung đã hỏi tôi với giọng xấc xược :
- Nghe nói anh là y sĩ ? Vậy cái bằng của anh, anh mua mất bao nhiêu tiền ? Miền Nam tư bản cái gì cũng bán, cái gì cũng mua được có đúng thế không ?
Trung chỉ xem tôi là cấp « y sĩ », tức là cấp thấp nhứt chỉ vừa trên cấp y tá và cũng từ y tá mà ra. Trong chế độ của CS miền Bắc, bác sĩ là cấp đã tốt nghiệp đại học y khoa Hà Nội nhưng không có luận án tiến sĩ. Tôi không giận, nhìn hắn cười và nhỏ nhẹ rằng :
- Vâng, trong chế độ tự do tư bản, bán cái gì cũng được, mua cái gì cũng có, nhờ vậy nên trong Nam kể ra cũng dễ sống. Tuy nhiên cũng có thứ không làm sao mua được cả, dù anh có tiền rừng bạc biển đi chăng nữa : đó là sự hiểu biết và tư cách !
Nghe tôi nói thế nhưng Trung vẫn chưa chịu thôi, tiếp tục hỏi thêm một câu hết sức trẻ con, ngây ngô :
- Thế thì anh đã học, đã đọc được hết bao nhiêu quyển sách ?
Tôi nhìn Trung cười, nghe chán nản trong dạ :
- Tôi cũng chẳng biết là đã đọc hết bao nhiêu quyển để trả lời anh. Tôi chỉ có thể nói với anh thế nầy : số sách mà tôi đã đọc qua, nếu chồng quyển nầy lên quyển kia, sẽ có thể cao gắp vài lần con người của anh !
Trung nghe xong lặng im không nói năng gì nữa. Từ đó anh có vẻ thận trọng hơn đối với tôi ; dần dà anh trở nên lễ độ hơn, rồi thân mật và cuối cùng anh rất quí mến tôi ! Về sau nầy, thỉnh thoảng Trung hay tâm sự với tôi trong những lúc giao ban, nhờ vậy tôi được biết Trung cũng đã học đến lớp đệ thất, đệ lục gì đó ; khi đã được 18 tuổi, anh bị bắt đi nghỉa vụ cho đến nay đã 25 tuổi mà chưa được một lần về phép thăm bố mẹ. Kể ra anh là người có trình độ hơn các đồng chí của anh. Anh viết chữ ngay hàng thẳng lối và tương đối khá nhanh chứ không ngoằn ngoèo, nguệch ngoạc như cua bò. Trong những lúc chuyện trò, anh chứng tỏ là kẻ biết suy nghĩ, chứ không hoàn toàn là két như Vẹm ! Tôi đã tận dụng những cơ hội cũng như những lúc giao ban để cố gắng mở mắt anh ra, chỉ cho anh thấy được điều hay lẻ phải…Lần đổi tiền đầu tiên, tôi được đổi 20 đồng tiền mới, tôi đã cho Trung 15 đồng, ba tháng tiền lương bộ đội của anh ! Trung rất kinh ngạc và tự nhiên là từ chối. Với giọng nghiêm trang nhưng nhỏ nhẹ từ tốn của một người anh, tôi bảo Trung hảy cầm lấy số tiền chẳng có là bao đó và cuối tuần đón xe đò đi Sài Gòn một lần cho biết thế nào là cái thủ đô nổi tiếng của miền Nam. Trung vẫn không dám nhận, nhưng tôi đã cam kết với Trung rằng việc nầy ngoài anh và tôi ra sẽ không bao giờ có ai khác biết được. Số tiền đó đối với tôi chẳng có là bao, vả lại hiện giờ nó vô dụng, trong khi đó anh đã vào tới đây rồi, cách Sài Gòn không bao xa mà không đi thăm một lần cho biết thì thật là đáng tiếc. Tôi đã thuyết phục anh phải đi thăm Sài Gòn để khi trở về Bắc anh có dịp kể lại cho gia đình, bạn bè cùng nghe. Đó cũng chính là một điều hảnh diện cho anh. Sau cùng Trung đã nhận khi anh đã hiểu được rằng tôi không hề có một hậu ý nào nhằm mua chuộc hay nhờ cậy gì anh cả. Tôi xem Trung như một em út và chỉ muốn cho anh mở mang và mở mắt ! Và anh đã thực hiện được điều anh hằng mơ ước : đặt chân lên đất Sài Gòn ! Anh đi Sài Gòn ngày cuối tuần, trong buổi giao ban chiều thứ hai anh đã dành gần hết thời gian để kể chuyện Sài Gòn cho tôi nghe với nhiều hứng thú, khích động, cho cả anh lẫn tôi ! Những gì anh thấy, anh nghe đã tác động mạnh mẻ lên tâm não anh. Tôi cảm thấy 15 đồng mà tôi cho anh đã đáng giá ngàn vàng. Anh tâm sự với tôi rằng Bác và Đảng đã từng dạy là Sài Gòn nghèo khổ lắm, người dân đa số chỉ có xà lỏn với áo thun, ăn cơm trong gáo dừa chứ không có được cái chén, cái dĩa ! Nhà cửa thì lụp xụp, xe cộ chẳng có là bao, đa số đều đi bộ…Tóm lại Sài Gòn rất nghèo vì bị Mỹ Ngụy bóc lột và cần được giải phóng ! Nhưng thực tế trước mắt đã giúp anh, trong cái chớp mắt, hiểu ra sự thật ở đâu ! Và kể từ đó, Trung ngày càng thay đổi nhiều từ suy tư đến cách đối xử với tôi. Đôi ba tuần lễ sau, Trung lại dự định đi Sài Gòn một chuyến nữa. Trước khi đi, trong buổi giao ban chiều hôm trước, Trung hỏi tôi có muốn nhắn gởi gì cho gia đình không, anh sẳn sàng giúp tôi vô điều kiện và trong kín đáo. Tôi nhìn Trung không chớp mắt, vừa ngạc nhiên, vừa nghe sung sướng : một niềm vui nhẹ nhàng, bao la như từ từ ôm chặc lấy tôi, cho tôi cái cảm giác lâng lâng như đang trong vòng tay của một người đẹp Liêu Trai! Tôi muốn khép mắt lại không nhìn thấy Trung nữa để tận hưởng cái giây phút ngây ngất của một kẻ chiến bại vừa thắng cuộc…Tôi cảm ơn Trung và nói với anh là tôi chẳng có gì để nhắn, để gởi cả. Trung có vẻ rất ngạc nhiên nhìn tôi như chẳng hiểu : ai cũng muốn tìm mọi cách để nhắn tin về gia đình, trong khi đó tôi lại từ khước đề nghị của anh ! Chỉ vì tôi muốn cho Trung thấy rằng tôi chỉ vì anh mà thôi chứ chẳng hề có một ý nghĩ nào sẽ lợi dụng anh cả. Chẳng riêng gì cho Trung, tôi đã cố tình đối xử với Trung như vậy là cốt để cho anh em bạn tù thấy và hiểu rằng không phải chỉ có súng đạn mới khuất phục được địch quân, và không có lý do nào phải khòm lưng cúi đầu trước bọn người dốt nát ngu si : còn cái nhục nào hơn đối với những kẻ có ít nhiều « khoa bảng » ?
Trước thái độ của anh lán trưởng lán 2, đôi khi tôi muốn đến gặp và « lên lớp » anh ta, nhưng nghĩ lại có khi chỉ thêm rắc rối chứ chẳng được tích sự gì nên lại thôi. Mở mắt một kẻ dốt nát vì hoàn cảnh như Trung dễ hơn là đối với một người hiểu biết khôn lanh nhưng hèn mạt. Tôi hơi buồn vì thấy rằng sao anh chàng lại ngây thơ đến thế : mấy tên quản giáo quèn kia làm gì có quyền lực để bao che cho anh đâu. Anh vẫn còn sống trong cơn mê của miền Nam vừa qua, vẫn chưa quên được thói đút lót, lòn cúi, nâng bi. Phần tôi, ngay từ đầu, tôi đã chọn lấy con đường riêng cho tôi, theo lời cha tôi vẫn thường nhắc nhở : Đức trọng quỉ thần kiêng. Trước đây lấy vũ lực áp đảo tinh thần của địch, nay chỉ còn cái tư cách đường đường chính chính của người quân tử để khuất phục kẻ chiến thắng, một lủ bần cố nông, ngông cuồng. Dù rách cũng phải giữ lấy lề. Vì thế nên tôi mới nẩy ra ý lợi dụng dịp tham quan nầy của phái đoàn thanh tra để đánh thức anh em đồng thuyền đồng hội với dụng ý làm sống lại trong họ hai tiếng Danh Dự và Trách Nhiệm để rồi hy vọng từ đó họ sẽ tự nhận ra bổn phận và tìm ra phuơng thức hành động sau nầy. Dự tính nầy của tôi đến Tân cũng không được thông báo…
  
Phái đoàn rồi cũng đến trước lán 1. Tôi thông thả đứng yên ngắm các cán bộ trung ương. Liếc mắt thấy anh thủ trưởng « FM đầu bạc » của T1, tôi mỉm cười và khẻ nghiêng đầu chào. Hắn ta cũng khẻ gật đầu chào trả lại trước sự chú ý có đôi chút ngạc nhiên của tên cán bộ trung ương có vẻ là trưởng đoàn. Tên trưởng đoàn nầy trạc tuổi với thủ trưởng FM đầu bạc, vào khoảng ngủ tuần. Hắn quay người lại nhìn tôi ; tôi cũng khẻ xoay đầu lại nhìn hắn, mỉm cười. Hắn nhè nhẹ gật đầu vừa như để đáp lại cái chào kín đáo của tôi, vừa như để tỏ dấu tán thưởng sự liên hệ giửa tôi và thủ trưởng T1 :
- Anh em ở đây có vẻ hài hòa, doanh trại lại sạch sẽ, khang trang ?! Như thế là tốt đấy.
Cảm thấy vừa may mắn thành công trong việc bắt nhịp cầu giao cảm đối thoại, tôi liền chụp ngay cơ hội, phá lệ trước sự kinh ngạc ngẩn ngơ của các quản giáo, của thủ trưởng T1 và của cả anh em cải tạo. Cố giữ vẻ tươi tỉnh, tự nhiên, bình thản, tôi bước vài bước về hướng phái đoàn, lên tiếng chào mừng họ đúng khuôn phép. Tên cán bộ trưởng đoàn có hơi giựt mình nhưng cũng đáp lễ đàng hoàng và ngỏ ý muốn tôi tự giới thiệu với một giọng điệu đượm mùi phách lối của kẻ được thời được thế. Với đôi mắt biểu lộ ít nhiều vẻ ngạc nhiên, hắn ta nhìn tôi như cố ghi khắc hình ảnh tôi vào tâm trí. Tôi vẫn giữ vẻ tự nhiên, nhỏ nhẹ :
- Thưa anh, tôi là Nguyễn văn Dõng, lán trưởng lán 1. Rất hân hạnh được các anh hôm nay đến thăm và có lời khen.
Và tôi ngang nhiên giữ luôn vai trò chủ lễ, mời phái đoàn vào thẳng nhà bếp, « thuyết minh » luôn một lèo về sự ăn uống không có chất lưọng gì cả, mặc dù Cách Mạng bắt phải đóng tiền cơm hàng tháng. Phần gạo đã rất ít mà có khi lại là thứ gạo quá cũ mụt nát pha trộn với nhiều cát sạn. Tôi chỉ cho họ xem thúng cải củ và 5,7con gà đặc biệt dành cho buổi tham quan hôm nay và cho trên 280 người trong đội của tôi ! Tôi cũng không quên nêu rõ với tên trưởng đoàn là cụ thể với số củ cải trong thúng, mỗi phần sẽ được không quá 5, 7 lát dày độ 5 ly ! Còn về phần mấy con gà thì tùy vào trí tưởng tượng của hắn ! Gạo thì hôm nay, vì là một ngày đặc biệt, nên đạt tiêu chuẩn chứ không phải gạo mụt như mọi khi. Trong lúc tôi trình bày tình hình ẩm thực, tôi cảm thấy xung quanh tôi là một sự im lặng nặng nề nhưng cũng không thiếu phần thích thú. Tôi luôn dán chặc đôi mắt vào tên trưởng đoàn, nhận thấy hắn ta có vẻ lúng túng, suy tư trong lúc đang cúi người xuống quan sát thúng cải củ và thúng gạo. Cuối cùng hắn ta ngẩng lên khẻ liếc nhìn tôi, nét mặt tuy chưa đến đổi cao có khó chịu nhưng đà mất vui, rồi quay sang các anh em cải tạo đang vây quanh hứa rằng sẽ xem lại vụ nầy.

Mấy ngày sau, việc ăn uống có phần khả quan hơn một chút xíu ! Tôi để ý một điều là quản giáo Trung không hề có một lời trách cứ tôi về việc đã không chấp hành nội qui nghiêm túc. Nhưng Tân đã nghĩ ra và lo cho tôi. Tân lo vì Tân cũng không đền đổi mù tịt về bản chất của chế độ cộng sản, nhứt là khi đã có dịp gần gủi một ông bác, ông Trần Dương, một chuyên viên tài chánh, tập kết ra Bắc và vừa được gởi trở vào Nam. Gia đình của Tân đã phải chứa chấp lo nơi ăn chốn ở cho ông. Chính ông đã kể nhiều chuyện về chế độ và về bản thân của ông, cũng như cung cách ăn ở của ông đã làm cho Tân hiểu rõ thêm chế độ của miền Bắc.Vì biết nên Tân mới lo cho tôi :
- Chưa biết chúng nó sẽ làm gì mầy đây. Chắc chắn là chúng nó sẽ không khi nào để mầy yên đâu.
Tôi chẳng phải chờ đợi lâu, chỉ một tuần lễ sau, trong một buổi sinh hoạt tối, quản giáo Trung có vẻ trầm ngâm, nghiêm nghị hơn thường lệ. Anh nói nhiều hơn là để anh em trong lán sinh hoạt với nhau như từ trước. Sau cùng anh mới trở lại việc tôi đã thưa thốt với phái đoàn tuần trước, không phải để trách cứ gì tôi, nhưng điều làm tôi ngạc nhiên, anh lại chống chế cho việc anh em cải tạo ăn uống chưa đúng tiêu chuẩn.Tuy ngạc nhiên nhưng tôi cũng yên tâm dù không hoàn toàn vì Trung bổng dưng hỏi anh em trong lán :
- Từ ngày nhập trại đến bây giờ, anh em có gì vướng mắc cần được trại giúp đở giải quyết hay không ?
Cả lán xôn xao nhìn nhau như chẳng hiểu. Tân thì đã rót nhẹ vào tai tôi :
- Đó, mầy thấy chưa ?
Tuy vẫn bình thản, mỉm cười nhưng trong lòng tôi đà sôi động : tôi không thể bỏ qua dịp nầy để chọc chúng nó thêm một mẻ nữa. Tôi sẽ thay mặt cả lán nêu lên vài điều vướng mắc như chúng nó muốn. Cái khó cho tôi là phải nêu như thế nào và nêu những vấn đề gì để chỉ có hiệu năng chọc quê chúng nó mà không bị chúng nó bẻ gảy. Để cho anh em ồn ào bàn tán với nhau một lúc, Trung mới lên tiếng nhắc lại :
- Anh em có điều gì cần tôi báo cáo lại với ban chỉ huy trại không ?
Anh em bớt ồn ào nhưng không anh nào lên tiếng. Tôi liền từ từ đứng lên và cả lán bổng nhiên lặng im lạ lùng ! Tôi cười thầm trong bụng, nghĩ rằng anh em có lẻ đang lo tôi lại giở trò cà chớn như vừa qua chỉ được cái gây thêm phiển phức cho tôi và cho hết cả mọi người. Sau khi liếc mắt nhìn anh em một vòng, tôi quay mặt về phía Trung, chẫm rãi nêu từng vấn đề một :
- Anh Trung đã có nhã ý giúp chúng  tôi chuyển đạt lên ban chỉ huy trại những gì chúng tôi còn vướng mắc để trại sẽ giải quyết. Xin cảm ơn anh. Tôi mạn phép thay mặt 72 anh em trong lán để nêu lên với ban chỉ huy trại một vài vấn đề có thể nói là còn vướng mắc. Trước hết là việc học tập, chúng tôi muốn biết là bao giờ thì mới bắt đầu học ?
- Việc thứ hai là trại đã không ngừng nhắc nhở học tập tốt, lao động tốt, bao giờ tiến bộ thì về. (Và tôi không quên chỉ tấm bảng đỏ có vẽ hàng chữ đó màu vàng đóng trên vách trái của lán. Vách bên phải là một tấm liểng khác mang dòng chữ : Sự nghiệp của Bác sống mãi trong lòng chúng ta, thay vì câu Thắng lợi, thắng lợi, đại thắng lợi với ngụ ý đợi thắng lại mà tôi đã đề nghị nhưng anh em trong lán bác bỏ). Vậy xin trại cho biết rõ tiêu chuẩn nào cần đạt đến để được xem là tiến bộ ? Ví như việc học hành thi cử, phải có tiêu chuẩn điểm trung bình nào đó để được chấm đậu.
- Việc thứ ba là Cách Mạng đã ra chỉ thị chuẩn bị thức ăn cho 10 ngày học tập, sau 10 ngày tại sao trại lại bắt chúng tôi đóng tiền cơm? Đã đóng hai tháng rồi, đến tháng nầy trại vẫn cứ bắt chúng tôi tiếp tục đóng, thế chúng tôi sẽ phải đóng tiền cơm đến bao giờ ? Đến khi nào chẳng ai còn một đồng nào trong túi có phải không ?
- Việc thứ tư : khi ra chỉ thị chuẩn bị thức ăn cho 10 ngày học tập, phải chăng Cách Mạng có hậu ý đánh lừa dư luận,  muốn cho mọi người hiểu lầm rắng chúng tôi chỉ đi có 10 ngày rồi trở về ? Như thế gia đình sẽ được yên tâm và tránh cho xã hội có thể bị xáo trộn ?
- Việc thứ năm : Cách Mạng không bao giờ nhìn nhận là cho chúng tôi đi tù, chỉ đưa chúng tôi vào đây để bảo vệ an ninh cho chúng tôi không bị nhân dân trả thù. Vậy thì lý do nào mà trại không cho chúng tôi viết thư cho gia đình và cũng không cho gia đình được biết chúng tôi đang bị giam ở đâu ?
- Việc thứ sáu : Cách Mạng không có khả năng chửa trị các chứng bịnh đang ngày càng hoành hành anh em chúng tôi, thế tại sao trại không chịu cho gia đình gởi thuốc men vào để chúng tôi tự chửa trị lấy, các y nha dược sĩ trong T1 nầy có đến trên vài ba chục người chúng tôi thừa khả năng để làm việc đó.
- Việc thứ bảy : cách đây mười hôm, có một cụ già đi tìm thân nhân, đã nhận ra người cháu của ông đang lao động ngay trước cổng trại. Ông đến bên anh bộ đội canh gát xin phép được gặp và trao nải chuối cho người cháu. Anh vệ binh đã không cho còn chửi tục và dùng báng súng đẩy ông già ngã lăn xuống ruộng, may mà ông không bị thương tích chi. Trước hành động bất nhân đó của vệ binh trại nghĩ sao ?
Tôi đã nói rất chẫm rãi để quản giáo Trung kịp ghi chép vào quyển vở của anh trong sự im lặng, thích thú hồi hộp của cả lán. Nghĩ cho cùng thì những điều tôi vừa nêu lên chẳng có gì để trại có thể vinh vào đó mà làm khó dễ hay bẻ gảy tôi, ngoại trừ hai chữ bất nhân. Tuy có phần bạo phổi với hai tiếng « bất nhân » nầy, nhưng rõ ràng tôi chỉ nói đến tên vệ binh của chúng nó mà thôi dù có ẩn ý ám chỉ toàn bộ chúng nó.Tôi tin chắc là lúc bấy giờ trong toàn trại không có một tên tù nào lại tối dạ như tôi : đi đặt những vấn đề không đâu với trại lại còn dám nhiếc chúng nó là đồ bất nhân, chỉ để rước lấy phiền lụy vào thân.
Ngày hôm sau anh em còn tiếp tục bàn tán về buổi sinh hoạt có vẻ bất thường của chiều hôm trước, nhưng những ngày kế tiếp câu chuyện cũng đi vào quên lảng không còn ai nhắc đến, ngoài Tân và tôi. Tân có vẻ lo cho tôi. Nhưng Tân lo một thì tôi lo đến trăm lần. Đêm ngày tôi suy tính gắp rút tìm cho ra phương thức hay nhứt để có thể đối phó hữu hiệu với đám chính ủy mà tôi đoán chắc là đang hợp nhau lại điều nghiên những điều vướng mắc của tôi để rồi sẽ hỏi tội tôi nay mai. Gần một tuần lễ trôi qua mà tôi vẫn bình an vô sự. Đến ngày thứ bảy, toàn bộ T1 được miển lao động. Tất cả tù cải tạo được lịnh tập hợp ngoài sân quanh mỗi lán. Riêng lán 1 của tôi, mọi người ngồi yên tại chổ, chỉ có toán anh nuôi là được tiếp tục công tác để lo buổi cơm trưa. Cuộc tập hợp xong xuôi trước 8 giờ sáng. Trong khi chờ đợi, anh em trong lán đều nhìn tôi với ít nhiều lo lắng. Tân thì rất bồn chồn, không yên. Tôi phải trấn an hắn :
- Mầy cứ yên chí. Chúng nó không đủ khả năng để bắt bẻ tao đâu. Mầy cứ bình tỉnh mà xem.
Giây lát sau đã thấy thủ trưởng FM đầu bạc và tên chính ủy trung đoàn dắt nhau xuống thẳng lán 1. Theo sau có chính uỷ của T1, các chính ủy của các đội và quản giáo Trung. Tổng cộng là tám tên thêm hai tên vệ binh với AK cầm tay ! Khi phái đoàn đã vào hết trong lán, hai tên vệ binh chia nhau một gát cửa sau, một canh cửa trước, chúng nó làm như sợ tôi hải quá mà bỏ chạy ! Tất cả 7 tên đều đứng tập trung ở đầu trên của lán, ngay sau cửa ra vào. Quản giáo Trung đứng lui về phía sau. Trước bầu không khí khá căng thẳng nầy, anh em trong lán đều ngồi im phăng phắc như sẵn sàng chờ đợi chuyện chẳng lành. Chẳng đợi mời vì đã biết thân phận mình, tôi từ từ đứng lên đối diện với đám chính ủy cách tôi chừng năm ba bước. Trung chỉ đứng cách tôi đôi bước về phía sau, trên con đường giữa chia lán làm hai phần giường tập thể. Sau khi giải thích lý do buổi sinh hoạt đặc biệt nầy, thủ trưởng T1 đã để hơn 30 phút giải đáp và giải thích vài ba điều thắc mắc tôi đã nêu lên liên quan đến việc ăn, việc học. Những vấn đề rất tầm thường, không có chút hơi hám gì là phản động nhưng vẫn là đề tài để  thủ trưởng khiển trách tôi tuy là nhẹ nhàng. Đề cập đến chuyện 10 ngày học tập, tên thủ trưởng đã châm biếm rằng có ai nói là chỉ học tập 10 ngày đâu.Và hắn ta đã cười với giọng của kẻ chiến thắng :
- Mỹ Ngụy đã nhồi nắn các anh trong bao nhiêu năm để trở thành những tên cực kỳ phản động. Có người đã xâm vào mình mấy chữ Sát Cộng, Diệt Cộng ! Các anh liệu 10 ngày có đủ để cải tạo các anh thành những con người mới xã hội chủ nghĩa hay không ?
Câu nói của hắn nghe xanh dờn, nhưng tôi thấy nhẹ người và thầm cảm ơn hắn hết mình : hắn ta vừa mở mắt đám Ngụy còn ngáy ngủ, đã vào tới chốn ngục tù mà vẫn còn ngu ngơ ngù ngờ. Khi đề cập đến việc Ngụy phải đóng tiền cơm tháng, hắn đã tỏ ra khá tinh tế :
- Cách Mạng hiện còn gặp nhiều khó khăn, vì thế nên tạm thời phải thu tiền cơm của các anh. Nhưng Cách Mạng đâu có bắt tất cả đều phải đóng : ai có mang tiền theo thì đóng góp giúp Cách Mạng giải quyết việc nuôi ăn, ai không có thì thôi. Cách Mạng đâu có ý móc túi các anh đâu !
Vừa nghe hắn ta nói xong tôi cũng hơi giựt mình, kể ra hắn cũng không đến đổi tệ lắm : đã đoán hiểu được thâm ý xách mé của tôi nhưng không xài xể tôi. Và từ đó trại không còn kêu đóng tiền cơm tháng nữa. Tiếp theo là nhiệm vụ của các chính ủy, đặc biệt là chính ủy của trung đoàn và của T1. Cả hai thay phiên nhau lên án tôi gay gắt, hung hăng chứ không nhẹ nhàng lễ độ như thủ trưởng trong gần ba khắt đồng hồ vừa qua. Tôi đã nghĩ không sai, bọn chúng đã tập trung lý luận để khăng khăng đề quyết rằng tôi đã dám mắng Cách Mạng là vô nhân đạo. Tôi rất ý thức là mình đang giởn mặt với tử thần : đối với cộng sản, đừng dại dột đụng vào Bác và Đảng, cái tội phạm thượng đó chỉ có chết.
Hung hản nhứt vẫn là tên chính ủy trung đoàn. Tôi có cảm tưởng đây là cơ hội cho hắn chứng tỏ khả năng và tài ăn nói không những đối với Ngụy cải tạo mà còn cả với các đồng chí của hắn. Sau một lúc khá lâu thao thao bất tuyệt về tính ưu việt, khoan hồng nhân đạo của Cách Mạng, hắn quay trở về với tôi. Lần đầu tiên tôi bị hắn quở trách về việc đã không chấp hành nghiêm túc nội qui của trại khi tôi ngang nhiên trực tiếp nói chuyện với phái đoàn thanh tra vừa qua. Theo hắn thì cái cung cách bất chấp nội qui trại của tôi đã biểu lộ cái tính chất cực kỳ phản động của tôi. Tiếp đó hắn ồn ào kết án tôi đã dám mắng Cách Mạng là vô nhân đạo sau khi sỉ vả tôi thậm tệ về cái cung cách cực kỳ phản động vừa qua, không những của tôi mà thôi mà còn của cả gia đình tôi và cả dân miền Nam ! Đến đây tôi không còn thể nào đứng yên để nghe hắn xài xể nữa. Tôi liền đưa tay lên tỏ ý muốn phát biểu. Hắn ta ngưng nói, có vẻ ngạc nhiên, nhìn tôi trừng trừng, trong khi tên thủ trưởng ra hiệu cho phép tôi được nói. Tôi thật không ngờ được tự do ngôn luận ! Tôi biết đây là một cơ may lớn, là cánh cửa mở rộng để tôi có thể thoát thân. Tuy đã trấn an Tân rằng chúng nó không đủ khả năng để bắt bẻ tôi, nhưng tôi vẫn canh cánh lo ngại chúng nó bịt miệng tôi lại thì làm sao đối phó. Từ đầu đến giờ chỉ có chúng nó múa gậy vườn hoang chứ tôi có nói được tiếng nào đâu. Cái may của tôi chính là do cái tính cao ngạo, tự phụ của đám cán ngố : chúng nó tự tin vào những « lý luận ưu việt » mà Bác và Đảng đã nhồi nhét vào đầu bọn chúng, trong khi chúng rất dốt về tình hình của địch thủ, bằng chứng là quản giáo của tôi đã tin rằng trong Nam rất nghèo đói, bắng cấp chỉ có bỏ tiền ra mua! Khi được phát biểu việc đầu tiên là tôi cảm ơn thủ trưởng đã cho anh em biết là việc học tập cải tạo đòi hỏi nhiều thời gian, tuy không nói rõ là bao lâu vì cái đó hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Tiếp đó, tôi quay sang tên chính ủy trung đoàn, với giọng cứng rắng hơn, tôi xác nhận với hắn rằng tôi phản động, và có thể rất phản động như hắn vừa nói ; vả lại tất cả anh em ở đây đều phản động, hắn không cần phải nhắc nhở chúng tôi điều đó, nếu không thì nhốt chúng tôi vào đây làm chi ? Khi nêu lên điều nầy có khác nào tôi cho việc CS rêu rao rằng tập trung chúng tôi vào trại là để bảo vệ chúng tôi khỏi bị dân chúng trả thù chỉ là một trò lừa bịp, láo khoét chẳng ai tin ! Tôi liếc nhìn quanh lán thấy anh em có vẻ xôn xao, lo lắng vì những lời nói quá trắng trợn gần như thách thức của tôi, lại còn lôi kéo tất cả vào cuộc ! Nhưng ngoài sân cạnh bên lán lại có tiếng vổ tay của một số anh em đã châm chú theo dõi cuộc đôi co trong lán. Liền đó có tiếng của vệ binh quát lên bảo im và cấm vổ tay ! Tiếng vổ tay như châm dầu vào lửa giận của tên chính ủy, hắn cướp lời tôi và lớn tiếng xài xể tôi đủ điều và sau cùng không ngần ngại hăm dọa tôi. Đến đây, một sự việc hết sức bất ngờ xảy ra làm cho đám cán bộ giựt mình, kinh ngạc, và anh em trong lán có vẻ thich thú nhưng không dấu được ít nhiều âu lo : Hồ Thiện Hiền, ở tổ 3 đối diện với tổ của tôi, chẳng cần xin phép ai cả, tự động đứng lên, nhảy vào vòng chiến bênh vực tôi bất chấp mọi phiền lụy. Người gầy nhưng giọng nói sang sảng, lý luận chắc lẻm, Hiền đã ngang nhiên bác bỏ tất cả những lời buộc tội tôi của tên chính ủy trung đoàn ! Hiền còn làm mạnh hơn : anh chỉ trích khá gắt gao những lời sỉ vả mạ lị tôi và dân Nam kỳ của tên chính ủy ! Hiền còn muốn nói thêm nữa, nhưng tên thủ trưởng đã kịp thời hoàn hồn, ra dấu ngăn Hiền lại và bảo anh ngồi xuống. Ngoài sân lại có tiếng vổ tay và lại có tiếng của vệ binh quát tháo bảo im ! Hiền chưa ngồi yên chổ, tôi liền « nổ » ngay chứ nhứt định không để cho tên chính ủy cướp lời. Cố dằn cơn giận dữ và giữ vẻ bình tỉnh, nhưng với giọng nói đanh thép hơn chứ không chỉ cứng rắn từ tốn nữa, tôi đã lấy 72 anh em bạn tù trong lán làm chứng và, nhìn thẳng vào đôi mắt của hắn, tôi thẳng thừng thách thức tên chỉnh ủy trung đoàn :
- Hiện giờ anh chưa có một dử kiện, một bằng chứng nào về đời sống riêng tư của tôi và gia đình tôi, xin anh chớ có hồ đồ lên án thế nầy thế nọ. Bây giờ tôi nằm trọn vẹn trong tay các anh, các anh muốn xử lý tôi cách nào, bao giờ chẳng được. Nhưng trước đó tôi yêu cầu anh cho người về nơi sinh quán của tôi, về nơi cư ngụ của tôi, về nơi tôi mở phòng mạch chửa bịnh cho dân chúng điều tra xem gia đình cha mẹ tôi là ai, như thế nào, cá nhân tôi ra sao v.v…Nếu đúng như anh đã nghĩ, đã nói thì anh cứ tự tiện xử lý tôi tùy thích. Bằng như ngược lại thì tôi chỉ yêu cầu anh từ nay nên thận trọng hơn trong lời nói! Tiện đây tôi chỉ mạn phép được nhắc nhở anh một chi tiết nầy : anh vừa không tiếc lời chê trách, mạt sát tôi và gia đình tôi, cũng như hầu hết dân miền Nam nầy là giai cấp tư sản bán nước v.v…Thế nhưng, anh có biết rằng vào những năm 1944-45, cha tôi và cả các anh chị tôi đã đứng lên chống Pháp trong chiến khu An Phú Đông đòi độc lập tự do cho dân cho nước, và suýt bị chúng hành quyết ? Tôi muốn biết trong thời gian đó anh đã làm được gì mà nay dám lớn tiếng mạt sát bọn tôi bán nước ?
Tôi chỉ nói đến chuyện gia đình suýt bị Tây sát hại mà tránh không nói tới chuyện bị Việt Minh hăm cho « mò tôm » ! Tôi dư biết rằng với số tuổi của hắn, trên dưới 40, thì vào khoảng thời gian đó ở ngoài Bắc hắn còn mặc quần đùi, che áo tơi và đi chăn trâu, nếu có trâu để chăn! Vì thế nên khi bị tôi đã táo bạo không ngờ, lại hỏi kiểu trẹo bản họng, hắn ta ngơ ngác người, lỏ mắt nhìn tôi, há hốc mồm, chẳng còn biết phải đối đáp ra sao nữa. Tôi cố dằn cơn giận, giữ yên ba tất lưởi trong miệng vì ý thức rằng nếu tiếp tục tôi sẽ đi thẳng vào địa ngục ! Tôi nhìn qua phía Hồ Thiện Hiền, thấy Hiền đang khe khẻ lắc đầu nhìn tôi với vẻ e ngại tuy ngoài miệng điểm nụ cười thích thú.
Ngoài sân lại có tiếng cười khúc khích nghe chừng vui vẻ, thích thú lắm, và có tiếng vổ lẹp bẹp: bị cấm vổ tay nên anh em ngồi bẹp xuống đất và đưa hai chân lên vổ ! Các cán bộ đứng đấy trợn tròn mắt lên nhìn chẳng biết nói sao ! Trong lúc đó đại úy Hùng, trợ y, đang ngồi cạnh bên tôi, kín đáo nắm lấy ống quần của tôi giật nhè nhẹ và khe khẻ bảo tôi cứ chối phăng hết đi cho xong chuyện. Hùng đã lầm to, nếu tôi chối chúng nó sẽ làm tới. Mặt khác nếu tôi nghe theo Hùng thì còn gì là tôi nữa, có lẻ nào tôi để cho đám cán ngố kia đắc thắng hay sao ? Và tôi làm sao có thể chịu đựng nổi sự khinh miệt của bọn chúng. Hùng đâu biết được cái đòn bí quyết mà tôi đã chuẩn bị để đánh đổ các lý luận của đám cán ngố kết án tôi mạ lị Cách Mạng là vô nhân đạo. Tôi không quên nhắc đi nhắc lại với tên chình ủy trung đoàn là tôi chỉ không bằng lòng hành động thô bạo của một vệ binh, chứ tôi không hề đá động gì đến Cách Mạng cả. Trong khi đang lo chạy tội nhưng tôi không làm sao nhịn không kê kích chúng nó được ! Tôi nhẹ nhàng « lên lớp » tên chính ủy, quên cả phiền lụy đang  cận kề :
- Các anh không ngớt bảo rằng con người mới xã hội chủ nghĩa có nếp sống tiến bộ, văn minh. Thế các anh có hiểu rằng con người có văn hóa văn minh không bao giờ đối xử khiếm nhã với tha nhân, trái lại luôn luôn biết kính lão đắc thọ, tiên trách kỷ hậu trách nhân ?…
Tôi cố ý « xổ nho » để dẫn dụ chúng nó vào mê hồn trận của ba tất « lưởi không xương nhưng nhiều đường lắc léo » với hy vọng sẽ thoát được nguy cơ.Tôi để ý một điều hơi quái lạ là bọn cán ngố hình như chỉ nhớ trong đầu ba chữ vô nhân đạo mà thôi, có lẻ nhờ Đảng nhồi nhét từ bấy lâu nay ; còn hai tiếng bất nhân mà tôi đã dùng chúng nó làm như không hiểu rõ nên không nhớ : tôi không nghe chúng nó nhắc lại. Đấy chính là cái khe hở giúp tôi có thể thoát hiểm. Tôi chụp lấy ngay cơ hội : tôi bỏ thêm dấu ngã vào chữ nhân để biến bất nhân (vô nhân đạo) thành ra bất nhẫn (không nở). Khi nghe tôi bình thản phân tách, giải thích mấy chữ bất nhân, bất nhẫn mà tôi cố ý pha trộn vào với « chùm nho » tôi vừa phun ra, bọn cán ngố đều chới với, ngẩn tò te ! Tôi quay về hướng quản giáo Trung, đứng cách tôi đôi bước và đang châm chú nhìn vào quyển vở như suy nghĩ về những gì anh đã ghi chép mấy ngày trước đó, và tôi yêu cầu anh xem lại trong sổ công tác của anh, xác nhận có phải tôi đã nói đúng như vậy hay không. Trung hơi chao mày và sau vài giây ngập ngừng anh đã gục gặc đầu xác nhận là tôi đã nói đúng như thế, anh có ghi chép vào sổ tay. Anh bước lên vài bước, đưa quyển vở về hướng thủ trưởng như để mời hắn soát lại và để chứng minh cho lời xác nhận của anh. Thủ trưởng ra dấu không cần thiết và Trung xếp quyển vở lại. Tôi thở ra, nghe người nhẹ nhỏm ! Trong cử chỉ và trong cái nhìn của tên thủ trưởng khi ra hiệu cho Trung, tôi thoáng nhận ra có cái ý gì như muốn bao che tôi và muốn giải quyết nội vụ nhanh chóng và êm thấm. Phần Trung cũng thế, khi bước lên ngang tầm tôi đứng, núp sau quyển vở mở ra mà anh đang cầm trên tay che ngang mặt, anh đã khẻ quay nhìn tôi thật nhanh như có ý vừa trách móc vừa bảo là sẽ bao che cho tôi, trước khi xác nhận là anh có ghi chép đúng lời tôi đã nói. Trung làm tôi hết sức kinh ngạc và thầm cảm ơn anh đã bất chấp những hậu quả có thể rất tai hại cho anh : anh vừa nói dối các đồng chí của anh. Tôi đã khẻ nghiêng người về phía Trung để nhìn vào quyển vở anh đang cầm nơi tay và thấy ngay hai chữ bất nhân anh ghi ở hàng cuối cùng.       
Được thể tôi tiếp tục giải thích chữ nghĩa cho các cán ngố nghe. Tôi không quên nhắc lại và nhấn mạnh đến việc tiếng Việt ở trong Nam và ở ngoài Bắc bây giờ lắm khi không còn cùng một ý nghĩa nữa, bằng chứng là từ ngày nhập trại đến nay đã có rất nhiều hiểu lầm giữa Ngụy và Cách Mạng…Kể từ giây phút đó, các cán ngố từ từ dịu giọng và cuối cùng rút lui trong êm thấm và không quên ra hiệu cho hai vệ binh cầm AK theo sau bảo vệ. Khi ấy mặt trời đã đứng bóng. Mọi người thở phào nhẹ nhỏm, nhứt là tôi tuy vẫn còn thấy trong đầu rất « căng », tưởng chừng như cần phải đục một lỗ cho xì bớt ra ngoài mới thật sự nhẹ được phần nào. Khi đám cán bộ đã đi được một khoảng đường về hướng ban chỉ huy trại, anh em mới thật sự bung ra, bàn tán ồn ào như vở chợ. Tôi cũng theo anh em bước ra sân để thở không khí trong lành hơn cho được nhẹ người đôi chút. Vừa thấy tôi, một số anh em đã xúm lại xốc tôi đưa lên cao và vồ tay vang rền. Đoàn cán bộ vừa đến cuối sân liền dừng lại quay nhìn, và hai tên vệ binh đưa súng lên vai hướng về phía chúng tôi làm như sẳn sàng cướp cò. Biết chúng nó dư khả năng làm quảng làm tiều nên anh em lẹ làng bỏ tôi xuống đất đã nổi sình do đám mưa chiều hôm qua và nhanh chân tan hàng, cũng vừa đúng lúc để đi lảnh cơm trưa. Trong suốt bửa cơm trưa hôm đó và luôn cả mấy ngày sau, anh em không ngớt bàn ra tán vào về cuộc « đối thoại » giữa tôi, Hiền và đám chính ủy. Thường khi chỉ có Tân Cò cùng ăn cơm với tôi, nhưng trưa hôm đó có thêm Hùng Trợ y, Bùi văn Lại và Lưu Hùng Chương, toàn là bạn kề vai sát vế trên nền đất, cùng xúm xít vừa ăn vừ tán dóc, tô điểm thêm cho câu chuyện vừa qua trong vui vẻ hả hê. Tân Cò cười hoài, cười rất tươi tuy vẫn còn ít nhiều lo lắng :
- Mầy liều thật. Bị mầy vố nầy chúng nó sẽ « có cái suy nghĩ » và từ nay sẽ tính toán kỹ hơn để khỏi bị hố.
- Liều thì kể ra tao cũng có liều đôi chút, nhưng tao đã tính trước rồi, phải làm cho tất cả anh em thấy và hiểu rằng mình vẫn còn có thể làm cho chúng nó phải kiêng nể mà không nguy hại đến tính mạng. Tao không chịu nổi cảnh phe ta quá ngoan ngoản để được « an tâm tư tưởng, học tập tốt, lao động tốt, bao giờ tiến bộ thì về », một cái bẩy dành cho những kẻ yếu bóng vía ! Đã vừa mắc cái bẩy « 10 ngày học tập » nhưng anh em hình như vẫn chưa được sáng mắt ! Cũng có thể mắt đã sáng nhưng dạ vẫn cứ tối vì cái cốt « thỏ đế » !
Bùi văn Lại cười tán đồng :
- Moi hoàn toàn đồng ý với toi. Nhưng cũng nên hết sức cẩn thận với chúng nó. Moi đi guốc trong bụng chúng nó từ thuở còn ở Hà Nội. Toi có thể yên chí rằng toi đã được chúng nó chấm điểm son và cho toi vào sổ bìa đen ! Tốt nhứt là từ nay toi nên hết sức thận trọng. Chơi đòn hèn và hại ngầm từ xưa vẫn là bản chất của CS. Chúng nó bị cú nầy là vì một phần khinh địch, một phần không chuẩn bị đàng hoàng. Nhưng thật ra thì chúng nó đâu thể nào ngờ rằng ở đây lại có một tên tù cải tạo cà chớn cở như toi, lại còn thêm tên Hiền cũng là Lính Thủy Đánh Bộ như toi. Hai ông vô tình đã xác nhận TQLC đúng là kẻ thù số một của chúng nó ! Phải nói rằng đây là lần thứ nhứt chúng nó mới vấp phải trong khoảng thời gian còn quá mới mẻ sau khi mở cổng trại cải tạo Ngụy. Về lâu về dài thì rồi sẽ có không thiếu gì đứa bị đè mãi đâm ra bực tức mà lên tiếng chống đối đủ kiểu đủ cách. Toi với thằng Hiền lảnh cái búa là vì hai ông đã dám chơi cú đầu tiên, mà lại còn chơi quá bạo ! Bị chơi bạo mà không sao bắt bẻ, đở gạt được, từ nay chúng nó không còn khinh địch, xem thường Ngụy nữa.
Chương vẫn còn khích động, thích thú vì cú chơi bạo của tôi :
- Không có gì khoái bằng thấy thằng chính ủy cà chớn được anh giảng cho thế nào là nếp sống văn minh, được anh nhét một chùm nho và kê nguyên cái tủ đứng vào mồm, đực người ra chẳng còn nói năng gì được nữa.
Nhắc lại vụ « xổ nho » lúc nảy, tôi cười :
- Moi có biết Nho cái khỉ gì đâu, chỉ được cái dại mồm nói tầm bậy tầm bạ để loè dọa bọn ngu si, tung hỏa mù để thoát thân như Đoàn Dự dùng Lăng ba di bộ để tránh đòn vậy ! Trước kia cái lũ ngu đó chỉ biết có bạo lực, chúng dùng biển người để áp đảo trận địa. Bây giờ đối với lũ người có đầu mà không có óc đó, mình phải dùng « biển Nho » để áp đảo tinh thần chúng nó chứ !
Hùng Trợ y thì vẫn còn lo ngại cho tôi :
- Sao anh lại đi thách thức chúng nó làm chi cho thêm chuyện. Chúng nó cũng dám xử lý anh lắm.
BVL chỉ cười :
- Xử lý thế nào được anh Dõng. Vàng thiệt đâu sợ lửa. Trong hoàn cảnh như thế đâu phải lúc để thấu cấy chúng nó. Anh Dõng không những nói thật mà còn nói đúng : cái thằng chính ủy đó được bao nhiêu tuổi, đã làm được cái khỉ gì khi gia đình anh Dõng đứng lên chống Pháp, mà bây giờ lên giọng dạy đời và sỉ vả thiên hạ. Chúng nó sẽ chẳng bao giờ dám khinh thường ông và thằng Hiền, chính vì vậy nên hai ông lại càng phải hết sức cẩn thận. Có một điều moi đã để ý thấy lúc nảy là hình như tên thủ trưởng và thằng Trung đều có ý bao che cho ông. Moi không biết vì lý do gì, nhưng moi nhìn không lầm đâu. Mấy ông có để ý điều đó không ?
Để ý điều đó ngoài BVL và tôi ra có lẻ chẳng có ai khác, và chỉ có tôi là có thể đoán hiểu được tại sao Trung đã che chở tôi. Nhưng mãi về sau nầy điều tôi nghi ngờ dự đoán mới được xác nhận: trong buổi giao ban cuối cùng trước khi đi phép về Bắc, Trung đã không còn e dè đấu diếm gì với tôi nữa :
- Ngày mai em sẽ không còn làm quản giáo của anh nữa. Lần đầu tiên sau hơn 7 năm xa quê em mới được trở về thăm lại gia đình. Từ trước chúng nó chỉ cho viết thư thăm hỏi bố mẹ, và cũng chỉ cho thăm hỏi sức khỏe thôi, viết gì khác là thư không đi hoặc không đến ! Đôi ba năm gần đây, em nhận thấy thư của gia đình không phải là nét bút của bố em mà chỉ có chữ ký tên là còn có hơi giống chứ em cũng không tin là thật sự của bố em nữa…
 Ngừng lại giây lát Trung cúi đầu trầm ngâm nghĩ ngợi trước khi bộc trực :
- Chúng nó toàn là một lũ bố láo, không thể tin được. Em thú thật với anh, sau khi em về Bắc thăm bố mẹ mà em không chắc là còn ; nếu như bố mẹ em đã mất, thì chắc chắn là em sẽ bỏ ngủ trở vào Nam sống với các anh.
Những lời tâm sự thẳng ruột ngựa như thế của người cán bộ trẻ có chút trỉnh độ văn hóa đã làm chấn động tâm hồn tôi thật sâu xa, mạnh mẻ. Tôi thương cho thân phận của Trung và đồng thời rất vui mừng thấy rằng anh đã xa Bác và gần tôi hơn, mặc dù anh đã gần gủi Bác từ thuở mới lọt lòng mẹ và chỉ mới gần tôi có hơn 7 tháng ! Thế mới thấy Tình Thương và Chân Lý là bất diệt, bất bại, luôn luôn thắng trận sau cùng.
Trước khi chia tay từ biệt, Trung còn nhắn nhủ tôi rằng tên cán bộ sẽ thay anh rất là khó chịu, được trại chọn để kiềm kẹp tôi, và anh cũng không quên khuyên tôi nên hết sức thận trọng. Trung nói chẳng sai, tên quản giáo mới nầy dốt đặc cán mai lại hay nói chữ, và đặc biệt là rất cao ngạo. Trong thời gian đầu, chỉ cần nhìn anh ta chiều chiều lúc chạng vạng tối khi xuống giao ban mang kính đen và bật đèn pin lên soi đường lò mò đi về hướng lán 1 là đủ điên lên được.
Về phần của thủ trưởng FM đầu bạc thì chỉ trong giây phút cuối cùng trước khi tôi lên xe Molotova rời Long Giao chuyển trại về Hốc Môn vào một buổi chiều mưa lầy lội, lạnh lẽo, anh ta mới dám thố lộ tâm tư, tuy rất nhanh và rất ngắn nhưng cũng dư xúc tích để làm giao động tâm hồn tôi:
- Tôi đã từng quản lý khá nhiều trại cải tạo, nhưng chưa bao giờ tôi được gặp, được biết một người như anh. Về trại mới anh nên hết sức thận trọng, giữ mình. Chúc anh đi bình an.
Những lời tâm tình như vậy của hai cán bộ CS ở hai cấp khác nhau, tôi khó lòng mà quên được : nó ám ảnh tôi khá lâu và buộc tôi phải suy nghĩ rất nhiều. Kể ra tôi cũng đã không hoài công chấp nhận hiểm nguy khi chọn con đường của Chân Lý đầy gian truân trắc trở nhằm mở mắt kẻ cuồng si.
  Bùi văn Lại, mà Lưu Hùng Chương gọi là Bờ Vờ Lờ, là một sĩ quan kỳ cựu, đã gần ngủ tuần, từng đối đầu với CS khi còn ngoài Bắc. Nay chạy vào Nam nhưng rồi cũng không thoát khỏi nên BVL ức lắm. Bình thường anh rất vui tính, hay chọc Lưu Hùng Chương còn trẻ mà anh gọi trả lại là Lờ Hờ Cờ (Bờ Lờ hay Lờ Cờ gì thì cũng y chan một thứ thôi !), rất kín đáo, tinh tế và tỏ ra có nhiều kinh nghiệm với CS. Anh luôn nhắc nhở tôi cẩn thận và lúc nào cũng nên có sẳn phương kế để đối phó với mọi bất trắc. Tóm lại từ bạn tù cho tới cán bộ CS, ai ai cũng đều khuyên tôi hai chữ : thận trọng !
Không riêng gì BVL, mà khoảng năm ba ngày sau, vào lúc xế chiều, có hai anh em cải tạo thuộc đội nào tôi cũng chẳng rõ, tự dưng rà đến bên tôi trong lúc tôi đang một mình lang thang ngoài sân cho tiêu cơm, và nói nhanh :
- Ông thầy lúc nào cũng nên sẳn sàng, mỗi đêm trước khi đi ngủ, ông thầy nên để sẳn đôi dép ngay dưới chân ; trong mình lúc nào cũng giữ tất cả giấy tờ cần thiết. Khi tụi em biết có động là trong đêm tụi em sẽ đến đầu nằm của ông thầy gỏ nhẹ mấy tiếng là ông thầy phải tức tốc và nhẹ nhàng chui ra khỏi lán. Tụi em sẽ đưa ông thầy đi khỏi nơi đây ngay và ra khỏi nước luôn. Địa thế của T1 nầy tụi em đã điều nghiên hết cả rồi, chẳng có gì rắc rối cả. Tụi em đã từng nhảy toán hoạt động ngoài Bắc. Lẫn trốn địch và tự túc mưu sinh trong rừng rậm là nghề riêng của Lực Lượng Đặc Biệt tụi em. Ông thầy cứ yên tâm.
  Trao đổi, dặn dò thêm vài câu, hai người bạn tù đã nhanh chân lẫn vào đám đông đang tủa ra sân đi dạo mát. Nghe họ nói sao dễ ợt ! Nếu họ không nói chi cũng chẳng đề nghị trốn trại thì có lẻ tôi dễ yên tâm hơn !
Nhưng rồi thời gian cứ lặng lờ trôi qua, tôi vẫn tạm yên ổn, chẳng thấy có cán bộ nào đến quấy rầy. Độ đôi ba tuần lễ sau hai người bạn tù kia, có lẻ nhận thấy vụ của tôi không còn gì rắc rối nữa, nên đã đưa một vị đại đức tuyên úy trốn ra khỏi trại êm thấm. Một thời gian sau, khi bắt đầu học tập, trại đã chỉ định tôi làm người phát biểu chính trong những buổi thảo luận : nếu có ai phát biểu không « đạt », hay còn vướng mắc về bất cứ một vấn đề nào trong bài học, tôi sẽ lên tiếng để làm sáng tỏ vấn đề ! Khi được trại đề cử làm « phát ngôn viên », tôi thở phào nhẹ nhỏm : vụ va chạm vừa qua coi như tạm yên. Tôi nghĩ là có lẻ chúng nó đã bị tôi gieo vào đầu cái mặc cảm về vấn đề ngôn ngữ giữa Nam và Bắc, nên sợ rằng cán bộ giảng viên của bọn chúng nó nói mà anh em Ngụy không hiểu rõ, hay cố ý hiểu sai, vì vậy cho nên phải nhờ đến tôi (cũng có thể chúng nó nghĩ rẳng tôi là một « cây nho chùm » nên ngôn ngữ chính xác hơn !). Và chúng nó lại làm cho tôi thêm thắc mắc : tại sao không chỉ định ai khác ? Chúng nó lại mưu đồ gì đây ? Có thể một mặt nhờ tôi thật, một mặt để dễ bề theo dõi tư tưởng của tôi. Không biết chúng nó có theo dõi được gì chăng, nhưng tuần lễ cuối cùng trong thời gian tổng ôn 10 bài học vừa qua, tôi lại làm chúng nó một cú nữa mà chúng nó không biết làm sao để đở gạt. Nhân dịp tôi được nhờ phát biểu về tính chất ưu việt của Cách Mạng, tôi đã kết thúc bằng lời nhấn nhủ anh em bạn tù rằng :
- Cách Mạng đã tỏ rõ tính chất khoan hồng nhân đạo v.v…Chúng ta, những người đã thấm nhuần nền giáo dục dân tộc, chúng ta không thể không nhớ ơn Cách Mạng, nhớ ơn Bác và Đảng đã không ngớt nhắc nhở chúng ta phải luôn luôn nhìn kỹ người đối diện, phải biết nhận diện kẻ thù…Tôi mong rằng trong thời gian vừa qua anh em đã học được nhiều điều bổ ích cho mai sau, hầu giúp chúng ta trở nên những con người mới ích nước lợi dân hơn trước như Cách Mạng mong muốn…
Tôi đã nói khá rõ ràng minh bạch, tôi cũng đã cố tình bỏ đi 4 chữ « xã hội chủ nghĩa » khi tôi nói đến những con người mới ích nước lợi dân. Tôi cố gắng dùng toàn những ngôn từ của các bài học. Tôi biết là anh em bạn tù đều thấy rõ ý đồ của tôi. Tất cả đều đã nghe tôi trong sự im lặng gần như tuyệt đối, nhứt là đám cán bộ giám sát buổi tổng ôn. Một số anh em đã nhìn tôi nhè nhẹ lắc đầu, có vẻ lo ngại cho cái tật ba gai cứng đầu, hay cương ẩu của tôi. Số anh em nầy đã lo ngại có lẻ  vì họ nghĩ rằng tôi nổi hứng, hay nổi khùng bất tử mà phát ngôn bừa bải. Họ đâu biết được con đường tôi đã chọn đi. Ngày hôm sau, tôi có đưa tay lên xin phát biểu cũng không ai cho nữa ! Tôi chỉ cười thầm trong dạ : bọn chúng nó rồi cũng hiểu ra cái thâm ý của tôi, nhưng chẳng biết phải đối phó ra sao. Thường khi, bất cứ một tù cải tạo nào bị chỉ định hay tới phiên mình phát biểu, các cán bộ giảng viên có mặt trong buổi thảo luận đều ghi chép vào sổ tay. Ngày hôm sau hay hôm sau nữa trong buổi thảo luận chúng nó sẽ dành một khoảng thời gian để phê bình. Đường lối của những buổi thảo luận học ôn là tất cả những lời phát biểu của Ngụy đều được mang ra phân tích phê bình nội trong tuần lễ học tập. Riêng những lời phát biểu của tôi, chúng nó luôn luôn nghiên cứu rất kỹ và một tuần lễ sau chúng nó mới đem ra mổ xẻ, nhưng chẳng bao giờ tìm được gì khác hơn là bài học. Có thể chúng nó cũng đã nhận ra nhiều ẩn ý của tôi núp sau những bài học chính thức của chúng nó, nhưng đã bảo nhau không nên mang ra công khai phân tích, đặc biệt là lời phát biểu sau cùng vừa qua, chúng nó im luôn ! Có lẻ chúng nó nghĩ rằng đối với những lời phát biểu kiểu gậy ông đập lưng ông của tôi thì im lặng là vàng để tránh sa lầy, không có lợi gì cả, có khi còn làm trò cười cho Ngụy, vì khó lòng bắt bẻ gì tôi được với khả năng của chúng nó như chúng nó đã từng biết qua. Tuy không công khai phê bình, nhưng chúng nó lại giao nhiệm vụ cho quản giáo Trung đề cập vấn đề đó với riêng tôi mà thôi. Sau khi cuộc tổng ôn 10 bài học chấm dứt được hơn tuần lễ, trong một buổi giao ban, Trung đột nhiên nhìn tôi vừa cười vừa nói :
- Trong kỳ tổng ôn vừa qua, anh đã phát biểu thế nào mà các đồng chí chính ủy cứ phải suy nghĩ rất căng trước khi có lời phê phán. Nhưng khi anh phát biểu lần sau cùng anh nói rất đạt, các đồng chí chính ủy đều nhứt trí như thế ; duy chỉ có đoạn kết là các đồng chí đều nhận thấy làm sao ấy ! Thế anh, thì anh thấy thế nào ?
Rất khoái chí chứ còn thấy thế nào nữa ! Tôi nhìn Trung cười, tìm cách trấn an và tránh né vấn đề mà Trung muốn biết :
- Nghe anh nói tôi cũng thấy thích thú vì kể ra tôi cũng đã không uổng công nghiên cứu để phát biểu cho đạt yêu cầu, cho được lợi ích chung. Đó cũng chính là mục tiêu của tôi cũng như của trại đã giao cho tôi. Nhờ anh báo cáo lại với ban chỉ huy trại là tôi chẳng mong muốn gì hơn là làm tròn nhiệm vụ khá khó khăn mà trại đã tin tưởng giao cho. Đó còn là một điều làm tôi hảnh diện. Tôi hy vọng là đã thành công phần nào trong nhiệm vụ đó.
Do các vụ lỉnh kỉnh vừa qua đó mà hôm nay trước khi lên làm việc với ban chỉ huy trại, Tân đã phải khuyên tôi bớt ba gai. Chỉ có một mình Tân biết tôi sẽ làm việc gì, hay ít ra cũng dự đoán như thế. Các bạn tù khác hình như chẳng có mấy ai để ý dị nghị bàn tán. Tôi lặng lẻ theo Trung chẳng buồn để ý đến chuyện xung quanh. Những ngày cuối năm Long Giao lạnh chi lạ, cứ ngở mình đang ở Đà Lạt. Chỉ có đôi ba bộ đồ mang theo, đa số Ngụy đều mặc hết vào người mà vẫn chưa thấy ấm.
 Khi vừa bước chân qua cánh cửa nhỏ ngăn cách ban chỉ huy trại với khu của Ngụy cải tạo, Trung đi gần lại bên tôi và nói khẻ như để báo một tin vui :
- Hôm qua tôi nói với anh là lên làm việc với đồng chí thủ trưởng, nhưng không phải thế. Một cán bộ cấp cao từ thành phố lên sẽ làm việc với anh, cũng không ngoài việc gì khác hơn là việc anh đi du học ở Mỹ theo như trong bản tự khai của anh. Tôi nghĩ là thế nào rồi anh cũng sẽ được xuất trại về làm việc cho một bịnh viện ở thành phố.
Nghe Trung cho biết như thế, tôi rất vui mừng : thoát khỏi cảnh tù đày lúc nầy còn hơn là vứt bỏ được cái búa tạ trên đầu ! Khi vừa đến khoảng sân thuộc ban chỉ huy trại tôi đã nhìn thấy một chiếc Jeep rất sạch sẽ đậu trước phòng của thủ trưởng, một người miền ngoài, tóc đã hoa râm nên được gọi là FM đầu bạc.Trung đưa tôi vào một phòng khách thuộc dãy nhà bên cạnh. Trong phòng không có ai, chỉ có Bác được lộng kiếng treo trên tường, với đôi mắt tinh quái đang mỉm cười nhìn tôi bước vào.
Trung bảo tôi ngồi đấy chờ rồi quay ra. Nhìn bộ xa-long gồm một cái bàn chữ nhựt thấp và bốn cái ghế bành lùn đóng bằng ván thông của mấy thùng đạn pháo binh trước đây tôi bổng thấy bâng khuâng xao xuyến : một trang sử vừa được lật qua trước mắt tôi !
Có bóng ai đang đi về phía phòng khách. Tôi quay người lại vừa lúc một cán bộ tay xách cập da bước vào. Người cán bộ tuổi trạc năm mươi, người Bắc, dáng điệu khá chững chạc, nói năng bặt thiệp. Tuy không đeo quân hàm nhưng bộ đồ trận xanh gabardine ngay lề thẳng nếp chứng tỏ anh ta là một sĩ quan cấp cao, một cán bộ trung ương.
Sau khi mời tôi ngồi, anh ta chọn ngay chiếc ghế đối diện, mở cập lấy ra vài ba tờ giấy trắng và cây viết Bic. Anh ta vẫn yên lặng nhìn tôi giây lát trước khi mở lời :
- Trước hết xin thưa với anh là tôi rất hân hạnh được tiếp xúc với anh, một người mà gần đây chúng tôi đã được nghe nói đến khá nhiều. Kế đến là tôi xin lỗi đã làm phiền anh trong ngày lễ Giáng Sinh. Nhưng vì nhu cầu của Cách Mạng và cũng vì lợi ích của bản thân anh, nên tôi đến gặp anh hôm nay, chỉ trong một thời gian ngắn thôi. Mong anh thông cảm.
Zone de Texte: Những ngày vui sum hợp1972̉ Bịnh viện Lê Hữu SanhKhu Ngoại thương 1Ba%20MaKhi nói « một người mà gần đây chúng tôi đã được nghe nói đến… », tên cán bộ làm như ca ngợi nhưng thực ra hắn muốn dằn mặt tôi. Tôi đâu hề hay biết rằng sau lần va chạm nầy lửa về vụ tôi đã dám mắng Cách Mạng là vô nhân đạo, trại đã báo cáo về trung ương. Và một ngày đẹp trời, bà xã tôi bổng nhận được giấy của Ủy Ban Quân Quản thành phố mời lên căn cứ Sống Thần, sào huyệt của Mũ xanh chúng tôi ngày nào, để lảnh tôi về ! Lúc bấy giờ bà nào nhận được giấy mời loại đó lại chẳng mừng quýnh quíu như bắt được chồng lần thứ hai. Thời gian đầu, VC đã dùng căn cứ Sống Thần làm một trung tâm bồi dưởng : các tù cải tạo sắp về đoàn tụ với gia đình đều được tập trung về đó nghỉ ngơi, ăn uống đúng tiêu chuẩn v.v..trong hai tuần lễ. Mục đích của trung tâm bồi dưởng là cố bôi xóa hình ảnh tiều tụy, hốc hác, gầy gò, ốm đói của người tù trước khi trả họ lại cho gia đình. Đó chỉ là chính sách che dấu trong giai đoạn đầu khi chúng nó còn sợ dư luận quần chúng xôn xao. Về sau thì ai cũng thấy, ai cũng biết, và nhứt là tù cải tạo lúc đó chỉ còn da bọc xương thì phải bồi dưởng đến bao giờ, nên trung tâm không còn lý do tồn tại nữa.
Ba&DuyKhi được tin vui, bà xã tôi liền cùng cô em họ cơm ghe bè bạn dẫn hết ba đứa con nhỏ đón xe Lam ba bánh trở lại nơi đã từng quen thuộc và vẫn còn ghi đậm nét những ngày vui sum hợp. Lên đến nơi, tất cả đều được đưa vào một văn phòng, rồi lần lượt được mấy cán bộ thay nhau xài xể, sỉ vả không ngại mồm ngại miệng. Bọn dốt nát đó, đã hiểu hai tiếng dân Tây là loại « me Tây ». Và theo sự hiểu biết đó của chúng, bọn cán bộ luân phiên nhau chửi bới vợ con tôi như chưa từng thấy. Riêng về phần tôi, chúng nó chẳng biết gì hơn là trí thức vong bản, phản động, ôm chân đế quốc, liếm giày thực dân…Giận quá hai chị em bà xả tôi phản đối, nhưng chúng nó dọa nạt và cấm không cho nói ! Suốt gần cả tiếng đồng hồ bọn chúng nó mới chịu ngưng với một lời hăm dọa sau cùng :
- Chị về giáo dục lại thằng chồng của chị, bằng không Cách Mạng sẽ xử lý nó !
Zone de Texte: Bịnh viện Lê Hữu Sanh. Khu giải phẩuLời nói thật đơn giản nhưng sự lo sợ của thân nhân người tù biết lấy gì để đo lường ? Vào thời điểm đó, dân miền Nam khi nghe việt cộng nói xử lý tù đều hiểu là chúng nó xử tử họ. Bởi thế khi nghe chúng nó hăm xử lý tôi, vợ tôi sợ tái mặt, nhưng không làm sao hiểu được nguyên do vì đâu : bọn cán bộ chỉ biết có chửi bới, hăm dọa và không hề cho biết lý do ! Bảo vợ tôi về giáo dục lại chồng trong khi bỏ tù tôi mà chẳng thèm cho biết là đang nhốt ở đâu thì lấy ai mà giáo dục ! Khủng bố mọi mặt, bằng mọi cách vẫn là đặc tính của cộng sản, cũng như lưu manh thô bạo, lừa đảo láo khoét, bá đạo vô luân…là bản chất của Đảng đa số gồm giai cấp thiếu giáo dục hay không có giáo dục gì cả
Devt_La_Fontaine
Zone de Texte: Trước câu lạc bộ TĐQYCâu chuyện vợ con tôi được Nhà Nước mời, tôi đâu làm sao biết được, cũng như chuyện tôi « phản động » trong trại vợ tôi làm sao hay. Cho đến khi cuộc thăm nuôi đầu tiên được trại cho phép tổ chức nhân dịp Tết Bính Thìn (1976), gia đình tôi mới kể lại cho tôi nghe tự sự, và tôi cũng nói sơ sơ đại khái những chuyện đã xảy ra trong trại cho gia đình rõ. Tôi căn dặn bà xã từ nay trở đi nếu có giấy mời của chúng nó nên báo ngay cho sứ quán Pháp biết để họ lo liệu. Nhưng trước lời hăm dọa quá nặng nề của đám cán bộ ở căn cứ Sống Thần, bà xã tôi sợ quá nên đã thông báo ngay mọi sự sau đó. Sứ quán một mặt tức tốc liên hệ ngay với Ủy Ban Quân Quản thành phố, một mặt chỉ thị vợ tôi từ nay phải liên lạc thông báo với sứ quán những trường hợp tương tự để sứ quán cho xe và người cùng đi theo ngỏ hầu can thiệp đúng lúc nếu cần. Trong lần thăm nuôi đầu tiên nầy, các anh chị em tôi đều có mặt đông đủ. Tất cả mọi người đều kêu gọi tôi nên bình tỉnh, và thông báo cho tôi một tin giựt gân : mấy người bạn xa xưa của hai bà chị tôi tập kết trở về đã có biết qua « hồ sơ » của tôi ; họ than phiền với hai chị tôi rằng chỉ mới có vài ba tháng học tập mà tôi đã làm gì cho tên tuổi được đứng đầu sổ bìa đen, lại là loại bìa đen thật đen ! Những người bạn đó đã từng tham gia Phong Trào Thanh Niên Tiền Phong với mấy anh chị của tôi năm 1945, họ biết tôi khi tôi mới lên 7. Tất cả đều nhắn lời khuyên tôi nên hết sức thận trọng giữ mình. Nghe gia đình trình bày xong mọi việc, tôi rất ngạc nhiên vì tôi không nghĩ là VC lại đánh giá tôi khá cao ! Và tôi thầm phục Bùi văn Lại quả thật đã đi guốc trong bụng chúng nó.
Giờ đây, khi tên cán bộ từ thành phố lên, nói tôi là « một người mà gần đây chúng tôi đã được nghe nói đến », hắn chỉ nói sự thật và vô tình hắn xác nhận những gì gia đình tôi sẽ cho tôi biết trong lần thăm nuôi vào dịp Tết là đúng, không như tôi nghĩ đó chỉ là một lời dọa suông. Nhưng trong giây phút nầy, đối diện với hắn, tôi chỉ có nghi nghi ngờ ngờ căn cứ vào lời nói của BVL trước đây. Vì thế nên tôi giữ vẻ thản nhiên, làm như mình vốn thiệt thà đở lời hắn ta :
- Nghe anh nói tôi thật ái náy. Trước hết tôi có làm gì đâu để anh phải được nghe nói đến tôi. Thứ đến, tôi là cải tạo, lịnh của trại, ý muốn của Cách Mạng tôi có bổn phận chấp hành. Còn Giáng Sinh hay không, ở đây ngày nào cũng như ngày nào, anh không phải bận tâm. Xin anh cho biết nội dung buổi làm việc hôm nay.
Trong cung cách một kẻ quyền thế tên cán bộ nhìn tôi mỉm cười :
- Anh khiêm tôn quá ! Nhưng thôi, tôi xin đi thẳng vào vấn đề : tôi được lịnh đến gặp anh hôm nay là vì trong bản tự khai anh có ghi là đi du học ở Mỹ về ngành giải phẩu tái tạo. Vậy xin anh cho biết rõ chi tiết về nhữnh gì anh đã học. Tôi xin nhắc là anh nên phát biểu chậm chậm để tôi kịp ghi chép và báo cáo cho Sở Y Tế thành phố. Sở đang cần đến anh. Tôi nghĩ là sau buổi làm việc nầy, anh về lo thu xếp để nay mai Sở cho người lên đón anh về làm việc tại bịnh viện Chợ Rẩy. Tôi có thể nói rõ là anh sẽ phục vụ tại khu giải phẩu tạo hình và phỏng nặng. Bây giờ xin anh bắt đầu.
Zone de Texte: 1972 . Từ bịnh viện Naval Hospital nhìn xuống thành phố San Diego...San%20DiegoỞ tù và đang bị sao quả tạ chiếu mà được nghe những lời vàng ngọc như thế thì còn gì « hồ hởi phấn khởi » hơn. Tôi từ từ kể lại chương trình thụ huấn tại Naval Hospital, San Diego (California). Tôi không quên thêm mấm thêm múi vào khía cạnh giải phẩu thẩm mỹ để gấy thêm sự chú ý của Sở Y Tế thành phố hầu có thêm nhiều hy vọng thoát khỏi vòng lao lý rồi sẽ tính sau. Tôi nói rất chẫm rãi để cho tên cán bộ ghi chép đồng thời tôi cũng có thời gian suy nghĩ, và tôi vụt nhớ lại thuở tôi đọc chính tả Pháp văn cho học sinh lớp đêm ở La San Nghĩa Thục năm nào. Khi tôi nói hết phần nội dung của ngành tôi học, chưa kịp kết luận thì tên cán bộ đã lên tiếng :
- Thế nầy thì anh về chuẩn bị sẵn sàng. Đây đến cuối tuần sẽ có người lên đón anh về.
Tôi mỉm cười, trong lòng như đang mở hội nhưng bên ngoài cứ vẫn ra vẻ không tin :
- Có thật vậy không anh ? Vì tôi không nghĩ rằng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa cái nghề của tôi còn được dùng đến.
- Nghề chuyên môn của anh lúc nào lại chẳng cần, nhứt là nước ta sau bao nhiêu năm bị chiến tranh tàn phá, người mang thương tật rất nhiều.
 Một anh bộ đội bưng đến hai cái tách, một bình trà nóng, đặt xuống bàn và rót ra tách mời hai chúng tôi. Hai tách trà được đặt trên mặt bàn chứ không có dĩa. Tên cán bộ nhanh nhẩu mời tôi và cầm ngay một tách đưa lên môi làm như đang khát nước lắm. Sau vài ngụm trà, hắn ta tựa lưng vào ghế xem lại những gì vừa ghi chép, hỏi lại tôi vài điều có vẻ quá chuyên môn để tôi giải thích thêm cho hắn được sáng tỏ. Xong xuôi, hắn ta để hai tờ giấy xuống mặt bàn, đặt cấy viết Bic lên trên như sợ gió mang đi. Hắn ta tiếp tục uống thêm mấy hớp trà nóng, trầm ngâm giây lát. Tôi vẫn im lặng, cầm gác lên mu hai bàn tay đan vào nhau, âm thầm quan sát kẻ đối diện. Sau một lúc suy tư, tên cán bộ đặt tách trà xuống bàn, châm thêm trà vào nhưng không uống, chẫm rãi nói :
- Phần chính của buổi làm việc hôm nay chỉ có thế thôi. Nhưng trước khi ra về, tôi có hai câu muốn hỏi anh. Trả lời hay không hoàn toàn tùy ở anh vì hai câu hỏi nầy không thuộc vào buổi làm việc hôm nay. Tôi sẽ không ghi vào biên bản. Anh nghĩ sao ?
- Anh là cán bộ, tôi là cải tạo. Cán bộ hỏi, cải tạo có bổn phận trả lời. Xin anh cứ tự nhiên.
Tuy ngoài miệng có vẻ rất ôn tồn điểm một chút xiêng xỏ nhưng trong lòng tôi suy tín rất nhiều : tôi đoán là tên cán bộ nầy sẽ hỏi mắc hỏi rẻ về hành vi phản động của tôi trong mấy tháng vừa qua, hay ít ra hắn cũng sẽ tìm cách đào sâu tư tưởng của tôi trước khi sử dụng tôi. Đặc tính của CS là đa nghi, phương châm của CS trong việc dùng người là « hồng hơn chuyên ».
- Câu thứ nhứt tôi muốn hỏi anh là : ngày 30 tháng 4, khi quân đội nhân dân tiến vào Sài Gòn anh có sợ không ?
Anh ta đặt câu hỏi nửa như nghiêm trang lạnh lùng, nửa như chế diễu mỉa mai, nhưng rõ ràng là xấc xược, thách thức. Khi câu hỏi vừa dứt, tôi bổng nghe như có một luồng điện từ dưới chân chạy nhanh lên đỉnh đầu ! Tôi nghe người như cứ từ từ nóng rang lên. Còn đang lịm người chưa biết phải đối đáp ra sao, tôi nghiêng đầu nhìn lên tường phía trái như để tìm ý, lại thấy tên già dịch được lộng kiếng vẫn đang tinh quái nhìn tôi mỉm cười ! Giây phút đó trong phòng chỉ có hai người ở hai chiến tuyến đang đối diện nhau : một cán bộ CS Bắc Việt và một sĩ quan miền Nam tự do. Mặc dù đang là thân phận của một tên tù chiến bại nhưng không vì thế mà tôi chịu để cho ai muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Trong khoảnh khắc tôi vụt nhận rõ tất cả cái trách nhiệm nặng nề mà tên cán bộ, vô tình hay hữu ý, vừa đặt lên vai tôi. Tôi phải đối đáp như thế nào để vừa bảo vệ cái tiết khí của dân Nam, của một trí thức và đặc biệt là của một sĩ quan TQLC, vừa trả lại gáo nước lạnh vào mặt tên cán bộ CS mà không sơ hở để hắn có lý do làm tình làm tội tôi. Tôi dư hiểu cái hoàn cảnh đặc biệt tế nhị nầy từ sau lần tôi tố giác đám anh nuôi hậu cần vối phái đoàn thanh tra làm cho chúng nó bị khó dễ. Rồi sau đó tôi lại còn vấy lên một luồng khí thế mới, một tinh thần mới trong trại mà toàn bộ các chính ủy đã không làm gì được trong mưu toan bắt chẹt tôi. Từ ngày đó, ban chỉ huy trại đã bố trí theo dõi tôi rất chặt chẻ, chính tên quản giáo Trung đã báo cho tôi biết nhiều lần để giữ mình. Tôi nghĩ là do cái « quá trình » đó mà hôm nay tôi mới phải chịu cuộc thử thách nặng nề, khó khăn và có thể nguy hiểm cho tôi. Nhưng nghĩ cho cùng thì cũng chẳng có gì gọi là thử thách hay nguy hiểm : tôi chỉ cần xác nhận là tôi sợ, rất sợ nếu cần, và hết lời ngợi ca Cách Mạng tận mây xanh thì mọi việc đâu sẽ vào đó. Cái khốn khổ của tôi là khi mẹ cha sinh tôi ra, cột sống lưng không được mềm dẻo ! Vì thế nên trong giây phút rất căng nầy, trong đầu của tôi chỉ có một việc phải làm, nên làm : làm cho tên cán bộ CS Bắc Việt hiểu rằng dân Nam xứng danh với tiền nhân, chứ không phải chỉ là một lũ Ngụy hèn như một thiểu số mà hắn được biết. Còn việc được xuất trại, tuy là giấc mơ của tất cả tù nhân trên địa cầu, mặc nhiên không còn là điều quan trọng đối với tôi nữa.
Trong phút giây thật ngắn ngủi mà bao nhiêu việc, bao nhiêu suy tính đã vụt qua trí óc tôi. Giờ thì phải trả lời cho tên cán bộ, hắn ta đang kiên nhẫn nhìn tôi chờ đợi với vẻ hiu hiu tự đắc của kẻ được thời. Trong lúc phân vân, bối rối tôi như một cái máy ngả người ra sau tựa lưng vào ghế, hai chân gát luôn lên mặt bàn tự nhiên như…Mỹ, chẳng hề một chút quan tâm đền người đối diện đang giựt mình kinh ngạc ! Cuối cùng rồi tôi cũng phải mở lời :
- Anh vừa đặt một câu hỏi rất tầm thường, nhưng lại làm tôi bối rối chẳng biết phải trả lời sao cho phải. Lý do là vì ngôn ngữ giữa Nam và Bắc bây giờ không hoàn toàn đồng nghĩa với nhau. Tôi đã từng bị nhiều điều ngộ nhận, hiểu lầm nói thế cho nó rõ. Vậy trước khi trả lời anh, tôi xin anh định nghĩa tức là nói rõ ý của anh thế nào là sợ.
Không ngờ bị hỏi ngược, tên cán bộ đâm ra bối rối ! Mà hắn ta bối rối cũng có thể vì không biết định nghĩa chữ sợ, mà cũng có thể vì không đoán được ý đồ của tôi. Hai bàn tay của hắn ta làm nhiều cử động như dể phân trần trong lúc lời nói chưa đến kịp. Cuối cùng hắn ta ấp úng giải thích :
- Tôi nghĩ rằng sợ là sợ hải, là kinh sợ, là…Sợ là sợ thế thôi, có gì đặc biệt đâu.
Nhận thấy đối phương thật sự lúng túng vì trình độ chẳng có là bao, tôi cười thầm. Thật ra khi yêu cầu hắn ta định nghĩa, tôi chỉ cốt kéo dài thời gian để mong cấp thời tìm ra giải đáp đúng ý. Nhưng chính cái bối rối của đối phương đã gợi ý cho tôi. Vẫn giữ nguyên thế ngồi kiểu Mỹ, tôi từ tốn đở lời tên cán bộ :
- Tôi xin mạn phép được định nghĩa chữ sợ để tránh mọi sự hiểu lầm mà thường khi tôi vẫn phải chịu phần thua thiệt. Thưa anh, người trong Nam chúng tôi dùng chữ sợ trong khá nhiều trường hợp. Chúng tôi nói kính sợ Trời Phật, Thánh Thần ; kinh sợ loài yêu ma gian ác ; lo sợ cho tương lai vô định…
Đột nhiên tên cán bộ cắt ngang lời tôi, giọng của hắn đã có vẻ không còn được bình tỉnh lắm, làm tôi giựt mình nhận ra mình đang trên một đà dốc thật nguy hiểm.
- Thôi, anh nói thế đủ rồi. Giờ thì xin anh trả lời câu hỏi của tôi đi.
Nghe giọng nhát gừng của hắn, tôi ngửi thấy bầu không khí đã thay đổi. Tôi ngồi lại ngay ngắn, nhìn thẳng vào mắt hắn ta và với giọng nghiêm trang chẫm rãi :
- Dù có định nghĩa chữ sợ của anh như thế nào đi nữa, tôi cũng chỉ có một câu trả lời cho câu hỏi của anh. Xin được nhắc lại với anh rằng tôi là một người Công giáo, một sĩ quan TQLC mà các anh gọi là Lính Thủy Đánh Bộ. Đã gần 40 năm sống trong trời đất, ngoài Thiên Chúa mà tôi tôn thờ và lương tâm của tôi ra, tôi không hề biết sợ gì, sợ ai hết. Và cho tới giờ phút nầy cũng chưa ai có khả năng làm cho tôi sợ cả !
Tiếp theo lời nói của tôi là một sự im lặng hết sức nặng nề. Tôi điềm nhiên tựa lưng vào ghế nhìn đối phương, chờ đợi. Sắc diện của hắn như tái đi, nét mặt bổng nghiêm nghị đến lạnh lùng. Cái vẻ hiu hiu tự đắc của kẻ được thế được thời phút chóc không còn tìm thấy đâu nữa. Hắn ngồi yên giây lát rồi nhỏm dậy cầm lấy cây Bic ghi mấy hàng vào tờ biên bản. Tôi nhìn thấy nhưng không có phản ứng, để hạ hồi phân giải, chỉ nhìn lên trần nhà suy nghĩ đến hậu quả của lời nói vừa thốt ra.
Tiếng cây viết Bic được buông rơi xuống bàn làm tôi giựt mình và nhìn thấy tên cán bộ đang hướng về phía tôi :
- Còn câu thứ hai cũng xin hỏi anh nốt.
Tôi nhỏ nhẹ hơn nhưng cũng không kém phần xỏ xiêng :
- Xin anh cứ tự nhiên nếu anh không thấy gì trở ngại.
Hắn có vẻ khó chịu nhưng làm ngơ hỏi tôi :
- Anh nghĩ gì về thành quả của Cách Mạng tại miền Nam ?
Tôi mỉm cười, thở phào nhẹ nhỏm : câu hỏi nầy ít ra cũng ngây ngô vô tội vạ. Tuy vậy tôi cũng « hạ quyệt tâm » không bỏ lở một cơ hội làm cho tên cán bộ cấp cao nầy hiểu rẳng, ngoài cái chính sách ma giáo và bạo lực dã man, hắn và đồng bọn không phải là đối thủ của Ngụy về các mặt khác.
- Thưa anh, câu hỏi nầy đúng ra tôi chưa có thể trả lời cho anh được. Lý do là vì các anh chỉ vừa thực hiện được giai đoạn cướp đất dành dân. Thời gian còn quá ngắn chưa cho phép bàn đến các thành quả của Cách Mạng. Nhưng dù sao đi nữa, anh đã hỏi thì tôi cũng xin thưa với anh là riêng tôi, tôi nghĩ rằng chỉ trong một thời gian ngắn thôi, Cách Mạng sẽ đưa miền Nam nầy ngang hàng với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vì đó chính là mục tiêu của Đảng.
Tôi đã đáp thật ngắn gọn, thật rõ ràng mà cũng thật là mập mờ ! Tôi nghĩ là tên cán bộ có lẻ cũng có được một chút thông minh để đoán hiểu ý tôi muốn nói : Cách Mạng sẽ đưa miền Nam nầy « xuống » ngang hàng với miền Bắc xã hôi chủ nghĩa (tức là lột trần mọi người để biến toàn dân thành vô sản, trừ giai cấp lảnh đạo) ! Tôi chủ tâm nói cho đối phương hiểu mà khó lòng đối đáp hay bắt bẻ gì tôi được. Tôi chỉ có hơi bạo phổi với mấy tiếng « cướp đất », nhưng đối phương không có phản ứng gì, chỉ lo ghi chép câu trả lời của tôi vào biên bản. Xong xuôi, hắn ta xem lại những điều đã ghi chép, vẻ mặt trầm ngâm, không nói thêm một tiếng nào nữa. Đọc xong, hắn trao cho tôi hai tờ biên bản, viết trên một mặt giấy, bảo tôi xem lại có gì cần thêm bớt trước khi ký tên  vào bên dưới, cạnh chữ ký của hắn. Tôi thông thả xem lại biên bản trong lúc hắn nhấp nháp tách trà đã hơi nguội. Tôi nhận thấy chẳng có gì cần thêm hay bớt ngoài hai câu trả lời sau cùng của tôi mà hắn đã bảo là không thuộc vào buổi làm việc hôm nay nên sẽ không ghi vào biên bản. Tôi chụp lấy cơ hội làm thêm cho hắn một đòn cuối :
- Biên bản như thế cũng tạm ổn. Có một điều tôi xin được phép nhắc nhở anh : hai câu hỏi vừa qua anh đã nói là không ghi vào biên bản, thế sao anh vẫn cứ ghi ? Anh đã ghi thì cũng chẳng sao. Tuy nhiên, tôi muốn nhân dịp để nhắc nhở anh rằng người trong Nam chúng tôi hể nói sao thì làm vậy. Có thể là kém khôn ngoan, nhưng đó là bản tính của chúng tôi. Anh cũng nên làm như thế đối với họ, cũng như Cách Mạng luôn luôn nhắc nhở trước sau như một. Tôi nói thế không phải để từ chối ký tên vào biên bản. Tôi sẽ ký vì một khi tôi đã đối đáp với anh thì không có gì cản trở tôi ký tên vào đấy cả.
Vừa nói tôi vừa ký tên vào phía dưới tờ biên bản và trao trả lại cho tên cán bộ đang câm như hến. Hắn cầm lấy bỏ vào cập da, thu dọn giấy bút và lặng lẻ đứng lên. Tôi những ngở là hắn cũng lặng lẻ ra về, nhưng không hắn ngẩng lên nhìn tôi lần chót, đưa tay bắt tay tôi, nói lời cảm ơn khách sáo rồi giả từ bước ra khỏi phòng. Tuy không nghe hắn nhắc lại là sẽ cho người lên đón tôi nay mai, nhưng tôi vẫn thấy nhẹ người ! Chỉ có độ năm mười phút chót mà tôi tưởng chừng như vừa lên lớp một ngày trời học tập mệt mỏi. Tôi ngã người trên ghế, duỗi thẳng hai chân lên chiếc bàn lùn, nóc cạn tách trà dang dở đã nguội lạnh, chờ quản giáo đến dẫn độ về lán. Nhưng từ phía dãy nhà bên cạnh tôi nghe tiếng của thủ trưởng FM đầu bạc nói vọng sang :
- Xong rồi, anh cứ trở về lán, không phải chờ quản giáo.
Vừa về tới vùng đất của Ngụy đã có một nhóm « bạn học » tọc mạch hỏi thăm. Tôi tuyệt nhiên không đề cập đến một chi tiết nào về buổi làm việc vừa qua, mà chỉ nói tổng quát là trại cần tôi bổ túc thêm một số chi tiết về thời gian tôi ở Mỹ. Thế thôi. Các bạn học của tôi nghe vậy hay vậy, chẳng ai thắc mắc gì hơn. Khi bước chân trở vào lán, tôi thấy Tân vẫn còn đó đang nói cười vui vẻ với Ba Phác ngồi trên khu giường tập thể đối diện. Thấy tôi trở về, Tân đưa tay kéo tôi ngồi xuống chiều, cười vui vẻ :
- Sao mậy ? Chừng nào về ? Nói để tao lo thu xếp hành lý…
Phía bên kia Ba Phác cũng đang vảnh tai chờ nghe tôi trả lời ra sao. Tôi cười nói nửa đùa, nửa thật :
- Khi tao về chắc chẳng còn mầy, mà chắc cũng chẳng còn ai khác để giúp tao thu dọn hành lý !
- Mầy lại cũng chứng nào tật đó rồi phải không ?
- Nào phải tại tao đâu. Cây muốn yên mà gió chẳng chịu ngừng…
Và tôi kéo Tân ra khu vườn mì bên cạnh nhà bếp và giáp ranh với T của các sĩ quan cấp tá. Có lần nhân lúc kho đạn nổ, tôi đã chui sang bên đó tìm người quen và đã gặp lại được các đại tá Mũ xanh Tôn Thất Soạn, Nguyễn Thành Trí và Nguyễn văn Minh thuộc Quân đoàn 4, phu quân của một ngưởi bạn thuở còn thư sinh.
Khi thấy không còn ai lẩn quẩn gần bên tôi mới kể lại cho Tân nghe đầu đuôi câu chuyện. Tân có vẻ thích thú, thỉnh thoảng bật cười lớn, quên cả cái họa đang lởn vởn quanh tôi. Nghe xong, qua phút giây hứng thú, Tân để tay lên vai tôi bóp nhẹ :
- Chúng nó lại bị mầy nữa ! Rốt cuộc lại cũng chỉ có mầy ! Bộ mầy tính ở lại đây mút chỉ cà tha hay sao ?
Tôi chỉ cười chẳng nói năng chi. Tân tiếp :
- Nhưng thôi, số cả !
- Ừ, số cả ! Tao sẽ nhờ Ba Phác xem lại kỹ một chút lá số của tao, xem tao có thọ hay không !
Trên đường trở lại lán tôi không quên bảo nhỏ Tân :
- Chuyện nầy hiện giờ chỉ có một mình mầy biết. Tao sẽ nói với Hiền và Ba Phác sau. Trong lúc nầy tinh thần của anh em vẫn còn giao động. Đa số vẫn còn an tâm lo học tập với hy vọng sẽ được vể trong dịp Tết sắp đến, một dịp mà trại đã tận dụng như một liều thuốc an thần dành cho Ngụy ! Chuyện của tao anh em có biết cũng chẳng ích gì ; tới tai đám ươn hèn chúng nó còn chê tao tối dạ, anh hùng rơm !
Tân gật đầu tán đồng.
Rồi ngày lại ngày qua, đã hơn một tuần mà mọi việc vẫn im như tờ : chẳng thấy xe hay tài xế nào lên tìm tôi đưa về thành phố ! Và tôi biết chắc hậu quả của sự lựa chọn vừa qua của tôi. Tân có hơi buồn nhưng vẫn cố tin tưởng và khuyên tôi rán chờ (rán chịu thì có lý hơn !).
Một buổi sáng tôi đi lao động với anh em và đang làm cỏ ở khu sân bay cũ của S. Đ.18 thì tên chính ủy của T1 từ đâu lò mò đến bên tôi, cà rà nói vài ba câu bâng quơ làm tôi đâm ra thắc mắc tự hỏi không biết hắn ta định giở trò gì nữa đây. Hắn nhìn tôi một lúc chẳng nói năng gì nữa, rồi đột nhiên hỏi tôi :
- Nầy anh Dõng, anh không thích về đoàn tụ với gia đình à?
Tôi ngẩng lên nhìn hắn ta, tự nhủ « À ra nhà ngươi muốn chơi trò chiến tranh tâm lý với ông đấy à ? Không ăn đâu nhóc con ! ». Và tôi cười vui vẻ :
- Bao giờ tiến bộ thì về chớ, Cách Mạng đã dạy rồi, anh không phải lo cho tôi !
Tên chính ủy có vẻ ngạc nhiên, cụt hứng, chao mày nhìn tôi vài giây trước khi bỏ đi. Tôi cười thầm nhưng kể từ giây phút đó tôi biết được khá chắc chắn rằng mình là lính Tuột Quần Lặt Cỏ thật rồi đó ! Cái số phận hẩm hiu của tôi chỉ có Tân, Hiền và Ba Phác được biết trong suốt thời gian còn ở Long Giao.
                                     
                             Phiên tòa đầu tiên.
                                            

Hôm nay toàn trại được miển lao động để tất cả mọi người « có khả năng theo dõi phiên toà xét xử tên phản động Lê Đức Thịnh ». Các lán trưởng và tổ trưởng thuộc tất cả các T đều được lịnh mời dự khán phiên toà, lũ lượt kéo nhau đi về hướng « trung đoàn » tức bộ chỉ huy trại Long Giao. Trong T1 của tôi, từ hôm trước đã thấy có một số cán bộ được phái đến lăng xăng kéo thêm giây điện, gắn thêm máy phóng thanh ở hội trường để cho tất cả tù cải tạo không được mời tập trung lên đó gián tiếp theo dõi phiên toà.

 « Đại úy Lê Đức Thịnh, người Bắc, xuất thân khóa 15 Vỏ khoa Thủ Đức. Ra trường anh được giữ lại làm sĩ quan an ninh, Anh đã học các khóa tình báo tại trường Cây Mai và Okinawa-Nhựt Bản. Nhà ở đường Bàn cờ, quận ba, Sài Gòn, có vợ và 5 con. Cùng đội và cùng tổ B8 với Thịnh còn có các mũ xanh Đàm Quang Toán, tổ trưởng, Quách Đức Thành, Lưu Trung Nghĩa, Nguyễn Hồng Điệp và Nguyễn Trọng Thiều nằm bên cạnh Thịnh. Ngoài ra còn có nhà văn Phan Nhật Nam, thuộc  sư đoàn Nhảy Dù.
Trại Long Giao trước đây là hậu cứ của trung
đoàn 48 thuộc SĐ18/BB, nằm trên một ngọn đồi. Trước mặt là một con đường dẫn xuống một khu rừng tre gai. Vì là thời gian đầu anh em cải tạo chưa được viết thư về báo mình đang ở đâu nên thân nhân rất lo lắng, họ thường giã dạng dân địa phương để hỏi thăm hay tìm gặp. Thịnh có viết một bức thư gởi cho vợ bảo rằng anh không thể nào sống với cái chế độ nầy, với đám lảnh đ̣ạo CS như Lê Duẫn, thuộc loại sâu bọ lên làm người. Nếu ra tù anh sẽ trốn đi hoặc vào rừng tìm cách chống lại…Buổi sáng đó vì anh không đi lao động bên ngoài nên anh nhờ Nguyễn Trọng Thiều giao thư cho một người nào đó nhờ chuyễn về gia đình. Từ vọng gác ở trên đầu dốc tên vệ binh nhìn thấy, chạy xuống chận người nhận thư và tịch thu bức thư. Thịnh bị bắt đưa lên trung đoàn ngay. Một thời gian sau bọn chúng đưa Thịnh về nhốt trong một căn hầm pháo binh và hứa hẹn một thời gian nữa sẽ cho Thịnh về sinh hoạt với anh em. Nhưng đó chỉ là một thủ đoạn trấn an để khai thác và tránh cho Thịnh ví căng thẳng có thể dẫn đến những hành động liều lĩnh trước khi bọn chúng đem Thịnh ra xử trước một phiên tòa…điển hình ».
( Trên đây là phần đóng góp thêm một số chi tiết của Mũ Xanh Huỳnh Vinh Quang TĐ2/TQLC, người bạn tù cùng tổ và nằm cách Thịnh không xa.)

Lê Đức Thịnh là một sĩ quan có bằng cao học luật khoa. Anh bị biệt giam ở T3 từ hơn 2 tháng qua. Nghe nói anh đã vi phạm nội qui trại vì anh đã viết một lá thư rồi nhờ một người bạn tù được đi lao động bên ngoài dấu trong người, đợi dịp tìm cách gởi cho ai đó nhờ mang về cho gia đình. Nhưng kẻ đưa thư và người nhận đã hớ hênh thế nào để cho một tên vệ binh trông thấy tịch thu lá thư. Lá thư của Thịnh đương nhiên là trở về ban chỉ huy trại và anh bị biệt giam ngay. Tất cả tù cải tạo đều chỉ biết có thế, còn về nội dung lá thư thì không một ai nắm vững.

Theo đoàn người được mời của T1, tôi cũng tà tà đi về hướng trung đoàn mà tôi đã đặt chân đến một lần vào ngày Giáng Sinh vừa qua. Tôi bước đi mà đầu óc trống vắng, chẳng suy nghĩ gì, chỉ để tâm thưởng thức cái mát lành lạnh thật dễ chịu của buổi sáng một ngày cuối thu. Đến nơi, tôi lững thững bước vào phòng, để mắt nhìn quanh một lượt. Đó chỉ là một căn nhà tiền chế của sư đoàn 18 BB trước kia, cùng một mẫu với các lán của T1. Bên trong được sắp xếp đầy cả ghế lẫn băng, chỉ chừa một lối đi ở giữa và một khoảng trống ở cuối phòng dành riêng cho 4 cái bàn hình chữ nhựt dài độ hơn một thước được kê sát vào nhau và phía sau là 4 cái ghế. Tôi tránh hàng ghế đầu, nhưng cũng không muốn ngồi ở những hàng ghế cuối vì sợ không theo dõi được tường tận phiên xử. Còn đang tìm một chổ ở hàng ghế thứ ba, thứ tư thì Trung, quản giáo của tôi, không biết từ đâu bổng xuất hiện sau lưng và nhẹ nhàng dẫn tôi lên hàng đầu ở phía bên phải, tôi tránh ngồi ngay ở bìa và chọn chiếc ghế thứ ba kể từ lối đi trong số 7 cái ghế kê sát vào nhau. Trước khi bỏ đi, Trung không quên nói nhỏ cho tôi nghe lý do : trại đã ấn định cho tôi phải ngồi ở hàng đầu ! Nghe nói thế tôi bấm bụng cười thầm :
- Bố khỉ ! Ủ tờ mà còn được chiếu cố như vầy thì vui như Tết Mậu Thân !
Khi tất cả mọi người đều đã ngồi vào chổ, trên hàng ghế đầu tôi có thêm hai người bạn học ngay bên trái. Không đầy năm phút sau đã có 4 tên bộ đội kéo đến đua nhau ngồi vào mấy cái ghế còn lại bên phải tôi. Bọn chúng xem chúng tôi như không có, không buồn chào hỏi mặc dù ngồi ngay bên cạnh tôi. Tôi cũng mặc kệ chẳng lưu tâm đến chúng nó làm chi, chỉ để mắt nhìn quanh căn phòng ; bề ngoài tuy vậy nhưng thật ra tôi rất chú tâm vào tên y tá đang ngồi bên cạnh tôi. Tôi nghĩ hắn là y tá vì khác với ba tên bộ đội kia đều mặc đồng phục quân đội nhân dân, hắn ta lại choàng lên người cái « blouse » trắng, với cái « ống nghe » được giấu trong túi bên phải. Trong lúc ấy, sự hiện diện của tên y tá và cái « ống nghe » cũng chưa làm tôi thật sự lưu tâm, thắc mắc. Tôi lơ đểnh theo dõi mấy tên bộ đội đang lu bu điều chỉnh hệ thống âm thanh trên bàn chủ tọa.
Vẫn chưa thấy mấy quan tòa xuất hiện, tôi lại quay về với tên y tá và ba đồng chí của hắn. Tôi nghĩ mấy tên nầy có lẽ thuộc bịnh xá trung đoàn, được lịnh đến đây mà không kịp thay đổi y phục. Rồi tôi cũng chẳng nghĩ gì thêm, bởi vì lúc đó đã có lịnh đứng lên chào đón các quan tòa vừa đến. Họ gồm có 4 người : thủ trưởng của trại L19, chính ủy của trung đoàn và hai người khác mà tôi chưa bao giờ được biết, có lẽ họ là cán bộ từ trung ương đến. Khi mọi người đã yên vị, phòng xử bổng rơi vào một sự im lặng nặng nề. Tất cả tù cải tạo hồi hộp hướng mắt về góc trái của phòng xử, nơi có một cửa hậu ăn thông ra sân sau. Tất cả chờ đợi sự xuất hiện của Lê Đức Thịnh mà đa số đều chưa biết mặt.
Chúng tôi đã chẳng phải chờ đợi lâu và cánh cửa trong góc cuối phòng được một cán binh mở rộng : Lê Đức Thịnh được hai vệ binh kèm hai bên dẫn vào. Vóc người tầm thước lại gầy gò do những ngày biệt giam kham khổ, nên trông anh càng nhỏ người thêm ra. Tóc tai không được chải chuốt tô đậm thêm nét mệt mỏi, lo âu trên gương mặt xương xẩu của anh. Hai tên vệ binh dẫn anh đến trước mặt các quan tòa, để anh đứng đấy rồi lui về phía cửa ở cuối phòng, sẳn sàng chờ lịnh. Thịnh đứng yên trước mặt các quan tòa, hai tay chấp ra sau lưng, có vẻ bình thản chờ đợi. Thấy vậy tôi cũng có phần yên dạ.
Các quan tòa còn đang bận rộn tra cứu hồ sơ, chẳng ai quan tâm đến tên tội phạm. Trong phòng xử tiếng xì xào bàn tán đã bắt đầu nổi lên. Tôi vẫn yên lặng, hai tay khoanh trước ngực, nhìn sững anh Thịnh mà tâm trí suy nghĩ vơ vẩn, miên man…Mảnh hổ sa cơ trông thật chẳng giống ai ! Cá ăn kiến, kiến ăn cá, cuộc đời nó vẫn vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Có lạ lùng chăng là lắm người vẫn không hề nhớ điều đó, luôn vênh váo tưởng chừng như trên đầu mình chẳng có ai và tương lai hoàn toàn nằm trong tay họ. Hôm nay ngồi ngay sau lưng Lê Đức Thịnh, tôi cảm thấy như chịu cùng số phận với anh : bị bọn mất dạy hạ nhục. Một cơn uất giận bổng ập đến người tôi như một đợt sóng đập mạnh vào ghềnh đá. Tôi giận bọn «đỉnh cao trí tuệ » ngu si vênh váo ; tôi giận đám lảnh đạo miền Nam vênh váo u mê, và tôi giận cả tôi bất tài biếng nhác… Nghe người như rúng động, tôi ưỡn ngực lên hít một hơi thật dài cố trấn áp tình cảm bồng bột và cố giữ vẻ điềm tỉnh : tôi linh cảm có kẻ đang dòm ngó, theo dõi tôi. Trong hoàn cảnh của  tôi lúc đó dè dặt và ý tứ từng ly từng tí là một vấn đề sinh tử.

Cuối cùng phiên tòa bắt đầu. Thủ trưởng của trại mở lời tường thuật nội vụ với đầy đủ chi tiết, đúng hay sai thì chỉ có bọn họ và anh Thịnh biết. Thủ trưởng ngừng lại nhiều lần để hỏi anh Thịnh có phải như vậy hay không, và chỉ thấy Thịnh trả lời vắn tắt là đúng hay sai, không nghe anh nói gì hơn ! Không riêng gì đối với thủ trưởng trại, mà suốt cả phiên tòa hình như anh chỉ được xử dụng có mấy tiếng : đúng, sai, có, không ! Sự việc nầy làm cho tôi hết sức nghi ngờ là Thịnh đã mắc vào bẩy của CS. Cái bẩy đó hết sức đơn sơ nhưng vô cùng hiệu quả, đã được CS xử dụng từ mấy mươi năm về trước. Năm 1945, sau khi Nhựt đầu hàng, khi cha tôi và các anh chị tôi còn tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến mùa Thu của Nam Bộ chống Pháp đòi độc lập tại chiến khu An Phú Đông, quê hương của cha tôi, Việt Minh đã từng áp dụng cái bẩy đó trước khi tổ chức mọi cuộc đấu tố Việt Gian để thủ tiêu họ một cách « hợp pháp ». Việt Minh CS cho người đến ôn tồn nhỏ nhẹ đề nghị với nạn nhân rằng trong buổi đấu tố, họ không nên biện bạch dài dòng,  chỉ nên trả lời những câu hỏi bằng có hay không, cuối cùng họ sẽ được tha : cuộc đầu tố chỉ là một cái cớ, một dịp để Cách Mạng huấn dạy dân làng ! Người dân quê thật thà, chất phác có hiểu gì đâu, có biết gì đâu : khi bị ghép vào tội « Việt Gian » là thấy chết như không, nay có người đề nghị cứu nguy, khác nào kẻ bị chìm xuồng lại vớ được bập dừa ! Vì thế nên trước mặt mọi người, các tay « Việt Gian » khù khờ quê mùa kia đã ngay tình nhận hết bao nhiêu tội lỗi, tội thật, tội giả, để rồi Việt Minh CS đem họ đi cho « mò tôm » không sót một ai ! Vào thời điểm đó, chính sách khủng bố nầy đã được Việt Minh CS, xuyên qua vô số các ủy ban ám sát, áp dụng triệt để trên toàn miền Nam, khắp các thôn cùng xã vắng, không có nơi nào mà người dân quê không biết mặt thằng chõng, và không nghe nói đến hai tiếng « mò tôm ». Những thằng chõng nầy có lúc nhiều đến độ độc chiếm một đoạn sông dài làm cho dân làng không còn ai dám tắm giặt ven bờ nữa : đã có người đang tắm giặt bổng nhiên có một thây người sình chương nửa chìm, nửa nổi, thấp thoáng trong đám lục bình ngay bên cạnh ! Các cô giặt yếm bên sông sợ đến mất hồn ! Chính sách khủng bố hiểm ác và lợi hại nầy đã giúp Việt Minh CS giết người một cách « hợp pháp » : trước mặt mọi người, những tên « Việt gian » kia rõ ràng là đã nhìn nhận tất cả tội lỗi ! Việt Minh CS có giết oan ai đâu ! Và trên khúc sông cái chảy giữa An Phú Đông và xã Hiệp Bình gần như ngày nào cũng có mấy « thằng chõng » sình chương trôi lều bều giữa những đám lục bình xanh tốt, tứ chi luôn luôn được trói cột theo nhiều kiểu khác nhau và trên bụng đôi khi có cấm một khúc tre ! Trên khúc tre oan nghiệt đó người ta thấy lủng lẳng một mảnh giấy, nhưng ít có người liều lỉnh tìm xem trên đó ghi những gì. Chỉ nghe đồn rằng đó là bản án của tên « Việt gian ». Trong số những « thằng chõng » đó, dân làng đã nhìn ra vài tên thật sự là việt gian : họ đã từng làm « bao bố » điềm chỉ cho Tây bắt bớ ; nhưng đa số còn lại là những người đã từng tham gia vào Phong Trào Thanh Niên Tiền Phong, hay Phong Trào Truyền Bá Quốc Ngữ, hoặc giả chỉ là những người nông dân chất phát. Lần lượt những người theo Tây hay chống Pháp nhưng không theo Việt minh CS, đều nối tiếp nhau đi mò tôm, trở thành những thằng chõng gớm ghiếc, sáng theo con nước lớn trôi về hướng Lái Thiêu, chiều theo con nước ròng xuôi về phía cầu Bình Lợi. Các ủy ban ám sát của CS ngày càng táo bạo hơn : đêm đêm họ đi lùng bắt « Việt gian » ngay trong từng nhà và mang nạn nhân ra trước sân đánh đập, cắt cổ, mổ bụng, có khi còn chặt đầu đem quăng ra truớc chợ ! Việt Minh CS đã dùng họ để làm gương cho dân làng. Quả thật, những tấm gương đó đã gây kinh hoàng trong cả vùng, không còn ai dám chỉ trích hay thậm chí chống lại Việt Minh CS nữa. Mấy người bạn của các anh chị tôi, các anh Hên, anh Sửu, chị Lủy, chị Nỉ từ Dĩ An, Thủ Đức đến, các anh Lân, anh Liền, chị Hừng, chị Thiệt từ Sài Gòn lên, đều lần lần xa lánh làng Bình Phước và gia đình tôi. Gia đình cha mẹ tôi còn tạm được yên lành có lẽ nhờ cha tôi là một giáo chức đã từng dạy luôn hai thế hệ và được dân trong làng kính trọng gọi tôn là « Thầy ». Tuy nhiên, áp lực của Việt Minh trên gia đình tôi ngày càng nặng nề, lộ liểu hơn. Các anh chị tôi phải giải tán Phong Trào Thanh Niên Tiền Phong và Phong Trào Truyền Bá Quốc Ngữ tại xã Hiệp Bình vì không những chẳng còn ai dám tham dự nữa, mà CS còn xúi giục thanh niên đánh cướp các « nhà giàu » trong địa phương nhằm tiêu hủy uy tín của Tổ chức mà CS đã xâm nhập và kiểm soát.Về phía thực dân Pháp sự thù nghịch cũng không kém phần lộ liểu và nguy hiểm. Căn nhà ba gian vách ván, lợp ngói của cha mẹ tôi ở cách chợ Bình Phước không quá 50 thước và cách đường lộ độ chừng 5 thước. Hai bên cổng ra vào gần sát bên đường, cha tôi có trồng hai cây phượng vĩ rất cao. Đến mùa nở bông, từ đàng xa màu hoa phượng đỏ đã đánh dấu nơi chôn nhao cắt rún của anh chị em tôi để bè bạn phương xa không lạc lối. Trước tình hình căng thẳng, cha tôi đã bắt cả nhà trải chiếu dưới đất ngay bên dưới mấy bộ ván gỏ để ngủ đêm. Tôi chẳng hiểu ất giáp gì cả, nhưng rất vui vì được ngủ dưới đất và lại phải tắt đèn sớm hơn thường lệ! Nằm đất được vài ba hôm thì vào một buổi tối, có lẻ cũng gần khuya, một đoàn xe nhà binh Pháp từ hướng Sài Gòn lên Lái Thiêu, khi vừa đến ngang căn nhà của cha mẹ tôi, chúng nổ súng bắn xối xả vào nhà. Đạn xuyên qua cửa và vách ván, ghim trên mặt hai bộ ván gỏ ; nếu anh chị em tôi còn ngủ trên đó ắt đã có thương vong. Rốt lại chỉ có một viên đạn xuyên qua cánh tay phải của ông anh thứ bảy của tôi khi ấy mới được hơn 14 tuổi. Trong bóng đêm anh bảy tôi đã bò đến bên mẹ tôi và đưa cánh tay ra cho mẹ tôi rờ xem có cái gì hơi ướt và nhơn nhớt! Cũng may là viên đạn chỉ xuyên qua phần mềm mà không trúng vào xương. Hôm sau cha mẹ tôi âm thầm đưa cả gia đình vào xã Tam Bình tạm lánh mặt trong ngôi chùa của người dì Hai, cách ngả tư Gò Dưa chừng 500 thưóc, ở giữa một cánh đồng trống trải chẳng có nhà ai gần kề. Ẩn dật nơi thanh vắng, gia đình tôi chẳng hoạt động gì nữa ngoài việc kiếm cơm ngày hai bửa, cũng tạm yên ổn trong cả năm 1946. Thời gian đó tôi dù đã hơn bảy tuổi mà chẳng học hành gì, ngoài những buổi tập đọc, tập viết, làm toát yếu chuyện “Con dế mèn”, chuyện “Chiếc hòm chân nhan”…, học mấy nốt nhạc và tập đánh « mandoline » hai bản nhạc Lên Đàng và Cô Lái Đò do hai bà chị của tôi kèm. Thời gian còn lại tôi chỉ có thả rong ngoài đồng, theo hai anh thứ bảy và thứ tám chăn giữ cặp bò, một phương tiện làm ăn sinh sống của gia đình. Mùa lúa tôi lội xuống mấy thửa ruộng bắt cá trào tửng và cá lia thia; đến mùa thuốc lá thì nhảy xuống giếng, rất rộng và không sâu, quậy cho nước nổi bùn lên để bắt cá chạch. Nhờ vậy mà tôi biết lội hồi nào chẳng hay ! Đến mùa trồng dưa gang, dưa chuột thì bỏ ruộng xuống con rạch cách chùa không bao xa, độ non hai trăm thước, ngay phía sau nhà của bác Tư Sen, chờ nước ròng bắt cá bóng mú ẩn núp trong mấy bẹ dừa nước. Nếu không xuống rạch thì lại ra đồng lật đất bắt dế than, dế lửa về nuôi cho đá…
Thuở ấy tôi sống thật vui vẻ vô tư giữa cảnh yên lành của đồng nội, tưởng chừng như trong cảnh thái bình. Cho đến một buổi sáng, một toán xung kích Việt Minh gồm ba, bốn người chận chiếc xe thổ mộ trên có mấy bà vợ của « tây đen chà chóp » đống đồn ở ngả tư Gò Dưa, lôi tất cả 4 bà xuống đường và đâm họ túi bụi. Mọi việc xảy ra trong chớp nhoáng, không đến một phút đồng hồ và trên khúc đường ngang trước ngôi chùa, cách chùa chỉ hơn trăm thước và cách đồn Tây chưa quá 400! Tiếng kêu la thảm thiết của các nạn nhân trước khi trút hơi thở cuối cùng đã báo động cho lính trong đồn hay. Tức khắc có trên chục lính tây đen ở trần trùng trục, súng cầm tay vừa chạy đến nơi vừa la hét, vừa nổ súng vang rền.Trông chúng nó hung dử đến khiếp, tưởng chừng như chúng sẵn sàng ăn tươi nuốt sống những kẻ đã sát hại người thân của chúng. Nghe tiếng la khóc gia đình tôi cũng ra sân trước chùa để mắt theo dõi nội vụ vừa xảy ra. Sau khi than khóc và mang xác của mấy bà vợ Việt Nam về đồn, bọn lính tây trở ra liền sau đó. Nai nịt gọn gàng, súng đạn đầy người, chúng tủa ra bố ráp dọc hai bên đường, nhưng không vào sâu quá 500 thước. Cha mẹ và anh em tôi đều ở lại ngoài sân chùa chờ chúng nó đến. Thấy chỉ có đàn bà và con nít, chúng bèn bắt cha và anh thứ sáu của tôi vừa 17 tuổi nên cũng có vóc dáng một thanh niên. Anh Sáu tôi lúc ấy đang bị đau khớp gối, đi cà nhắc và chống gậy nên không đi mau được. Thấy vậy một tên tây đen“chà chốp” đã dùng bán súng đập vào lưng thúc anh đi mau hơn. Để tránh trận đòn anh đành phải bỏ gậy cố chạy theo cha tôi. Mẹ tôi nhìn anh mà không cầm được nước mắt. Cuộc bố ráp chớp nhoáng đã gôm được trên 20 tù binh. Tất cả đều được dẫn về đồn. Đến trưa, một toán lính vũ khí vẫn còn đầy trên người dẫn trở ra đám ruộng cạnh đường nơi đã xảy ra cuộc thảm sát ban sáng một toán tù binh 10 người trong đó chúng tôi nhận rõ có cha và anh chúng tôi. Bọn tây đen sắp họ đứng theo hàng một ở giữa ruộng, song song theo con đường, mỗi người cách nhau một cánh tay. Cha và anh tôi đứng vào cuối hàng về bên phải. Một tên lính « lê dương » cầm súng bước ra đứng trên đường lấy thế, đưa súng lên vai và bóp cò ! Người tử tù đứng đầu hàng từ bên trái ngã khuỵu xuống trước mắt chúng tôi ! Và mẹ tôi cũng quị xuống theo té ngồi trên sân chùa, đôi mắt tuy mở lớn nhưng cặp trồng như đà bất động, tưởng chừng như mẹ tôi cũng vừa bị một viên đạn xuyên qua tim. Và cứ mỗi một tiếng súng nổ là một người dân quê ngã xuống ruộng khô. Đến khi người tử tội thứ bảy vừa ngã xuống bổng có hai chiếc xe Jeep từ Thủ Đức lên và ngừng lại ngay bên cạnh tên lính lê dương đao phủ. Trên xe có hai sĩ quan người Pháp bước xuống. Họ cho ngưng cuộc hành quyết lại, xí xô xí xào với nhau một lúc rồi hình như cha tôi lên tiếng nói năng gì đó nên chúng tôi thấy một tên sĩ quan Pháp bước lại gần bên cha tôi. Hai người trao đổi với nhau khá lâu. Sau đó họ chở ba người tù còn sống sót đưa về đồn. Thấy thế anh chị em tôi bổng đồng loạt kêu lên một tiếng lớn vui mừng cho cha anh vừa thoát nạn trong gang tất. Mẹ tôi cũng vừa ra khỏi cơn ác mộng, vịn vào hai chị tôi để đứng lên đi vào nhà. Đến xế chiều cha và anh tôi được thả về. Sau lần thử thách kinh hồn nầy cha mẹ tôi đã gởi anh Sáu tôi lên Nam Vang lánh mặt. Chẳng bao lâu sau cả gia đình tôi lại phải thêm một lần rời bỏ làng quê để về thành phố với hy vọng được chút bình an, dù biết rằng sẽ phải đương đầu với vấn đề sinh kế vô cùng gay go. Nhưng khi về thành lánh nạn Việt Minh, gia đình tôi lại rơi vào vòng kiềm tỏa của mật thám Pháp.Gần như cứ một hai tuần là có vài ba lính mật thám Pháp vào xét nhà, một căn phố không được lớn lắm ở cách ngã tư Bình Hòa vừa hơn trăm thước. Có khi họ đào cả sân ở phía sau nhà để tìm tài liệu ! Có khi họ đến để chỉ hỏi hai chị tôi về anh Cổ Thượng Lân, một người bạn đấu tranh từ lúc ban đầu, nhưng sau đó anh đã lần lần bị nhuộm đỏ và bặt tin luôn một thời gian. Cuối cùng hai chị tôi bị bắt đưa về bót Catinat điều tra. Cha mẹ và bạn bè đã phải « chạy » hết mình mới giải cứu được. Thoát hiểm, chi Tư đã dẫn anh Tám và tôi nối gót theo anh Sáu lên Nam Vang tạm lánh nạn ở nhà một người bà con.

Nay nhìn anh Thịnh một mình trước bầy dã thú, không một vũ khí trong tay, cũng không ai binh vực, tôi thấy lo âu vô cùng cho số phận của anh. Tôi bổng như muốn tự dối mình để bám víu vào một ảo vọng rằng CS từ đó đến nay chắc cũng có phần nào thay tâm đổi tánh : đó là con đường thoát duy nhứt cho anh Thịnh. Viết thư về cho gia đình biết mình đang bị giam cầm ở đâu vào thời buổi mà cả tương lai lẫn hiện tại đều rất vô định chỉ là chuyện vi phạm nhỏ nhặc nội qui trại, chẳng có gì đáng nói. Nhưng theo lời của tên thủ trưởng, trong thư anh Thịnh có viết một đoạn căn dặn vợ đi tìm vài người bạn vốn là những sĩ quan cấp tá, nhắn với họ chờ anh về để cùng nhau tổ chức lại công cuộc chống Cộng ! Khi nghe tên thủ trưởng đề cập đến đoạn thư nầy, tôi cũng như tất cả tù cải tạo có mặt tại phiên toà đều sửng sốt và tự hỏi có lẻ nào anh Thịnh lại tối dạ đến như thế ? Anh phải dư biết rằng thư của anh có thể bị lọt lưới bất cứ lúc nào. Tôi bổng nghi ngờ đây lại là mưu thâm của loài quỉ đỏ. Lá thư nay đã nằm trong tay ban chỉ huy trại, nội dung của thư chỉ có anh Thịnh và bọn cán bộ biết. Anh Thịnh chỉ có hứng chịu mà không có quyền chống đở. Anh không may mắn được tự do bào chửa như tôi đã được mấy tuần lễ vừa qua trong lần đụng chạm đầu tiên giữa tôi và các chính ủy của T1. Lần đó thủ trưởng T1 huy động 6 chính ủy, có cả tên chính ủy trung đoàn nay đang ngồi xử Lê Đức Thịnh, và nghĩ rằng dư sức để bẻ gảy tôi. Nhưng họ đã lầm to khi để cho tôi hoàn toàn tự do cải lý, tự biện bạch, chỉ vì bọn chúng rất cao ngạo mặc dù còn rất dốt về tình hình của đối thủ. Sau gần 4 tiếng đồng hồ so cựa, bọn chúng đã phải rút lui có trật tự và tạm để tôi được yên. Có thể vì cái kinh nghiệm nầy mà hôm nay CS đã cẩn thận « khóa khẩu » anh Thịnh lại trước.
Đang ào ào nghiêm khắc trách móc anh Thịnh, tên thủ trưởng trung đoàn bổng nhiên đổi giọng, tiếng nói trở nên dịu dàng dễ nghe hơn khi hắn nhắc lại tính khoan hồng nhân đạo của Cách Mạng. Và hắn ta đã không ngần ngại giảng lại một lần nữa bài học mà tất cả tù cải tạo đều đã thuộc nhừ như cháo. Sau đó hắn ta mới chịu nhường lời lại cho tên chính ủy. Trong 4 tên ngồi trên bàn chủ tọa, không ai biết ai làm gì cả. Giấu như mèo giấu cức là bản chất cố hữu của CS. Theo cung cách nhận thấy thì tên thủ trưởng có vẻ giữ vai chánh án, tên chính ủy làm công tố, còn hai tên cán bộ từ trung ương đến chưa biết làm gì, có thể là quan sát viên, hay là chỉ đến để làm tăng thêm phần long trọng của phiên toà.
Đến khi tên chính ủy trung đoàn mở lời đã thấy « căng » hơn. Hắn ta không quên nhắc lại điệp khúc « Cách Mạng đưa các anh vào đây học tập là để bảo vệ an ninh cho các anh, để tránh cho các anh sự trả thù của nhân dân… ». Và rồi anh em tù cải tạo lại phải nghe thêm một lần nữa đề tài « Cách Mạng là nhân đạo… » ! Tâm trí tôi lại quay về với hình ảnh những thằng chõng trôi lều bều trên dòng sông cái đã in sâu vào ký ức của đứa trẻ mới lên 7, tiếp theo là bao nhiêu hình ảnh mới hơn của cuộc thảm sát nhân dân xứ Huế trong lần công kích Tết Mậu Thân 68, hình ành thảm khóc của “đái lộ kinh hoàng”, và những cuộc pháo kích nhắm vào làn sóng người chạy nạn Cộng sản những tháng đầu năm 1975 cũng ở miền Trung. Chán ngán tôi ngửa mặt nhìn lên nóc nhà như để tìm cách thoát khỏi những lời vàng ngọc của tên chính ủy, vì tôi không dại gì tự bịt tai lại khi đang ngồi ngay trước mặt, trước sự quan sát theo dõi của chúng nó. Tôi tự than thầm : « Giống Hồng Lạc sao lại có thể có một lũ người ngu si, tàn bạo, dối trá đến như thế nhỉ ? Quả thật là vô phúc cho dân Việt ! »
Phiên toà rồi cứ tiếp diễn một cách nhàm chán. Tôi có cảm tưởng CS chỉ muốn lợi dụng cơ hội để trước là xử lý anh Thịnh một cách công khai, hợp pháp, thứ đến là để dằn mặt bọn cải tạo phản động không chịu học tập, và sau cùng là để tiếp tục nhồi sọ, uốn nắn những kẻ dễ dạy chỉ muốn được « an tâm tư tưởng học tập tốt, lao động tốt » với tí hy vọng bảng vàng sẽ đề tên trong những dịp lễ lớn sắp đến để được về sớm. Những khi nhàn rỗi ngồi trong lán đấu láo cho qua ngày, Lương Huỳnh Tân hay nói đùa, lối đùa mà một số anh em cải tạo cho là vô duyên :
- Ai muốn về trước thì cứ hy vọng, mầy với tao ráng gở vài cuốn lịch rồi tính sau !
Chỉ cần nói có thế cũng đủ cho một số các bạn học xài xể rồi, vì họ tin rằng chỉ học vài ba tháng thôi, và họ đã chọn con đuờng nín thở qua sông cho yên thân. Nhưng CS có đủ trăm phương nghìn kế để làm cho họ không bao giờ yên thân như họ muốn. Nếu họ muốn thật sự được an tâm như lời Cách Mạng khuyến dụ thì họ chỉ có một con đường : xa lánh bọn phản động, cà chớn nói theo ngôn ngữ miền Nam. Vì thế nên những người bạn học nầy trở nên thầm lặng, họ xa lánh những nơi dụm năm dụm ba, bàn ra tán vào. Họ thích nghe nhạc vàng nhưng chẳng dám đến gần bọn phản động đang hứng khởi ca vang những tình khúc ngày xưa. Muốn an tâm hơn nữa họ chấp nhận bò bốn cẳng đi xu nịnh bọn cán bộ. Nhưng tệ hại hơn hết là họ đi làm « antenne », bù tọt…Họ hạ quyệt tâm đoái công chuộc tội, lại cũng theo lời khuyến dụ đường mật của Cách Mạng ! Tuy vậy mà họ vẫn không được về sớm, thật rõ tội nghiệp. Một khi lở sinh ra tối dạ thì chẳng bao giờ họ có thể sáng dạ ra được. Đến giờ phút đó mới thấy rằng Nhu Diệm ngày trước đã hoàn toàn thất bại trong chính sách học tập tố Cộng : miền Nam còn rất dốt về CS. Chả trách sao có rất nhiều nhà trí thức, khoa bảng đã tích cực nối giáo cho giặc chiếm lấy miền Nam trù phú và cướp luôn cả tài sản riêng tư của họ ! Mỵ Nương thời nào cũng có, và bao giờ cũng nguy hiểm. Lịch sử quả thật chỉ là chuyện lập đi lập lại từ thời nầy sang thuở khác, như ngày đêm cứ nối tiềp nhau, như con người cứ triền miên lặng hụp trong u mê danh lợi…
Tên chính ủy càng nói càng trở nên hung hăng cao ngạo. Hắn ta có vẻ như được dịp để chứng tỏ cho mọi người thấy rằng hắn thông suốt lịch sử, quán triệt cả lý thuyềt Mác Lê…Căn bịnh nầy rất phổ biến trong hàng ngũ cán bộ các cấp mà tôi có dịp gần gủi. Tôi còn nhớ (mà quên thế nào được những chuyện tiếu như thế trong chốn lao tù) vào một buối chiều tối, quản giáo Trung, một thanh niên gầy guộc mới 25 tuổi, trong buổi sinh hoạt lán thường lệ, đã nổi hứng lên giọng giảng cho 73 đại úy quân lực VNCH đang ngồi bó gối trên nền đất nghe về chủ trương đường lối của Cách Mạng, về lý thuyết vô địch của CS chủ nghĩa…Tôi dằn lòng chịu đựng suốt hơn nửa giờ. Khi Trung vừa ngưng (có lẻ cái dĩa của anh chỉ có chừng đó) tôi liền đứng lên đến bên cạnh anh ta và chẳng nói chẳng rằng tôi nắm lấy cánh tay và kéo anh ta ra ngoài sân trước lán. Trong lúc đang còn đầy hứng khởi tự mãn, Trung vui vẻ theo tôi không một chút thắc mắc, có lẻ anh nghĩ rằng tôi sẽ có lời ca ngợi sự hiểu biết vượt bực của anh. Nhưng không, tôi lại chỉ tay lên nền trời không trăng, không mây nhưng đầy sao lấp lánh, sáng tỏ với một phần lớn của giải Ngân Hà bàng bạc trên cao. Trung nhìn theo tay của tôi, đã có vẻ ngơ ngác, chưa hiểu ý tôi muốn gì.Tôi cười hỏi Trung :
- Trong những vì sao sáng tỏ nhứt trên kia, anh có nhận biết vì sao nào không ? Anh có biết Ngân Hà là gì, ra làm sao không ?
Trung càng ngơ ngác hơn : tôi lôi anh ra sân chỉ để hỏi anh chuyện trời trăng mây nước chẳng ăn nhập gì đến những lý thuyết cao xa mà anh vừa thao thao bất tuyệt ! Nhưng rồi anh cũng tử tế trả lời :
- Sao nhiều thế kia làm thế nào mà biết được. Còn sông Ngân Hà thì tôi chỉ nghe trong chuyện tích Ngưu Lang Chức Nữ. Tôi chỉ biết có sao Bắc Đẩu, nó ở hướng Bắc về phía chân trời. Nhưng nhiều sao quá tôi chưa nhận ra là sao nào.
Tôi liền chỉ cho Trung biết hầu hết các chòm sao đang xuất hiện trong vòm trời đêm đó, ngay trên đầu chúng tôi. Đầu tiên là nhóm sao Gấu Lớn, Gấu Nhỏ với sao Bắc Đẩu lấp lánh sát trên rặng cây. Giữa hai chòm sao Bánh Lái đó là nhóm sao Thiên Long lượn vòng như hình chữ Z. Ngay trước mủi con rồng nầy và gần bên giải Ngân Hà là nhóm sao của đàn Lyre với sao Vega sáng ngời như một viên ngọc bích. Chếch về bên phải có vì sao Deneb sáng trắng như một viên hột xoàn cũng đẹp không kém, thuộc nhóm sao của Thiên Nga đang soải rộng đôi cánh và kéo dài cổ như bay về hướng Đông Nam xuôi theo dòng sông Ngân hà. Trước mủi Thiên Nga lại có Thiên Ưng cũng xuôi theo dòng Ngân Hà với sao Altaïr cùng đua sức sáng với Vega và Deneb. Sau cùng tôi chỉ cho Trung xem « sông Ngân Hà » tựa một làn khói thật mong manh nằm ngay trên Thiên Nga và Thiên Ưng. Tôi không quên cho Trung biết là làn khói tuy mong manh đó lại do trên 200 tỷ vì sao tạo thành ! Khi nói đến số tỷ tôi bổng hơi giựt mình tự hỏi không biết hắn có hiểu tỷ là bao nhiêu hay chăng. Tôi nói cho Trung tên của mỗi nhóm sao, tên của mỗi vì sao chuẩn của từng nhóm với cả khoảng cách đối với địa cầu tính theo đơn vị năm ánh sáng. Tôi giải thích cho Trung hiểu thế nào là năm ánh sáng với một ví dụ điển hình : khoảng cách giữa địa cầu và mặt trăng đại khái trên 380.000 cây số, ánh sáng chỉ mất có hơn một giây đồng hồ. Từ mặt trời đến địa cầu ánh sáng chỉ « đi » có hơn 7 phút ! Sao Bắc Đẩu cách địa cầu có 40 năm ánh sáng ! Nhưng từ bên nầy bờ sang bên kia bờ Ngân Hà, ánh sáng phải « đi » mất trên 100.000 năm ! Riêng cái « nhánh » của Ngân Hà nơi quả địa cầu đang xoay quanh mặt trời, ánh sáng cũng phải mất đến 700 năm mới sang được bờ bên kia. Và tôi đùa với Trung rằng không biết Ngưu Lang làm cách nào để có thể « sang sông » hằng năm thăm Chức Nữ? Tôi liếc thấy Trung đứng lặng yên, cổ ngóng ngược lên khung trời không một áng mây, mắt nhìn theo ngón tay tôi đang chỉ điểm các chòm sao. Anh có vẻ rất thích thú, ngẩn ngơ không nói gì nữa. Khẻ nhìn vào trong lán, tôi thấy anh em ở hai tổ gần bên cửa đang theo dõi, bàn tán có lẻ tự hỏi không biết tôi đang làm gì tên quản giáo. Tôi chẳng làm gì Trung cả, chỉ nhỏ nhẹ « lên lớp » anh rầng :
- Đấy anh xem, những gì đang có trước mắt anh và tôi ở trên kia chỉ là hình ảnh của mấy mươi năm, mấy trăm năm về trước, tức là hình ảnh của quá khứ ! Trong giờ phút nầy không biết có vì sao nào đã vỡ tan và mất đi nhưng chúng ta chưa nhìn thấy được sự mất mát đó. Phải đợi đến hằng chục, hằng trăm năm nữa mới hay, mới biết. Anh xem, những vì sao chúng ta đang ngắm chỉ là ảo ảnh mà thôi ! Hình như Đảng không có dạy anh điều nầy ? Cuộc đời ngay trước mắt anh nó hư hư thực thực như thế mà Đảng còn chưa biết chỉ dạy anh và anh cũng chưa bao giờ nhận thức được, thì còn nói chi đến những lý thuyết suông viển vông, trừu tượng về Mác Lê, về chủ nghĩa xã hội…Liệu anh có hiểu gì không ? Có phân biệt được điều gì đúng, điều gì sai hay không ?
Và chẳng đợi Trung có phản ứng, tôi khẻ để tay lên vai đẩy nhẹ anh về phía trước và chúc anh về ngủ ngon ! Như còn đờ người trong kinh ngạc, thích thú, anh chỉ ừ ừ hử hử không nói gì thêm và ngoan ngoản lặng lẽ trở về khu của cán bộ. Có lẻ vì cuộc « khám phá » bất ngờ và vô cùng lý thú vừa qua nên anh đã mất hết phản ứng. Tôi trở vào lán, hít một hơi thật dài và thở ra từ từ như để trút bỏ nỗi bực dọc nặng nề. Khi đã bỏ dép trở lại ngồi bẹp trên manh chiếu đã bắt đầu rách, tôi mới bật cười thành tiếng. Mà không cười thế nào được, không cười là mất một dịp vui đáng nhớ. Anh em quanh tổ đều thắc mắc muốn biết tôi đã nói gì với Trung mà lại thấy tôi cứ chỉ tay lên trời. Tôi chỉ cười hẹn sáng hôm sau đi lao động sẽ kể cho nghe, bây giờ đã 21 giờ sắp tắt đèn, lo đi ngủ cho được việc.

Sau phần lý thuyết về Mác Lê, về chủ nghĩa xã hội, về tính khoan hồng nhân đạo của Cách Mạng, tên chính ủy quay sang trách Lê Đức Thịnh vẫn còn ngoan cố, chưa chịu nhận thức đúng đắng về những tội lỗi tày trời mà « nước biển Đông không đủ để rửa sạch », nay lại còn thêm hành vi phản động âm mưu chống phá Cách Mạng…Hắn ta không quên đưa cao lá thư của Thịnh cho mọi người nhìn thấy như để nhắc nhở rằng bằng chứng cụ thể đang nằm trong tay. Phần lớn thời gian hắn ta chỉ dùng vào việc lý thuyết, trách cứ và lên án Thịnh. Hắn ta chẳng hỏi Thịnh được mấy câu, nhưng câu nào cũng buộc Thịnh trả lời bằng có hay không, đúng hay sai, tuyệt nhiên không để cho anh một cơ hội nào giải thích hay tự biện bạch. Đôi lần Thịnh cũng cố ý phá lệ nói thêm về một vài điểm mà anh bị cáo buộc, nhưng anh liền bị chỉnh ngay tức khắc và được nhắc nhở là anh không được dài dòng. Giọng của tên chính ủy càng lúc càng trở nên gay gắt, đôi khi như quát tháo. Sau gần 45 phút, hắn ta mới chịu ngưng và quay sang thì thầm hội ý với các đồng chí trên bàn chủ tọa. Trong phòng xử, một bầu không khí im lặng hết sức nặng nề vẫn bao trùm lên những người tù dự khán. Ý kiến trao đổi xong, tên thủ trưởng lại lên tiếng :
- Toà tạm ngưng giây lát để nghị án.
Tất cả mọi người chưa kịp chuẩn bị đứng lên rời phòng xử, thì một « sự cố kỹ thuật » xảy ra ngoài dự tính của mọi người, đặc biệt là của toà : khi tên thủ trưởng chưa hoàn toàn dứt lời, bất ngờ ba tên cán binh ngồi bên phải tên y tá đồng loạt đứng lên phóng nhanh đến túm lấy Lê Đức Thịnh. Cả ba đều rút trong túi quần ra một mảnh vải trấng. Một tên bịt mắt, một tên bit miệng và một tên cột hai tay của Thịnh thúc ké ra sau lưng. Ai có phần vụ nấy. Họ hành động hết sức nhịp nhàng, thuần thục và nhanh nhẹn đến độ anh Thịnh hầu như không kịp có bất cứ một phản ứng nào. Và cả đến các quan toà cũng kinh ngạc trong giây lát trước khi tên chính ủy có được phản ứng, nhổm người lên ra lịnh như quát tháo :
- Các đồng chí làm gì thế ? Mở ra ngay ! Toà chỉ tạm ngưng để nghị án, các đồng chí trở về chổ.
Ba tên cán binh lật đật cởi trói, mở miệng, mở mắt cho Thịnh và lặng lẻ trở về chổ ngồi, bẻn lẻn như kẻ trộm vừa bị bắt quả tang. Trên bàn chủ tọa tên chính ủy ngả người ra ghế, ngửa mặt nhìn lên mái nhà, hai tay đưa lên cao nhưng chỉ được nửa vời lại bỏ rơi trở xuống mặt bàn biểu lộ sự bực dộc, chán nản. Hắn ta có vẻ rất bối rối, không biết phải nói năng ra sao. Tên thủ trưởng thì ngồi lặng im, có vẻ  « đực người ra » ; chắc là hắn ta rất sượng sùng với hai đồng chí từ trung ương đến chứng giám.
Khi đã ra hết ngoài sân trả lại sự yên lặng cho toà nghị án, tất cả tù cải tạo đều rất xôn xao về sự cố kỷ thuật rất có ý nghĩa trên. Rồi sự lo âu, nỗi buồn bã dần dần xâm chiếm trọn vẹn mọi người. Tôi bổng nghe trong người như có một loài thú dữ đang từ từ vùng lên muốn phá vở lòng ngực để thoát ra…
Mười lăm, hai mươi phút sau, toà tái nhóm. Tôi trở về hàng ghế đầu. Bên phải tôi vẫn là tên y tá với « blouse » trắng và ống nghe trong túi, và bên phải của hắn ba tên bộ đội vẫn giữ nguyên vị trí. Đến lúc bấy giờ cái ống nghe của tên y tá mới thật sự thu hút sự chú tâm suy nghĩ của tôi, và tự nhiên tôi nghe tim se thắt. Tuy vậy tôi vẫn bám víu vào ảo vọng rắng CS bây giờ chắc cũng phải có phần biến chuyển vì dù sao giờ đây cũng chỉ còn có Nam với Bắc.
Bốn vị quan toà trở lại bàn chủ tọa. Từ giây phút nầy, chính ủy là nhân vật chủ yếu trong giai đoạn quyết định của phiên toà. Hắn ta tóm lược lần chót sự việc, nhắc lại tội « trời không dung, đất không tha » của anh Thịnh và của cả bọn Ngụy, đề cao tính khoan hồng nhân đạo của Cách Mạng v.v…Hắn dong dài một lúc khá lâu trước khi ngưng lại uống một ngụm nước. Sau khi chẫm rãi đặt ly nước xuống bàn, hắn khẻ hất hàm về phía ba tên bộ đội ngồi cạnh tên y tá như để ra hiệu, rồi mới từng tiếng một tuyên án Lê Đức Thịnh :
- …Tội tử hình !
Lần nầy ba tên cán binh còn nhanh hơn lần trước nhiều. Khi ba tiếng « tội tử hình » chưa hoàn toàn thoát ra khỏi miệng tên chính ủy thì cả ba đều đã bay đến bên cạnh Lê Đức Thịnh đứng cách đó không quá ba bước. Chúng hành động chớp nhoáng và thô bạo như một bầy dã thú vồ mồi. Và khi tên chính ủy chấm dứt ba tiếng ác nghiệt lạnh lùng nhưng có hiệu lực của một tiếng sét ngang đầu của bản án thì anh Thịnh đã không còn có thể có bất cứ một phản ứng nào nữa. Tiếng la hét cúa anh chỉ còn là tiếng ú ớ nghẹn ngào sau chiếc khăn trắng đã bịt chặt kín miệng anh. Anh cố gắng vùng vẩy cũng vô ích vì sức anh không còn đủ để giúp anh thóat khỏi sức kiềm chế của ba tên bộ đội khỏe mạnh đang tức tốc lôi kéo anh về hướng cửa hậu của phòng xử và đẩy anh ra sân mất dạng.
 Anh em bạn tù còn lại trong phòng xử vì chưa có lịnh giải tán đều như còn trong cơn mê hoảng, ngơ ngác nhìn nhau chưa hiểu, chưa tin, chưa hoàn hồn như vừa bị sét đánh lầm ! Bốn tên quan toà điềm nhiên thu dọn giấy tờ, trao đổi nhau vài ba câu rồi kéo nhau rời phòng xử theo cánh cửa mà anh Thịnh vừa được lôi ra. Những người tù dự khán cũng lần lượt rời phòng xử với trọn vẹn nỗi bàng hoàng. Họ lặng lẽ theo cán bộ hướng dẫn trở về từng T. Mãi một lút lâu sau mới nghe họ bắt đầu bàn tán xôn xao, càng lúc càng ồn ào. Tâm tư tôi miên man trong lo âu buồn bực, chán ngán, uất giận. Tôi tự hỏi không biết bao giờ chúng nó mới thi hành bản án. Và liệu chúng nó còn « mời » tôi và một số bạn tù đến dự khán nữa không ?
Nhưng một tràng AK dòn dã nổ vang từ phía sau lưng đoàn tù vọng lại. Như một cái máy hết xăng, đoàn người tự động dừng lại, quay mặt về phía sau như để tìm xem anh Thịnh ra sao. Nhưng có ai thấy được gì ngoài những căn nhà tiền chế che kín khu đất hoang nằm sát ngoài vòng rào ở về phía Đông Nam của trại. Sau giây phút sửng sốt, mọi người đều lắc đầu thở dài, kẻ cúi đầu, người ngẩng mặt nhìn trời cao…Tôi có cảm tưởng trái đắt nầy và khung trời kia không đủ để chứa nỗi uất ức, chán chường, ghê tởm của họ. Họ không còn xôn xao nữa vì họ không còn gì để bàn tán. Họ âm thầm trở về doanh trại trong sự im lặng lạnh lùng tang tóc phi lý.
Khi trở về tới phần đất của T1, các bạn tù ai về lán nấy. Đa số các bạn trong lán đều vây quanh những người đã được mời dự phiên toà để hỏi thêm một số chi tiết về Lê Đức Thịnh, về các quan toà, về đủ mọi chuyện bên lề, và đặc biệt là về loạt AK mà mọi người đều nghe nhưng không rõ lắm. Tuy không ai có thể xác định được gì, nhưng tất cả đều tin chắc là anh Thịnh đã ra người thiên cổ.
Đã tới giờ cơm trưa, mọi người lo lảnh phần ăn như thường lệ, nhưng hôm nay chẳng còn ai thấy đói nữa. Ăn  thì ăn vậy, nhưng ai cũng có vẻ lo ra và bàn tán nhiều về loạt súng AK. Ai cũng trông ngóng, chờ đợi một tin « chính thức », một tin xác thực về số phận của Lê Đức Thịnh, mặc dù không biết tin đó sẽ do ai mang đến và bao giờ.
Tối hôm đó, trong buổi sinh hoạt lán, quản giáo Trung chỉ xác nhận : bản án của anh Thịnh đã được thi hành ngay sau phiên toà. Hắn ta không cho biết thêm một chi tiết nào khác. Tất cả những câu hỏi quanh vấn đề đó hắn đều tránh không trả lời. Trước khi chấm dứt buổi sinh hoạt ngắn ngủi và buồn tẻ, Trung nhỏ nhẹ nhắn nhủ anh em :
- Tôi khuyên các anh nên thận trọng và nhận thức đúng đắn tình cảnh hiện tại của các anh.
Trung có vẻ như còn muốn nói gì thêm, nhưng do dự giây lát rồi lại thôi và bảo anh em cùng hát « Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng… » rồi bỏ ra về, để mặc anh em tiếp tục hát với nhau. Sau đó anh em dùng thời gian còn lại bàn ra tán vào, đủ mọi giả thuyết. Anh em vây quanh tôi và 4 tổ trưởng đặc câu hỏi không kịp trả lời. Khi nghe kể về « sự cố kỹ thuật » của ba tên bộ đội đã hố trong nhiệm vụ trói tay, bịt mắt, bịt miệng can phạm, anh em đều chửi thề ! Nhưng sau đó, sự lo sợ đã xuất hiện ở một số tù cải tạo. Đêm hôm đó, tiếng thì thầm bàn tán kéo dài rất khuya. Tôi nghe có tiếng thở dài…Tôi trằn trọc, trăn trở, « thương cho người rồi lạnh lùng riêng », đến khuya lắm mới thiếp đi…

   Sáng hôm sau anh em lại đi lao động như chẳng có việc gì xảy ra. Một toán đi cuốc ở sân bay, một toán xuất trại đi về phía bên kia đường liên tỉnh để kiếm củi cho nhà bếp, và cũng thừa dịp tìm luôn thân nhân. Suốt trong 6 tháng đầu, tù cải tạo không được viết thư cho gia đình, nên ngày nào Long Giao cũng có rất nhiều « du khách » lai vãng, nhứt là chung quanh trại cải tạo. Du khách đây chỉ toàn là thân nhân của tù, đa số là các bà xả giả dạng thường dân ! Họ mượn (hay mướn ?) áo quần bà ba đen của dân địa phương, đầu đội nón lá củ kỷ (cũng của dân địa phương) để cố che giấu tông tích. Nhưng chỉ có giấu đầu lòi đuôi thôi chớ có giấu gì được ai đâu ! Chỉ cần nhìn qua cốt cách, dáng điệu đi đứng, nhứt là đôi bàn tay mịn màng, nuột nà là đủ biết ! Chưa kể những gót son còn trắng hồng mà guốc dép gì cũng không che, không giấu được trọn vẹn nét đài các vẫn còn sót lại của thời vàng son.
Nhưng đặc biệt toán kiếm củi hôm đó tìm thân nhân thì ít, mà tìm bạn tù các T khác thì nhiều. Không ai nói ra nhưng tất cả đều muốn biết rõ hơn về vụ bắn Lê Đức Thịnh. Những ai ở lại trại lo việc hậu cần, làm vệ sinh doanh trại cũng nôn nóng, họ trông đợi các toán lao động bên ngoài trở về với hy vọng họ thâu lượm được thêm tin tức. Quả nhiên, chỉ cần một buổi sáng là tin tức đầy đủ, chính xác hơn, như mọi người mong muốn.
Trên mặt nổi, VC công khai tổ chức rầm rộ phiên toà xét xử Lê Đức Thịnh, có sự tham dự của tất cả các « đại diện » tù cải tạo trong toàn trại. Số tù không được dự trực tiếp phiên toà được cán bộ quản giáo hướng dẫn tập trung lên hội trường để họ « có khả năng » theo dõi phiên toà qua trực tiếp truyền thanh. Trên mặt không nổi nhưng cũng không hẳn là chìm, VC đã chỉ định một toán tù cải tạo của một T nào đó không rõ làm công tác đặc biệt ngay trong buổi sáng sớm hôm xử Lê Đức Thịnh. Công tác đặc biệt nầy là đào một cái huyệt trên một khu đất hoang ở gần ngoài bìa ranh, về hướng Đông Nam của trại. Đồng thời, theo lời của toán công tác đặc biệt, VC cũng đã đặt mua một cổ quan tài loại « chiếc hòm chân nhang » rất thô sơ. Buổi sáng hôm đó, quan tài đã được chở đến « pháp trường » khi toán công tác đặc biệt chưa hoàn toàn đào xong huyệt. Khi xong việc, toán nầy được dẫn trở về trại ngay. Khi đó họ không hề nghĩ ngợi, nghi ngờ gì cả. Cho đến khi loạt AK nổ dòn chưa đầy 5 phút sau khi nghe tuyên án tử hình Lê Đức Thịnh, họ mới giựt mình thoát ra khỏi đám mây mù, và thấy rõ, hiểu rõ mọi sự : phiên toà chỉ là một trò lừa bịp !

Đối với CS mà đa số gồm giai cấp ngu đần, cuồng tín, mang nặng mặc cảm và bất mãn, ganh ghét hận thù đối với giai cấp tương đối thành công hơn họ, khá giả hơn họ, phương tiện hay nhứt để đảo ngược tình thế một cách mau chóng giúp họ đạt đến danh lợi vẫn là bạo lực, được họ khoát cho mỹ từ bạo lực cách mạng ! Bản chất bạo ngược đó, CS không hề thay đổi, từ bỏ vì đó là bản chất của giai cấp vô sản ! Tiếc thay, cho đến hôm nay vẫn còn có nhiều, rất nhiều người đã từng ở trong hàng ngũ của chúng ta, giả đui giả điếc hợp tác với CS dưới bất cứ hình thức nào, chỉ vì lợi lộc riêng tư ; hay tệ hại hơn, chỉ vì ảo tưởng của một chút hư danh. Khoa bảng cao, sao họ không học được một chút đạo đức nào của tổ tiên ? Tiếc lắm thay!
                                               
                   
                                                             
                              Một lần thăm nuôi

                                           

Lần chuyển trại đầu tiên đi khỏi Long Giao, tôi đã phải « cách ly » với cựu mũ xanh Hồ Thiện Hiền (BTL/SĐ/TQLC), một người tin cẩn và can trường khó tìm thấy trong chốn tù đày cải tạo. Về Hốc Môn chỉ có Lương Huỳnh Tân còn nắm cạnh tôi. Y sĩ mũ xanh Trần Hùng Hải, hổn danh Hải Mù, cũng về Hốc Môn nhưng lại ở một « tiểu đoàn » khác cách T5 của tôi có đến hơn 10 vòng rào kẻm gai. Thỉnh thoảng thừa lúc vắng cán bộ, anh em đôi bờ hay đi dong đi dài dọc vùng biên giới đó, hy vọng gặp được bạn bè hỏi thăm vài câu trước khi nhanh chân lẫn đi. Có lần Hải Mù đã đến vùng biên giới đó bắn sang một mảnh giấy nhỏ để một người « bạn học » đem vào cho tôi. Hắn hẹn tôi ra bờ rào để hỏi thăm tí việc. Nhận được mảnh giấy và biết kẻ đem thư là người tin cậy được, tôi vừa mừng vừa giận. Đến hẹn tôi ra bờ rào thì Hải Mù cũng vừa đến. Biết chắc giờ đó không có ai lai vãng tôi vào chuyện ngay:
- Chuyện chi quan trọng mà mi liều lỉnh bắn thư sang như thế ? Mi muốn chúng nó xơi tái tao à ?
Tôi đã phải lên giọng trách cứ Hải Mù là vì hắn cũng như hầu hết mọi người chỉ thấy có một phần nổi của những « khó khăn » mà tôi đang đương đầu, nhưng không biết được chín phần chìm còn lại. Trong tình cảnh lúc bấy giờ làm sao tôi dám hé răng thổ lộ tâm tình với bất cứ ai ? Ngày rời Long Giao chuyển trại về Hốc Môn, quản giáo trao cho tôi 3 tờ giấy, khổ giấy đánh máy, ghi danh sách viết tay những người sẽ được chuyển trại của lán 1. Anh ta bảo tôi giữ đó chờ đến lúc anh sẽ cho lịnh tôi gọi tên từng người một. Ai được gọi tên mang hành trang đứng sang một bên. Tuyệt nhiên không ai biết là ai đi, ai ở. Trước đó tất cả mọi người đều được lịnh thu dọn tất cả hành trang cá nhân và tập hợp ngoài sân chờ lịnh. Ai cũng biết là sẽ có kẻ đi trại khác, có người ở lại đây nhưng sẽ không trở về lán cũ, đội xưa…Tuy có đôi chút âu lo nhưng hình như đa số đều có vẻ thích thú vì có sự thay đổi trong đời sống đã trở nên nhàm chán từ 10 tháng qua. Anh em bàn tán ồn ào và vui vẻ ! Nhưng vui nhứt đối với tôi là khi nghe một số anh em cùng nhau ao ước rằng tên của họ không cùng chung danh sách với tên của tôi ! Theo suy tư của những người nầy, chuyển trại chung với tên « phản động » tương lai chắc chắn sẽ hắc ám. Họ nghĩ thế cũng hợp lý, nhưng họ chỉ biết một mà chưa biết mười. Nghe họ bàn tán Tân, Hiền, Ba Phác và tôi chỉ cười ruồi tuy cũng chờ đợi trong hồi hợp âu lo.
Khi đã đến lúc, tên quản giáo cho lịnh tôi mở danh sách ra gọi tên. Anh đứng ngay bên cạnh tôi kiểm soát. Trong khi chờ cho mọi người ổn định và im lặng, tôi hồi hợp liếc mắt thật nhanh qua trang đầu của danh sách theo thứ tự A, B, C, D…Nhìn kỹ hơn các tên thuộc D và Đ tôi không thấy có tên tôi trong đó. Đa số những người có tên trong trang giấy đều thuộc loại nhẹ tội, tức là không có « nợ máu » đối với Cách Mạng như mủ xanh, mũ đỏ, mũ nâu, phòng nhì v.v…Tôi bổng đâm lo, nghĩ rằng khi trao danh sách cho tôi đọc, VC đã có ý dằn mặt tôi rằng : nhà ngươi không ở trong bảng vàng đâu, sổ bìa đen thì có ! Điều nầy tôi đã được gia đình lên thăm nuôi thông báo và năn nỉ tôi nên giữ mình. Vợ con tôi cũng đã kể lại chuyện được VC mời lên căn cứ Sống Thần sỉ vả, hăm he và yêu cầu « giáo dục » tôi.
Tôi điểm danh rất chẫm rãi vì mỗi lần phải chờ người được gọi tên mang hết bao bị ra khỏi hàng đứng sang một bên. Khi tôi bắt đầu gọi đến tên trong vần D, tự nhiên mọi người bớt ồn ào và để tâm theo dõi. Khi tôi sang qua vần Đ tiếng bàn tán lại vụt nổi lên. Những người vừa được gọi tên có vẻ rất hân hoan ! Có ai đó như reo vui:
- À ! Không có tên nó.
 Lại có kẻ « thối mồm » :
- Nó điếu đọc tên nó làm sao mầy biết ?
Làm người kia cụt hứng và tôi không nhịn được cười. Tôi cứ thông thả gọi tên cho đến hết trang 2, danh sách chỉ viết trên một mặt giấy. Khi sang qua trang 3 và cũng là trang chót, tôi giựt mình khi nhìn xuống cuối trang nơi có một lằn gạch dài hết cả bề ngang của trang giấy. Lằn gạch thật đậm nét sát ngay bên dưới họ tên của người cuối cùng. Trong khoảng giấy trắng còn lại không quá 1 phân ngay dưới lằn gạch ngang, họ tên của tôi được viết vào đó và phía trước có ghi thêm 3 dấu sao để lưu ý người đọc ! Tôi thở ra nhẹ người, nhưng liền sau đó một nỗi lo khác lại đến với tôi : tuy không thuộc vào danh sách những kẻ có nợ máu, nhưng rõ ràng tôi đã được « thông báo » khá lộ liểu trên giấy trắng mực đen rằng tôi không nằm trong dạng bình thường, và cái dạng bất bình thường nầy chắc chắn sẽ không có lợi gì cho tôi cả.
Khi tất cả các đội đã điểm danh xong, những người được gọi tên tập trung lại một chổ. Đến khi đó anh em mới trố mắt lên kinh ngạc thấy tôi ôm hành trang theo chân Tân Cò đứng vào toán được chuyển trại ! Tân và tôi đều cười vui vẻ chẳng phải vì được « đi » mà vì thấy đa số trong toán có vẻ thất vọng lo lắng. Sau khi kiểm soát lại một lần chót toán chuyển trại, các quản giáo mới hướng dẫn tất cả lên khu của ban chỉ huy T1. Đến nơi tôi thấy một đoàn xe Molotova trên chục chiếc đã đậu sẵn trên khoảng đường hướng ra cổng trại. Cán bộ chia đám tù ra từng nhóm 20 người. Tôi lại được giao trách nhiệm một toán của lán 1 để lo thu xếp cho anh em lên xe. Chỉ mới xế chiều nhưng vì mây mưa nên ướt lạnh và mờ mờ tối tưởng như mặt trời đã lặn. Khi người cuối cùng trong toán của tôi đã lên xe, tôi mới lò mò lên sau. Lúc đang loay hoay tìm cách trèo lên thì một cán binh đến bên tôi vổ nhẹ vào lưng, ra dấu bảo tôi tụt xuống. Ngạc nhiên tôi tụt xuống đứng nhìn anh ta chưa kịp hỏi lý do thì hắn đã bảo tôi theo hắn. Thắc mắc trong lòng, tôi theo hắn ngay để xem hắn đưa tôi đi đâu và muốn gì. Hắn chẳng đi đâu xa mà đưa tôi đến một căn nhà cách chổ xe đậu chưa được 20 bước. Nhà không mở đèn nên tôi chẳng nhìn thấy gì rõ bên trong. Khi còn vài ba bước tới trước cửa, tên cán binh ra dấu cho tôi vào nhà rồi quay đi. Còn đang chần chừ chưa vội bước vô, tôi đã nghe tiếng của FM đầu bạc thủ trưởng T1 mời gọi :
- Mời anh vào đây uống tách trà cho ấm trong lúc chờ đợi.
Rất đổi ngạc nhiên và vì lúc đó mưa có hơi nặng hột hơn nên tôi bước vào nhà ngay. Bên trong có vẻ là một văn phòng : giữa phòng có một cái bàn và bốn cái ghế. Thủ trưởng FM đầu bạc đang ngồi trên chiếc ghế ở góc bàn phía trong, một chân co lên theo kiểu ngồi khi nước lụt. Trên bàn trước mặt anh có một bình thủy và 2 tách trà đang bốc hơi thơm phức. Tôi dở cái nón đã ướt đẫm cầm trên tay trong khi anh thủ trưởng lên tiếng mời tôi ngồi xuống chiếc ghế cạnh bên và đẩy nhẹ tách trà về phía tôi.
- Anh cứ tự nhiên ngồi xuống đây uống tách trà với tôi cho ấm. Trời hôm nay lại mưa gió chẳng thuận tiện tí nào cho việc di chuyển.
Tôi ngỏ lời cảm ơn anh ta và bưng tách trà lên hớp một ngụm, nghe ấm dạ làm sao. Tôi hỏi anh ta chúng tôi sẽ chuyển trại về đâu mà sao giờ nầy đã xế chiều rồi mà vẫn chưa thấy nhúc nhích. Anh ta chỉ cười :
- Trước sau gì rồi các anh cũng biết thôi !
Rồi anh ta nói lảng sang chuyện mưa nắng không đâu. Khi thấy tách trà của tôi đã cạn mau lẹ, anh ta lại tự tay châm thêm cho tôi. Rất ngạc nhiên, cảm kích và hết sức thắc mắc trước cung cách lịch sự, hiếu khách và có vẻ thân mật của một cán bộ CS đối với tôi (một điều mà tôi chưa bao giờ dám mơ tưởng đến), tôi muốn hỏi thẳng anh ta ý nghĩa của tách trà nầy, nhưng nghĩ lại có hỏi cũng bằng thừa vì chẳng bao giờ một cán bộ CS, đặc biệt là một thủ trưởng, lại đi thố lộ tâm tình với Ngụy. Tôi chỉ có gắng sức mà suy đoán, tìm hiểu lấy mà thôi.
Sau khi uống xong tách trà thứ hai, trời cũng vừa bớt mưa, thủ trưởng FM đầu bạc mới đứng dậy. Biết rằng đã đến lúc ra đi, tôi cũng đứng lên, theo anh ta bước ra phía đường nơi đoàn xe đang chờ lịnh khởi hành. Khi ra tới lề đường, anh ta dừng lại, chờ tôi bước lên ngang vai mới quay sang nhìn tôi và nói thật nhỏ nhẹ như sợ có ai đó nghe thấy :
- Tôi đã từng quản lý khá nhiều trại cải tạo nhưng chưa bao giờ tôi được gặp, được biết một người như anh. Về trại mới anh nên hết sức thận trọng, giữ mình. Chúc anh đi bình an.
Bàng hoàng, kinh ngạc quá mức, tôi như bị đớ lưởi, cứ đứng yên nhìn hắn ta quay gót trở vào nhà mà không nói được tiếng cảm ơn hay giả từ. Tôi leo lên xe tìm một chổ để an vị mà hồn vẫn còn ngẩn tò te trước thái độ khó hiểu của FM đầu bạc. Tân ngồi gần bên tôi có ý thắc mắc muốn biết xem tên bộ đội đưa tôi vào nhà gặp thủ trưởng có chuyện gì, hắn có cho biết sẽ chuyển trại về đâu hay không…Tôi chỉ lắc đầu, im lặng, suy nghĩ miên man. Lời nói sau cùng của thủ trưởng T1 đã đeo đuổi tôi lâu dài.
Rồi đoàn xe bắt đầu lăn bánh hướng về phía Biên Hòa để ra xa lộ. Anh em có vẻ vui mừng vì nghĩ rằng sẽ được đưa trở về gần Sài Gòn, đó là một dấu hiệu tốt : nếu không được về sớm thì ít ra cũng tiện việc gia đình thăm nuôi. Đoàn xe không chạy mau ; độ nửa giờ sau thì ra khỏi vùng mây mưa, trời có vẻ sáng sủa hơn. Đầu óc tôi vẫn còn quay cuồn trong suy tư. Khi đoàn xe rời xa lộ Biên Hòa rẽ vào xa lộ Đại Hàn, tôi mới nhỏm người dậy, đổi thế ngồi để nhìn ra ngoài vì đoạn đường nầy rất gần gủi với tôi. Khi xe chạy ngang qua căn cứ Sống Thần, tôi cố nhìn lại một lần sào huyệt một thời liệt oanh của gia đình Mũ xanh. Trong buổi nắng quái chiều hôm cổng của căn cứ vẫn giữ trọn vẹn vẻ uy nghi với ngọn sống thần đang tung lên cao trong một khung cảnh vắng vẻ, đìu hiu gợi lên trong tôi một nỗi buồn sắc se, sâu đậm. Rồi xe đến gần xã Hiệp Bình, tôi lại xoay người trở về bên phải để kịp nhìn lại, dù chỉ trong đôi ba giây, căn nhà của cha mẹ, anh em tôi và ngôi chợ cách ngả tư xa lộ chỉ độ mươi thước. Cả khu phố chợ đều đã lên đèn. Đoàn xe tiếp tục qua cầu Đại Hàn thẳng về hướng Hốc Môn, không còn bao xa. Trong anh em lại có người e rằng VC có thể đưa tù về vùng 4. Nhưng chẳng bao lâu sau đoàn xe đến Hốc Môn, giảm tốc độ rồi quẹo vào thành ông Năm, căn cứ cũ của Liên đoàn 30 Công binh, nơi đây có một trại cải tạo. Từ gần một năm qua đã có một số sĩ quan cấp tá được giam hảm trong đó.
Đoàn xe dừng lại, tắt máy. Anh em lụt tụt leo xuống, gôm góp hành lý, tập hợp theo từng toán 20 người như trước lúc lên xe. Cán bộ của trại bận rộn tới lui kiểm tra số tù mới tới. Tôi lại được chỉ định làm tổ trưởng toán của tôi. Lúc bấy giờ trời đã tối hẳn, VC hành động như ma, chỉ làm việc về đêm…Đang lúc còn lu bu tập hợp tổ của tôi cho ngay hàng thẳng nếp theo ý muốn của cán bộ thì nghe có tiếng ai đó hỏi tôi như ra lịnh :
- Nguyễn văn Dõng là ai ? Ai tên Nguyễn văn Dõng yêu cầu buớc ra khỏi hàng.
Tôi nghe mà bắt nổi da gà ! Khi tên thủ trưởng trại Hốc Môn đến trước mặt tôi, anh ta rọi đèn pin vào người tôi từ đầu đến chân, từ chân lên đầu. Xong rồi anh ta chỉ nói :
- À, anh là Nguyễn văn Dõng đấy à ? Anh là bác sĩ Dõng đấy à ? Trước kia anh thuộc mũ xanh TQLC đấy à ?
Câu sau nghe khá lạnh lùng và cũng làm tôi khá ngạc nhiên : lần đầu tiên tôi nghe một tên VC dùng chữ mũ xanh. Tôi đáp cọc lóc :
- Vâng, tôi đây !
Không nói gì thêm hắn ta tắt đèn và bỏ đi trong khi tôi chưa kịp nhìn rõ mặt mủi của hắn. Thái độ quái dị nầy của hắn bổng nhắc tôi mạnh mẻ đến lời khuyên nhủ lúc nảy của FM đầu bạc, của bạn bè và của cả gia đình trong lần thăm nuôi vừa qua : ai ai cũng đều khuyên tôi bớt nóng và thận trọng. Tôi « hạ quyết tâm chấp hành nghiêm túc » những lời khuyên đó.
Khi nghe giọng tôi có vẻ nghiêm trang, trách cứ, Hải Mù nói mau :
- Excuse me. Nhưng tao cần hỏi ý mầy. Tên y sĩ đại tá LKC ở T của tụi tao làm “antenne” ghê quá, anh em đếch chịu được nên đòi “thịt” hắn. Tao phải hết lời can ngăn. Một số anh em đã từng ở T1 với bọn mình trên Long Giao đã đồng ý chờ tao hỏi ý kiến của mầy. Họ sẵn sàng nghe theo mầy vì họ rất tin ở mầy…
Không phải suy nghĩ gì cả, tôi đáp thật nhanh:
- Mầy nói lại với anh em bên đó chớ có nóng nải, chẳng ích lợi gì cả, chỉ thêm hại thì có. Anh em phải hiểu rằng khi vào lữa thì thực chất vàng thao sẽ lòi ra hết. Đó là điều rất tự nhiên. Nên bình tỉnh, rộng lượng, hiểu đời và tìm lời hướng dẫn tên đàn anh cà chớn đó trở lại đường ngay lúc nầy thì hay hơn.
  Tôi cũng nói thêm với Hải Mù rằng gia đình của bác sĩ L.K.C. là bạn với gia đình bà xả tôi, nhà ở cùng xóm Hàng Thị, Bà Chiểu, để mong anh em bên đó vị tình mà bỏ qua mọi việc. Và anh em đã chiều theo ý tôi.

Từ ngày rời Long Giao về thành Ông Năm ở Hốc Môn, tôi chưa hề có dịp đi công tác ra ngoài vòng kẻm gai của T5, « tiểu đoàn » mới của tôi. Diện tích của T5 cũng khá rộng, nhưng phần đất có thề cày cuốc trồng tỉa được chẳng có là bao nhiên vì phần lớn được công binh VNCH trước kia trải đá hoặc tráng xi măng dùng làm nơi sửa chữa quân xa các loại. Vì là căn cứ công binh nên phần lớn các doanh trại đều được xây cất bằng gạch, nền tráng xi măng tương đối sạch sẽ hơn nền đất vách ván của Long Giao. Tuy vậy cũng có điều bất tiện : tường gạch kín nên những buổi trưa hè tất cả hơi nóng của mái tôn làm nhiệt độ trong phòng tăng cao ngột ngạt. Nhờ không có lao động bao nhiêu nên thời gian rảnh rổi Ngụy cải tạo dồn hết tâm lực vào việc chà đồ nhôm : làm lược, làm vòng đeo tay, làm bình đựng tăm xỉa răng, hoặc gò nồi niêu xon chảo, lon hộp. Ai không thích đồ nhôm thì làm dép râu, như nhà vô địch bóng bàn Lê văn Tiết chẳng hạng. Chỉ trong vòng tuần lễ, mười bửa tất cả các bánh xe còn nguyên của mấy chiếc rờ-mọt còn sót lại trong sân của T5 đều được cắt vụng ra, vỏ xe thành dép, ruột xe thành râu dép. Đến khi cán bộ hay được thì chẳng còn vỏ xe nào nguyên vẹn nữa. Chỉ có đôi bàn tay trắng mà Ngụy đã tìm sắt thép, ra công mài giũa ngày nầy qua ngày kia cho đến khi có được những con dao sắt bén rắn chắc, cắt vỏ xe như cắt tàu cau ! Tiết đã làm tặng tôi một đôi dép râu rất hữu dụng lúc tôi phải ngày ngày băng rừng ở trại Bổ Túc về sau nầy. Cũng như Lương Huỳnh Tân, Trương Minh Cuờng, Nguyễn Trùng Khánh, Lê văn Tiết là bạn học cũ ở trung học Taberd. Tôi với Tiết mất dấu nhau từ 1958 cho đến 1975 mới gặp lại nhau trong trại tù Long Giao.

Về trại Hốc Môn nầy cuộc đời tù tội mới thấm thía hơn. Ngày ngày đám hậu cần (còn gọi là đám anh nuôi) đi chợ về cung cấp cho tù cải tạo một đống rau muống lá xanh tranh với lá vàng, một đống đu đủ chẳng vàng mà lại xanh, thỉnh thoảng thêm cho một đống cải củ không có củ chỉ có lá ! Tù cải tạo coi như ăn chay trường. Phẩn của tôi từ vàng đã dần dà trở nên xanh như cức trâu ! Cứ mỗi lần xúm lại lặt rau với anh em là mỗi lần tôi nhớ đến Bùi văn Lại ở Long Giao với câu hò của anh :

             Trên trời có đám mây xanh
Chính giữa rau muống xung quanh đám tù.

 Ban đầu vì thấy rau muống có quá nhiều lá vàng, lá úa và cọng rau khá dài mà phần non chỉ có độ hai phần ba nên anh em định lặt lựa. Nhưng rất nhanh anh em nhận thấy là không đủ sức làm công việc đó cho kịp giờ cơm nên chỉ có lấy dao cắt bỏ phần rau già, rửa sơ sơ rồi thả hết vào chảo nước. Khi ăn mỗi người sẽ lựa lấy lá vàng, lá úa mà bỏ đi. Gạo thì cũ không biết mấy đời vương lại pha trộn với rất nhiều cát sỏi. Thường thì mùi cơm chín bốc lên làm chảy nước miếng nhứt là khi đang bị bỏ đói ; đàng nầy mùi cơm của trại Hốc Môn chi làm buồn nôn, dạ dày như se thắt lại và cơn đói như hoảng sợ trốn đi đâu mất ! Nhưng rồi phải ăn để sống nên mọi người cũng mang lon, mang tô đi lảnh phần cơm hẫm với ít rau luộc và nửa tô canh « trứng rồng » (đu đủ nấu với nước múi !). Những bửa cơm như vậy chỉ có ngậm mà nghe chứ làm sao nuốt cho vô, vậy mà rồi cũng phải vô, và vô hết bửa nầy sang ngày khác ! Thỉnh thoảng cũng có được một ít cá biển đông lạnh, nhưng khi về đến T5 phần lớn đều đã bủn, chỉ cần chậm trể thêm chút nữa là sình thối. Để tránh cho cá khỏi bị vứt vào thùng rác, toán làm bếp phải nhanh tay đánh vảy, chặt đầu, rút ruột và bỏ ngay vào chảo nước múi đang sôi trên bếp để anh em có được chút cá kho mặn ăn đổi món. Có một hôm tổ của tôi làm bếp, tôi phụ với anh em làm cá, đánh vảy, mổ bụng, chặc đầu và bỏ vào chảo nước cho toán khác rửa sạch. Toán thứ ba lo cho cá vừa được rửa vào ngay chảo nước đang sôi để tránh cá bị sình thối, nhưng vì cho vào một lút quá nhiều cá nên nước trong chảo ngụi lại mà chẳng ai để ý. Đến khi nước trong chảo sôi trở lại cũng phải mất đến vài ba phút, thời gian đó đủ để cho cá làm tanh chảo nước và hôm đó không có ai nuốt nổi nồi cá kho ! Nhưng toán làm bếp của tôi phải nuốt trọn những lời xài xể của cả đội !
Những lúc có thăm nuôi anh em cải thiện bửa ăn được vài tuần rồi cũng phải trở về với đời sống đạm bạc. Một hôm Tiết ngồi xem tôi chạm cái lược mà trên cán tôi vẽ cảnh nhà cha mẹ tôi ở xã Hiệp Bình với hàng dừa và mấy khung ruộng. Vì tìm chổ mát nên tôi đã mang ghế và bàn chạm đến căn nhà trống cạnh rảnh nước sâu không quá 60 phân. Mùa đó không còn bao nhiêu nước ngoài số nước tắm giặt từ miệng giếng ở góc trại gần đó chảy vào, mà chỉ có một lớp sình đen sền sệt với chút mùi hôi hôi. Nhưng mùi hôi của đưòng cống nầy hoàn toàn hòa nhập với mùi thum thủm của bao nhiêu hầm phẩn mà tù cải tạo đã đào quanh vòng rào của T5 để “bỏ của” từ hơn một năm qua. Nay dù được chôn lấp khi đã đầy, nhưng vì quá cạn nên các hầm đó vẫn còn để thoát ra mùi phẩn có lúc thum thủm, có lúc gay gắt hơn. Sống giửa T5 tôi có cảm tưởng mình đang ở trong một nhà tiêu ! Trừ những lúc có cơn gió lùa và những khi thở ra, không có lúc nào lỗ mũi được miển cho cái mùi quái ác đó : khi ăn cơm cũng nghe mùi thum thủm, khi ngủ cũng còn nghe ! Tuy nhiên, khi đã quá quen với cái « mùi đời » đó rồi, đôi lúc tôi cũng tạm quên nó đi, nhờ thế nên đời cũng đở thối !
Đang ngồi yên xem tôi chạm trổ, Tiết bổng vổ đùi và cười lên một tiếng làm tôi giựt mình ngưng tay chạm. Tôi ngẩng lên nhìn Tiết hỏi :
- Toi mắc cái gì thế ?
Tiết chẳng nhìn tôi mà cúi nhìn xuống đường cống cười nói :
- Xong rồi Sáu Dõng ! Chiều nay mình sẽ có thịt ngon, chỉ thiếu có « la de » thôi.
Tôi chưa hiểu ý của Tiết nhưng cũng cứ nhìn theo hắn thì thấy dưới đường mương có một con chuột cống khá to, ít ra cũng bằng cổ chân của tôi, đuôi dài, mình ướt đẫm, đen xì vì lội trong lớp bùn dơ. Dù vậy tôi vẫn nhìn ra đôi ba chổ da đỏ hỏm, lở lói trên lưng con Tý.
- Ê, nó thấy ghê thế kia mà toi cũng không tha nữa hay sao ?
Tiết cười khoái trá :
- Ậy, để rồi Sáu Dõng xem. Bề ngoài dạ xoa chớ bên trong trắng trèo ngon lành lắm. Sáu Dõng cứ lo chạm đi, chiều nay sẽ biết kết quả.
Và Tiết đi tìm một cây đòn dài đập chết con chuột cống lở lói, vớt ra khỏi mương, đem ra bờ rào đốt một đống un và thảy nguyên con Tý vào. Chờ cho lông cháy sạch và lớp da thật vàng, Tiết mới lôi con Tý ra lột bỏ da, chặt đầu, mỗ bụng moi hết ruột gan, còn lại là mấy trăm gà-ram thịt trắng tươi thơm phức ! Với chút ít xì dầu, nước mắm còn lại của lần thăm nuôi trước, Tiết đã biến con chuột cống dơ dáy, ghê tởm thành « cao lương mỹ vị » thật sự ! Nhờ vậy mà bửa ăn chiều hôm đó chén cơm bớt mùi mốc, nước miếng lại tuôn trào và không khí cũng bớt thối. Và cứ như thế, từ từ gia đình nhà Tý bị nhà vô địch Tiết xơi tái ráo trọi ! Ở đây còn có gia đình nhà Tý để mà cải thiện chứ thuở ở Long Giao chỉ có rau dền và đọt lan. Nhưng ăn đọt lan luôn năm ba ngày là thế nào cũng bị Tào Tháo rượt, vả lại lan với dền lên không kịp đà tiêu thụ nên Ngụy phải tìm phương thức khác. Hà thủ ô chỉ có thay thế trà chứ không làm rau được. Đã có người hái rau tàu bay để cải thiện nhờ được đi công tác bên ngoài. Cũng có người tìm rau sam ăn thử. Nhớ thuở ấu thơ tôi hay chơi đá dế, tôi nuôi dưởng mấy con dế than, dế lửa với rau sam để chúng đá cho hăng. Nay thì ngược lại vì không còn « đá » được nữa, nên anh em mới phải tự nuôi với rau sam ! Hết rau tàu bay, hết cả rau sam anh em lại thu hoạch một thứ rau gì tôi cũng chẳng biết, nhưng chỉ cần dễ nuốt, không gây biến chứng và cũng dễ ra, không làm « nghẹt bô » là đạt yêu cầu. Cho đến một hôm có vài trường hợp kiết lỵ xảy ra, quản giáo Trung, trong buổi giao ban mỗi chiều, đã hỏi tôi có phải vì anh em đã cải thiện bằng loại rau gì đó mà sinh ra kiết lỵ không ? Rồi anh móc túi đưa cho tôi xem năm ba lá rau mà anh nói là đã thấy một vài anh em cải tạo hái ở rừng cao su đem về cải thiện. Tôi xem tới, xem lui mà chẳng làm sao biết được là loại gì ; vốn liếng học hỏi của những ngày khổ công theo thầy Phùng Trung Ngân, Phạm Hoàng Hộ leo bờ lội bụi để tìm hiểu cây cỏ miền Nam nay đã trả thầy từ lâu rồi. Nghe Trung thúc hối :
- Anh có biết rau nầy không ?
Máu tiếu lâm vụt nổi lên tôi đáp ngay :
- Đây là rau « tằn u » !
Trung cao mày :
- Có giống rau tần ô không ?
Tôi bật cười :
- Tên nghe na ná, nhưng hai thứ khác nhau xa lắm. Rau tần ô thơm ngon, rau « tằn u » lạt lẻo, chỉ khi nào kẹt lắm mới phải ăn tới nó.
- Anh có nghĩ là vì rau tằn u nầy mà sinh ra kiết lỵ không ?
- Không. Không phải thế đâu. Bịnh kiết lỵ có nguyên nhân riêng của nó.
Đêm hôm đó tôi âm thầm cười một mình đã đời luôn. Tôi đã dám đùa như thế chỉ vì Trung là một cán ngố miền Bắc, chứ nếu gặp một tên VC miền Nam thì dù tôi có uốn lưởi năm lần bảy lượt cũng chưa chắc đã dám. Cũng vì cái gốc Bắc kỳ của anh mà Trung đã bị tôi « đẩy cây » một lần rồi. Khi mới nhập trại được vài tuần, tất cả Ngụy cải tạo đều phải viết bản tự khai. Viết đến năm keo bảy kỳ mà có người vẫn chưa được yên thân. Ví như anh Khánh lán trưởng chỉ định của tôi, chỉ vì khai là sĩ quan thẩm tra tài chánh mà bị chúng nó mời lên mời xuống làm việc mấy ngày liền : VC chỉ lưu ý đến mấy chữ sĩ quan thẩm tra mà thôi, còn tài chánh thì dẹp ! Và trong ý tưởng đó chúng nó đã quần anh Khánh nhừ tử về nhiệm vụ thẩm vấn và tra khảo mà chúng nó cho là anh muốn giấu ! Để được yên thân, trong bản tự khai ít có ai đường đường chính chính khai mình là Công giáo, Phật giáo, Tin Lành hay nguy hiểm hơn, Cao Đài, Hòa Hảo…Đa số chỉ để là theo đạo thờ cúng ông bà ! Sau thời gian nghiên cứu, một buổi chiều, trước khi kết thúc buổi giao ban hàng ngày, Trung bổng hỏi tôi :
- Trong miền Nam các anh, thờ cúng ông bà cũng là một tôn giáo nữa hay sao ? Tôi thấy đa số các anh đều khai là theo đạo thờ cúng ông bà.
 Máu tiếu lâm có sẵn trong người tôi đáp không chút do dự :
- Trong Nam, chúng tôi gọi những người đó là « Ma Giáo » ! Chắc là anh chưa bao giờ nghe nói đến tôn giáo nầy. Thời gian gần đây tôn giáo đó phát triển khá lắm. Từ từ rồi anh cũng sẽ biết !
Sau nầy nếu Trung hiểu ra, không biết hắn sẽ nghĩ gì về tôi.
Chế độ ăn uống kham khổ như vậy suốt cả 6 tháng đầu tiên, trong lúc anh em vẫn có tiền trong túi, dư sức cải thiện bửa ăn. Nhưng chủ trương của VC không cho Ngụy được phép mua ăn, chỉ được cải thiện với đồ tiếp tế của gia đình trong những lần thăm nuôi mà cho đến cuối năm 1975 trại mới cho phép lần đầu tiên vì ngày Tết không còn bao xa. Cũng vì hoàn cảnh khó khăn đó nên mới có vụ rau « tằn u ». Nhưng đó cũng chỉ là một cảnh đáng thương mà thôi vì no quen, đói không quen. Tệ hại nhứt và cũng là điều làm tôi khổ tâm, bực bội nhứt là có một số bạn tù đã cải thiện  bửa ăn của họ trong chén cơm của anh em đồng thuyền đồng hội, lại toàn là cấp sĩ quan với nhau cả. Lúc thái bình thì huynh đệ chi binh, môi hở răng lạnh nghe rất xôm ; khi vào tù chỉ mới bị bỏ đói tí ti mà răng đã xơi tái môi không chút xót xa, chỉ biết no bụng mình. Nếu khi phải nói đến chuyện sống còn thì sẽ tệ hại tới mức độ nào đây ? Chỉ có cái thân cái xác của mình mà không làm chủ được nó, thì còn làm được gì cho ra hồn trong suốt cuộc đời ? Tôi nghĩ có lẻ vì đã lớn lên trong môi trường xã hội đầy đủ, nhưng tham lam đua đòi, chỉ cần danh vọng không màn Danh Dự, nên họ cũng chẳng cần đến liêm sĩ hay thể diện…Họ chỉ biết có ăn no ngủ kỹ, đúng nghĩa giá áo túi cơm. Những người nầy trông đợi tới phiên tổ của  họ làm nhiệm vụ anh nuôi để cải thiện ! Thường thì lớp cơm cháy dính ở đít chảo được mọi người đồng ý tặng cho toán làm bếp. Nhưng bần cùng sinh đạo tặc, đa số các toán làm bếp luôn luôn « đính kèm » theo lớp cơm cháy một số cơm tẻ rất có chất lượng ! Những khi có thịt, có gà, có tép thì càng loạn hơn vì các thứ đó đều là loại hiếm thấy, béo bổ lại ngon miệng. Quản giáo đã lên lớp sỉ vả hai sĩ quan cải tạo về chuyện ăn vụn mấy con tép có người trông thấy và đi báo cáo, và một tù cải tạo khác vì đã giấu một cái đùi gà trong « ống cống » để tẩm bổ riêng ! Biết rằng thân phận con người là đáng thương, thân phận con người bị tù đày, khổ nhục càng đáng thương hơn, nhưng cái tư cách thấp kém của « người có ăn, có học, có đổ đạt hết cả » làm tôi phẩn uất, điên tiết dù những người đó chỉ là thiểu số. May thay ! Nhưng chỉ cần một con sâu đủ làm rầu nồi canh ! Cũng vì vậy mà khi anh em trong lán 1 ở Long Giao âm thầm bảo nhau bầu tôi làm lán trưởng thay cho đại úy Khánh, vì thấy Khánh quá thiệt thà (hay nhút nhát ?) có gì cũng thành khẩn khai báo với quản giáo hết cả, tôi đã buộc anh em phải thề hứa mới chịu nhận lời. Không riêng gì tôi mà cả anh quản giáo Trung lần đó cũng bị đặt trước một sự việc hết sức bất ngờ : phế bỏ người của trại chỉ định và bầu một người khác thay vào ! Tôi nghĩ là Trung sẽ không khi nào chấp thuận và vẫn giữ anh Khánh làm lán trưởng, nhưng Trung lại chấp thuận ! Tôi không hiểu được ý của Trung và cũng không biết được lý do nào đã thúc đẩy anh em chọn tôi vì trong lán có đến hơn chín phần mười xa lạ với tôi. Trước sự chờ đợi của Trung và sự thôi thúc của anh em, tôi đành phải chịu thua. Tay trái chống lên vai của Tân, tay phải vin vào vai của Hùng, một sĩ quan trợ y nằm bên cạnh, tôi từ từ đứng lên, gảy đầu tìm ý, cảm ơn anh em đã tin tưởng mà giao cho « chức vụ » hết sức éo le nầy, và tôi thẳng thắng đặt điều kiện : tôi buộc tất cả anh em trong lán phải hứa trước sự chứng giám của Trung, rằng tất cả không trừ một ai phải tuyệt đối giữ điều tâm niệm nầy :
Hạt múi không hao, hạt gạo không mất.

Tất cả 72 anh em bạn tù trong lán đều đưa tay lên xin hứa. Tôi đã nhìn thật kỹ xem có ai không chịu giơ tay hay không, và liếc thấy Trung nhìn tôi không chớp mắt vừa như ngạc nhiên, vừa như thán phục, vừa như quan sát chờ đợi xem tôi hành động ra sao. Tôi ngước mắt nhìn thẳng vào Trung xin được có đôi lời với anh em. Trung gật đầu đồng ý để tôi nói. Trong lán vụt lặng yên, anh em đều có vẻ hồi hợp chờ xem tôi nói gì. Tôi nhìn qua tổ đối diện tìm sự đồng lỏa và hậu thuẩn của mũ xanh Hồ Thiện Hiền ; tôi nheo mắt mỉm cười với hắn. Hiền hiểu ý cũng khẻ cười nụ và nhìn tôi nhè nhẹ lắc đầu như để nói với tôi rằng : « Anh thật chẳng ai can nổi ! » Và đó chính là điều mà Hiền đã nói với tôi sau buổi sinh hoạt tối hôm ấy. Tôi không dài dòng vì dư biết rằng nhiều lời trong vấn đề nầy rất dễ chết, vì khi đã hăng tiết vịt thì thế nào cũng dễ « phạm thượng » ! Tôi chỉ nhắc nhở anh em rằng :
- Trong ba điều mà chúng ta đã từng đội trên đầu, nay chúng ta đã đánh mất hết một. Một số anh em chỉ còn có một, và gần đây tôi nhận thấy trong chúng ta đã có kẻ đánh mất luôn điều cuối cùng. Khi đã mất cả 3 điều đó chúng ta sẽ chẳng còn ra cái gì nữa cả. Thật là đáng buồn, đánh giận, đáng tủi hổ !
Những lời sau cùng tôi nói rất chẫm rãi, giọng buồn bã, chán nản.
               Tôi ngưng lại giây lát cố ý để cho mọi người, kể cả anh quản giáo, có thời gian suy nghĩ, đoán hiểu ý tôi muốn nói gì. Tôi biết chắc là mọi người đã dư hiểu, chỉ có quản giáo Trung thì không làm sao hiểu được : có bao giờ anh nhìn thấy tận mắt cái mũ của sĩ quan VNCH đâu. Tôi rảo mắt nhìn quanh lán và kết thúc :
- Tôi mong rằng khi đề cử tôi làm đại diện cho lán, anh em sẽ cùng tôi cố gắng giúp nhau gìn giữ cho đến cùng 2 điều còn lại.
  Tôi lại liếc nhìn Trung thấy anh ta vẫn còn trọn vẹn vẻ ngơ ngác ! Tôi không nghĩ là Trung hiểu rằng tôi đang đánh đòn phủ đầu các anh em bạn tù và cả anh ta nữa.
Những lần thăm nuôi sau nầy, tù cải tạo được phép nhận tất cả những gì gia đình mang vào cho, chứ không còn giới hạn 3 kí, 5 kí như đôi ba lần đầu. Nhờ vậy nên việc cải thiện  trong chén cơm đồng bạn cũng tạm chấm dứt. Mặt khác, cán bộ cũng dễ dãi hơn, cho phép cải tạo đưa tiền cho toán hậu cần đi chợ mua dùm những món cần dùng như đường, đậu và cả gà vịt…Cũng do một sự tình cờ mà tôi được biết là cán bộ hậu cần của T5 nhận mua « quà » dùm cho anh em tù. Thường khi tôi để ý thấy có nhiều cán bộ, có cả « cán bộ gái », ngược xuôi bên kia vòng rào kẻm gai bên trái dãy nhà của đội tôi. Trong số VC gái có 2 cô nổi bật : một cô ốm cao như cây tre miểu, một cô tròn lùn tuy chưa đến độ như ông Địa nhưng cũng khá lắm. Tôi để ý thấy hai cô lúc nào cũng đi chung với nhau. Lúc đầu tôi và Thiện, một thẩm phán quân pháp còn trẻ, nhỏ người, đeo kính cận, rất vui tính, gọi họ là Lý Toét, Xả Xệ. Nhưng khi nhìn Xả Xệ đi như vịt, tôi vụt nhớ Bùi văn Lại lúc ở Long Giao hay nói là « VC cái miền Bắc thuộc loại đít lu tay bơi » rất dễ bị nhận diện khi xâm nhập vào các đô thị miền Nam. Rồi máu tiếu lâm lại nổi lên, tôi đặt cho cô Xả Xệ một tên rất hợp thời đại và gần thực tế : Đít-cô-xốp ! Nghe qua Thiện cười khoái trá và đặt luôn cho cô Lý Toét một tên cũng rất liên xô : Vú-cô-lép !
Một hôm Thiện và tôi đang thơ thẩn bên bờ rào thì thấy hai cô nàng từ phía trại trong đi ra hướng cổng. Vì tránh các ổ gà mà đủ loại xe hạng nặng của công binh đã đào trên con đường đất lồi lõm, hai cô đã phải đi nép vào bờ rào ngay chổ tôi và Thiện đang đứng. Thiện bổng kêu lên :
- Ê ! Vu-cô-lép !
Vừa nghe qua tôi điến hồn, ngỡ rằng Thiện sẽ ngon trớn gọi luôn « đít danh » cô kia. Nhưng Thiện bỏ nhỏ vào tai tôi :
- Tôi gọi Vu-cô-lép chứ không phải Vú-cô-lép đâu mà anh giựt mình !
Rồi Thiện cười nghiên ngả. Tôi những tưởng hai cô không hiểu và bỏ đi, nào ngờ họ dừng lại nhìn hai đứa tôi, vẻ mặt vẫn…hồn nhiên ! Tôi vội cười vả lả, móc nối :
- Chào hai cô ! Hôm nay mát trời hai cô đi phố ?
Đít-cô-xốp có vẻ dạn dĩ hơn đáp lời :
- Chào hai anh. Hôm nay trời có mát đấy nhưng vì bận tí công tác nên chẳng đi phố được.
Thấy hai cô có vẻ chịu hàn huyên, tôi bèn thả câu rê :
- Tiếc quá, phải chi hai cô đi phố chúng tôi nhờ hai cô mua dùm ít món.
Tôi nói để mà nói vậy thôi, chứ có quen biết gì hai cô ấy đâu mà cậy với nhờ. Nhưng vô tình Đít-cô-xốp lại cho chúng tôi một tin vui :
- Các anh có muốn mua gì thì cứ nhờ các đồng chí hậu cần. Ngày nào đi chợ họ mua dùm cho. Trại đâu có cấm chuyện đó.
Vậy là vài ba ngày sau Thiện đã móc nối với toán hậu cần và gởi mua một con ngan ; thực ra là một con vịt xiêm mà Thiện vẫn thích gọi là con ngan, hay là nói vịt xiêm VC không hiểu ? Thiện biết tôi hay tích trử đậu xanh vì tôi ưa ăn chè. Anh chàng lại luôn miệng khen con ngan mà nấu cháo đậu xanh thì ngon hết xẩy. Mà hết xẩy thật : một nồi cháo tổ bố chỉ dợt qua hai vòng là sạch bách ! Nghĩ lại thì một con vịt xiêm giữa một đàn chồn đói có còn lại một ít xương và chút lông là may lắm rồi, có đến một con bò thì cũng chỉ còn chừng đó thôi ! Giữa trưa hè oi ả, « chạp » xong hai tô cháo nóng hổi vừa thổi vừa húp đã thấy mồ hôi tuôn ra như tắm, ướt cả tóc tai, chảy dài sau óc, xuôi xuống sống lưng đến tận lưng quần mặc dù trên người chỉ vỏn vẹn có cái xà lỏn.
Thời tiết nóng bức như thế mà VC cũng không tha, bắt lên lớp học thêm hai bài. Tôi không nhớ rõ đề tài là cái chi, duy chỉ có vài chi tiết rất lý thú là tôi không quên. Bài đầu tiên do một cán bộ người miền Nam đảm trách. Nghe phong thanh thì tên hắn là Long, cấp bực thiếu tá. Người hắn gầy, khá cao, mắt trái bị hư, trồng mắt đục ngầu trắng bạch. Hắn nói năng lưu loát, rất thoải mái trong nhiệm vụ. Vì thế nên hắn đã gây được sự chú ý của Ngụy ngay từ phút đầu. Bên dưới, ngoài đám tù cải tạo ra, còn có hơn chục tên cán bộ các cấp ngồi ở hàng ghế đầu sát ngay bục giảng, có lẻ vừa để học hỏi (hay học ôn ?), vừa để theo dõi, giám sát (và kiềm chế ?) hành vi của đồng chí giảng viên. Trong mấy phút cuối cùng của buổi học sáng hôm đó, giảng viên hình như đang đề cập đến vấn đề xây dựng lại nước nhà sau lần đại thắng lợi. Đang dài dòng với bài học thuộc lòng, bổng nhiên anh ta đưa tay phải chỉ thẳng vào đám tù cải tạo và nói không một chút do dự, e dè, sợ sệt :
- Xây dựng lại đất nước nầy chính là nhiệm vụ của các anh, vì chỉ có các anh mới có khả năng làm công tác đó !
Rồi anh lại đưa tay chỉ sang hàng các cán bộ và cũng với giọng bộc trực không nể nang, chẳng sợ mất lòng Bác và Đảng :
- Còn đám Quốc Trì Cung nầy thì có biết gì đâu mà xây dựng !? Họ có công hy sinh đánh đuổi xâm lăng. Đất nước không quên công lao của họ, nhưng họ phải biết chức năng của họ trong từng giai đoạn. …
Không riêng gì tôi mà tất cả những ai có chút chú ý theo dõi giảng viên, khi nghe lời phát biểu trên từ miệng một cán bộ gốc miền Nam, đều cảm thấy nổi da gà và tự đặt ra nhiểu nghi vấn. Riêng tôi, tự thâm tâm, tôi cảm thấy « hồ hở phấn khởi » vì vừa được thêm một minh chứng cho điều tôi nghĩ, cho con đường tôi đã chọn là hữu lý : từ trước đến nay cán binh CS bị bịt mắt xô vào cuộc chiến tương tàn nhằm bành trướng chủ nghĩa Quốc tế CS. Mục tiêu nầy đã được khéo léo che đậy dưói chiêu bài giải phóng dân tộc. Với sự hậu thuẩn mạnh mẻ của Nga Tàu, đảng CSVN có cả một chính sách trường kỳ tuyên truyền bịp bợm nhằm đánh lừa nhân dân miền Bắc, gạt gẵm dân miền Nam và nhân dân thế giới, nhứt là dân tộc các nước thiên tả, ngay cả trong lòng dân tộc Hoa Kỳ ! Đám cán binh, cán bộ đa số vốn là nông dân quê mùa dốt nát, nay được tôn vinh là những chiến sĩ cách mạng, được Đảng nhồi nhét cho một số ngôn ngữ dao to búa lớn để lòe thiên hạ và tự bịp mình. Với một nhiệm vụ cao cả như thế trên hai vai, với một vinh dự to lớn mà cả đời họ chưa bao giờ dám mơ tưởng đến, họ sẳn sàng hy sinh, hy sinh trong mù quáng ! Nhưng, sau ngày đại thắng lợi, Đảng không còn che kín được mắt của họ nữa, trắng đen dần dần sẽ minh bạch ; và cuộc cách mạng vô sản có thật sự giải phóng dân tộc hay không, tất cả cán binh, cán bộ các cấp tự họ, họ sẽ hiểu ra và nhận rõ chân tướng của bao nhiêu năm bị phỉnh gạt, bị kiềm kẹp và bị xô vào chiến địa chết cho Nga Tàu. Cuộc tỉnh ngộ tập thể vĩ đại sẽ không làm sao tránh khỏi. Đó chính là cái nguy cơ to lớn nhứt, cái tử huyệt của CS Bắc Việt mà tôi không bỏ qua một dịp nào để đánh vào, dù biết rằng điểm huyệt loài lang sói trong hoàn cảnh hiện tại của tôi là một sự liều lỉnh gần như điên rồ, là giởn mặt với tử thần, chỉ có từ chết đến bị thương ! Nhưng tôi đã không chút ngần ngại hành động vì tôi tin tưởng vào « chiến thuật » của tôi và nhứt là vào sự tỉnh ngộ đã bắt đầu trong lòng các cán bộ CS. Cách cư xử vừa qua của quản giáo Trung và của thủ trưởng « FM đầu bạc » đối với tôi ở Long Giao đã làm cho tôi thêm phấn khởi, thêm tin tưởng và giúp tôi mạnh dạn trên con đường chống phá chúng nó ngay trong trại tập trung : những đòn « âm chưởng » của tôi chỉ có hiệu quả khi địch thủ ở ngay trước mặt, trong tầm tay vói, và sẽ vô hiệu khi địch thủ ở xa.
Sau khi cơm nước và nghỉ trưa, tù cải tạo lại lục tục kéo nhau lên hội trường để nghe giảng tiếp đề tài buổi sáng. Ngụy cải tạo đã kinh ngạc, xôn xao bàn tán khi thấy giảng viên buổi trưa là một cán bộ miền Bắc. Long mắt chột đã biến đi đâu mất, không phải chỉ buổi trưa hôm đó mà kể từ trưa hôm đó. Và tuyệt nhiên không nghe thấy ai cho biết lý do. Từng ấy việc đủ xác nhận cái bản chất sợ sự thật, láo khoét, lưu manh lừa bịp của CS. Họ chẳng khi nào dám nhìn thẳng vào cái ngu dốt, cái kém cỏi của họ, và đã phải tự đề cao một cách hết sức lố lăng, mất dạy họ là đỉnh cao của trí tuệ chỉ cốt để che dấu cái mặc cảm vô tướng bất tài của họ, và cũng để loè đám đảng viên, cán bộ dốt nát, khờ khạo, hay ngây ngô, hèn nhát. Đám Nam kỳ, tập kết hay ở lại nằm vùng, hoặc thiên tả thời thượng, mị dân ngu xuẩn, tuy không đến đổi dốt nát nhưng vì cái bản chất lý tưởng mộng mơ, nhân đạo thơ ngây nên rồi cũng để bị lừa, bị gạt như bất cứ một tên ngu si đần độn nào !
Tuần lễ mười bửa tiếp theo bài học là thời gian thảo luận. Gọi là thảo luận nghe cho oai, chứ thật ra là tù cải tạo trong mỗi tổ phải lần lượt từng người một lập đi lập lại từng đoạn, từng chương của bài học, sáng 4 tiếng chiều 3 giờ, cho đến khi nào thật thuộc bài, cất tài liệu đi mà vẫn phát biểu như Vẹm ! Trời nóng bức mà phải ăn mặc tề chỉnh, ngổi bẹp trên nền nhà thành một vòng tròn ngay giửa phòng, dưới mái tôn, quả là một hình phạt. Nhưng ai muốn chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh của VC thì cứ chấp hành để mong được đánh giá tiến bộ với tí hy vọng sớm được về đoàn tụ với gia đình. Cũng chính đáng thôi ! Nhưng tôi thì không, khẳng định  là không bao giờ, vì nếu tôi mà bỏ công sức ra để học bài của lủ ngu si thì còn gì là tôi nữa : cái tự hào, cái sĩ khí trong tôi không cho phép tôi làm như vậy. Vả lại bài của chúng nó chỉ cần nghe qua là biết ngay chúng nó muốn gì rồi, đâu cần phải bỏ sức ra học thuộc lòng để rồi cuối cùng lọt vào bẩy của chúng : bị nhồi sọ. Chỉ kẹt một chút cho anh em trong tổ : tôi là tổ trưởng của họ mà lại không chịu cho anh em học tập thảo luận gì cả ; hành động đó của tôi di hại đến việc cứu xét cho về trong thời gian tới đây, một số anh em nghĩ như thế. Đã có vài ba người lầu bầu, than phiền, nhưng chẳng có ai nói năng gì với tôi cả, ngoài Trần Minh Trung kín đáo trình bày nội tình trong tổ cho tôi biết để lo liệu. Tôi cũng hiểu : nếu nói thẳng với tôi có khác nào họ tự cáo mình là thành phần ngoan ngoản, hay ít ra cũng muốn được VC xem là học trò ngoan. Nhưng kẹt một điều là sĩ quan QLVNCH mà ngoan thế coi sao tiện ? Nhứt là khi anh em ít nhiều gì cũng đã biết tôi phần nào ; mà nếu không nói gì với tôi cả thì lại e có ngày bị chết chùm ! Cái thuở ban đầu ấy, đa số đều nghĩ hay tin rằng sẽ học tập vài ba tháng thôi. Nhưng rồi sau ba bốn tháng mà vẫn không thấy động tĩnh gì cả, dư luận trong tù đã có vẻ xôn xao, và tôi đã phải lên tiếng nêu thắc mắc với ban chỉ huy trại Long Giao để rồi từ đó thu hút sấm sét về mình. Cho đến hơn một năm sau VC mới ra thông cáo : « móc » thời gian học tập là 3 năm ! Tuy biết rằng mình lại bị bọn mất dạy phỉnh gạt thêm một lần nữa, thế nhưng có chịu hay không chịu gì cũng phải chấp nhận cái « móc » thời gian đó và tiếp tục « an tâm tư tưởng » nuôi dưởng hy vọng dù biết là rất mong manh ! Chính sự suy nghĩ hời hợt đó đã dẫn dắt một số anh em cải tạo vào con đuờng nín thở qua sông, ở đâu ở đó lấp ló cọp ăn : tạm thời cứ ngoan ngoản làm theo ý của bọn ngu si, cốt sao được yên thân và yên tâm để sớm về với gia đình rồi sẽ tính sau. Nhưng những người đó đã quên một điều căn bản : nín thở qua sông chỉ có thể áp dụng vào những con lạch nhỏ, chứ không thể nào qua được sông Cửu Long ! Tôi hoàn toàn thông cảm với họ, nhưng cũng hoàn toàn không thể chấp nhận cung cách hành xử của họ. Vì vậy nên tôi đã chọn con đường từ chết đến bị thương với chút hy vọng rồi sẽ có một số nào đó cuối cùng cũng hiểu ra, kể cả đám cán ngố. Thế rồi tôi cứ an tâm tư tưởng  mặc xà lỏn cởi trần, nằm dài trên cái hòm của công binh mà tôi dùng làm giưòng ngủ. Tôi nhờ Tân Cò và vài anh em cũng thuộc loại chịu chơi canh chừng, xem có cán bộ hay quản giáo lò mò xuống thì báo động để tôi kịp thời mặc áo quần vào cho đúng qui định và ngồi vào thảo luận với anh em. Có ngưới cằn nhằn rằng tôi làm như thế lở khi cán bộ đến và ngồi lại theo dõi cuộc thảo luận thì anh em biết đâu mà rờ ! Tôi trấn an anh em rằng tôi sẽ phát biểu thay cho mọi người, anh em không có gì phải lo. Đã biết tôi khá rõ vì đã từng ở chung nhau suốt một năm qua nên khi nghe tôi nói thế một số trong tổ càng lo thêm! Và họ hoàn toàn có lý khi, vào một buổi trưa, anh quản giáo đội của tôi từ trên ban chỉ huy trại xâm xâm đi thẳng xuống lán tôi. Như thường lệ, sau khi Tân Cò báo động, tôi ngồi dậy mặc áo quần vào và ngồi ngay ngắng vào cái vòng lẩn quẩn thảo luận. Nhưng tôi vẫn im lặng, chỉ khi nào tên quản giáo đến gần bên lán tôi mới mở máy nói. Trưa hôm đó anh em trong đội đang thảo luận về đề mục « Sự đàn áp và sức mạnh phản ứng của nhân dân». Khi liếc thấy tên quản giáo, một cựu thượng sĩ Sư Đoàn 5 đã vô bưng trong dịp Tết Mậu Thân, vừa bưóc vào « địa phận » của lán, tôi bắt đầu mở máy. Cả tổ đều im lặng chăm chú nghe. Anh em đã chăm chú thật sự chứ không phải giả vờ qua ải vì tất cả đều nghĩ rằng thế nào tôi cũng sẽ giở trò, chưa biết là trò gì nhưng chắc chắn là sẽ có. Mở lời, tôi nhắc lại những gì ông Thông già vừa phát biểu (nghe nêu tên, Ông già giựt cả mình), tôi làm như ông Thông vừa thật sự phát biểu vậy và khen ngợi ông đã quán triệt đề tài (khi nghe tôi nói thế ông già thở ra mỉm cười, nhè nhẹ lắc đầu nhìn tôi ý như muốn bảo tôi lần sau đừng chơi cái trò đau tim đó nữa !). Tuy nhiên tôi cũng đề nghị được thêm một vài ý kiền cho được đầy đủ. Rồi tôi từ từ đi thẳng vào vấn đề trước sự thích thú của một số anh em và sự lo âu, khó chịu của vài ba người khác :
- Cách Mạng đã dạy chúng ta rất đúng, rất rõ ràng về sức ép và sức bật của cái lò xo, cũng như về sự đàn áp và sức phản kháng của nhân dân bị kiềm kẹp. Tuy nhiên, theo ý tôi, bài học chưa được hoàn chỉnh, cần phải thêm một chi tiết : con người không như cái lò xo. Con người không chỉ là một vật chất suông, muốn uốn nắn thế nào cũng được, biết rằng việc uốn nắn nầy là một việc làm được mà có khi còn rất dễ làm. Con người còn có bộ óc giúp con người suy nghĩ để phân biệt cái xấu, cái tốt, cái phải, cái trái, cái hay, cái dở…Con người không phải chỉ có sức mạnh của thể chất, của vũ khí. Con người còn có sức mạnh của tinh thần. Đày ải thân xác của con người không khó khăn lắm, nhưng đàn áp tinh thần của con người không đơn giản như ép một cái lò xo. Một ví dụ cụ thể dễ hiểu : chúng ta hiện đang ngồi đây với nhau, giữa vòng kẻm gai, quanh quẩn như ngựa trong chuồng. Thân tôi bị cầm giữ, nhưng có ai dám bảo là đã kiềm giữ được tinh thần của tôi chăng ? Ngồi đây nhưng tinh thần của tôi, tâm trí của tôi bay bổng tận trời xanh, nhìn thấy cả một vùng rộng lớn, một tương lai xa gần…
Tôi chưa dứt lời hết ý, tên quản giáo đã đứng lên bỏ đi không nói một tiếng nào cũng chẳng buồn nhìn tôi. Tôi tự hỏi không biết hắn nghĩ gì, có hiểu gì không. Tôi cố ý nói cho hắn nghe mà hắn không thèm nghe nữa thì thôi ; tôi lại cởi trần leo lên giường nằm dài ! Khi tôi vừa nói hai tiếng chúng ta, cả tổ có hơi giựt mình và có ý không bằng lòng nghĩ rằng tôi quơ đủa cả nắm, e rằng có thể bị lụy chung với tôi. Ngửi thấy thế nên liền sau đó tôi đã điều chỉnh lại ngay và chỉ nói đến cái tôi mà thôi. Tân Cò và mấy anh em chịu chơi khoái chí cười khúc khích, mấy ông bạn nhát gan chỉ biết cười nụ, lắc đầu chẳng biết nói sao ! Tổ ở cùng lán nhưng bên kia tấm vách lửng chia đôi căn phòng cũng đã lặng im theo dõi sinh hoạt của tổ bên nầy, vụt ồn ào bàn tán. Tôi nghe rõ tiếng cười của Ba Phác. Tân Cò đến ngồi cạnh tôi cười vui vẻ :
- Đ.M. bộ mầy có cà tha hay sao mà dám uống thuốc liều như vậy ?
- Tao chả có cà tha cà thiết gì hết, cà chớn thì có lẻ có. Tao thấy nó Nam kỳ nên tao địch vận thử một phát xem sao. Nều trong năm ba ngày mà tao không bị gì thì thuốc liều của tao coi như có hiệu quả. Bằng không thì chắc là cuốn gói vô conex, hết thăm nuôi cũng đếch thấy mặt vợ con.
Thật ra tôi chưa bấn loạn tinh thần, như một vài người đã nghĩ, đến độ nổi điên nổi khùng phát ngôn cẩu thả chẳng ra tích sự chi chỉ có chuốc họa vào thân. Tôi muốn cho tên quản giáo cựu hạ sĩ quan VNCH kia thấy và hiểu rằng mấy ông thầy củ của hắn vẫn luôn xứng đáng và hắn vẫn còn có thể hảnh diện vì họ, dù hắn có muốn hay không, hoặc ít ra hắn cũng còn một chút nể trọng đối với họ. Nếu hắn có báo cáo lại cho cấp trên cùng nghe thì càng hay, càng đúng ý của tôi mong muốn chứ cũng chẳng sao. Nhưng rồi ngày lại ngày qua, tôi vẫn bình yên, chẳng có ai thèm đến quấy rầy. Sau một tháng học tập thảo luận, anh em cải tạo lại quay về với công việc riêng tư thường ngày. Tôi lại thấy số hàng đặt vẽ ngày càng nhiều ; bè bạn vẫn ưa thích nét vẽ « a ma tơ» của tôi và thích nhứt là các tranh tứ thời, cách tôi trang trí mấy kiểu lược. Vào cuối thu, Phạm văn Ngự của đất Thần Kinh, nhỏ người, lúc nào cũng đội bê rê để che chở cái đầu sói, rất sùng đạo, đã sưu tầm được ở đâu không biết một tấm ảnh cở 6×9 chụp gương mặt của Đức Bà Fatima ngó nghiêng hơi cúi mặt xuống với một giọt nước mắt còn động trên chóp mủi. Gương mặt rất nổi nhờ sự đối chọi giửa vùng sáng và vùng tối. Ngự nói với tôi là có người đã chạm bức chân dung đó và hình chạm trên mặt nhôm trông còn đẹp hơn ảnh trên giấy nhiều. Và anh nài nỉ tôi chạm cho anh bức chân dung dó trên một miếng nhôm lớn bằng phân nửa tấm ảnh. Thấy bức chân dung hay hay nên tôi cũng bỏ thì giờ ra họa lại và gay cấn nhứt là lúc chạm : bức ảnh có nổi hay không là do ở sự chính xác của mủi dùi chạm, mạnh nhẹ tùy nơi tùy chỗ. Khá công phu nhưng tôi đã thành công. Hứng khởi tôi chạm luôn cho tôi một cái lớn hơn của Ngự, và sẳn trớn chạm luôn cho đôi ba người bạn khác cũng muốn có để lưu chút kỷ niệm. Riêng tấm ảnh của tôi, hình bầu dục, tôi đã khắc ở mặt sau dòng chữ : Kỷ niệm 10 ngày dài nhứt 4.000 năm…Khi đọc thấy hàng chữ nầy bạn bè đều lắc đầu, e rằng tôi sẽ không đem tấm ảnh ra khỏi trại được, mà còn có thể bị rắc rối nữa là khác : ảnh của một thánh nhân Công giáo lại còn thêm mấy chữ ngụ ý xỏ xiên Cách Mạng !
Lật bật rồi lại tới kỳ thăm nuôi nhân dịp Tết Đinh Tỵ. Mọi người náo nức chờ được gọi tên ra khu tiếp tân gặp lại gia đình, biết thêm chút tin nhà và nhận quà cải thiện bửa ăn hàng ngày. Lần lượt rồi cũng đến đội của tôi, rồi tổ của tôi. Hai mươi người được cho đi làm hai đợt cách nhau độ mười phút. Tôi đi đợt sau với Tân, trong mình cầm theo các thứ đồ chạm làm quà cho con cháu. Dỉ nhiên là phải có tấm ảnh của Đức Mẹ Fatima. Tân, Ngự đều có vẻ lo cho tôi, cho tấm ảnh. Tôi cười trấn an :
- Có gì quan trọng đâu, được thì có chút kỷ niệm, không cho đem ra thì sẽ tìm cách khác, nếu bị tịch thu thì làm cái khác !
Khi ra tới khu thăm nuôi, toán của tôi cũng như  mọi người, tự do tìm chỗ ngồi lại với nhau hàn huyên thỏa thích. Riêng tôi, khi đã nhận ra vợ con đang đứng chung với vợ con của Tân – bà xã của Tân đã lái xe qua nhà đón gia đình tôi cùng đi – chúng tôi định ngồi chung một nơi cho vui, nhưng đã có một tên cán bộ đến hướng dẫn tôi và gia đình đến một cái bàn riêng hơi cách biệt với mọi người. Thấy vậy vợ chồng Tân nhìn tôi lắc đầu, có vẻ lo cho tôi, không biết chuyện gì nữa đây. Nhưng chẳng có chuyện gì đáng ngại ngoài sự hiện diện tại bàn của hai cán bộ mà tôi đoán là người miền Nam, đeo quân hàm thiếu và trung úy. Đây là chuyện hiếm có, từ khi nhập trại đây là lần đầu tiên tôi được thấy « lon » của VC. Bà xã tôi có vẻ bực mình,  tôi chỉ cười nói với bả cứ xem như chẳng có ai trước mắt. Nhưng rồi chỉ có tôi là xem họ như con số không, còn bà xã cứ rụt rè có nhiều việc không chịu nói ra, giữ lại với tất cả sự bực dọc, cho đến khi tôi hỏi bả chứ có tin gì từ sứ quán Pháp hay không, vì tôi nghe hình như Pháp đang phải lo hồi hương tất cả kiều bào của họ. Khi ấy bà xã tôi mới cho biết là sứ quán họ chờ quyết định của chúng tôi. Vợ tôi ngỏ ý muốn chờ tôi về để cùng đi, bả không yên tâm khi tôi ở lại một mình, và càng không yên tâm hơn khi phải một mình tự túc mưu sinh để lo cho ba đứa con còn nhỏ dại nơi đất khách quê người. Tôi lại càng không yên tâm hơn nữa nhưng cũng cố gượng cười hỏi bả :
- Thế từ hơn một năm nay Ba ở mấy mình ?
Và tôi đã lấy lại giọng nghiêm trang hơn vì lần nầy tôi không nói với vợ con, mà cố ý nói cho hai tên sĩ quan cán bộ đang trơ mặt mo ra ngồi đấy để nghe ngóng, để hy vọng đàn áp tinh thần tôi và khớp bớt mỏ tôi lại. Nếu đúng như thế thì chúng nó đã lầm to : không có chúng nó thì tôi không nói gì cả, mà có chúng nó thì tôi lại tà tà tiếp tục con đường mà tôi đã vạch ra cho riêng tôi và sẳn sàng chấp nhận hậu quả :
 -   Mình cứ dẫn 3 đứa nhỏ về Pháp, đừng chờ Ba vô ích. Không ai biết thân phận của Ba hơn Ba : bọn chúng nó không khi nào thả Ba ra trừ khi có phép lạ. Mình nên dẫn con đi càng sớm càng tốt. Ở lại đây chúng nó sẽ được gì ngoài cái ngu, cái nghèo, cái dốt, cái khổ, cái nhục…Mình cứ tạm xem ba đứa nhỏ như mồ côi cha…
Tôi cố giữ giọng trang nghiêm nhưng không giữ nổi sự bực tức và lòng thương cảm vợ con đang bừng lên trong tôi như một đám cháy rừng thiêu đốt tâm can. Nghẹn ngào, tôi đành ngưng lại và kéo ba đứa con nhỏ vào lòng, hôn lên ba mái tóc xanh còn thơm mùi thơ dại mà nghe hồn mình tan thành mây khói, tưởng chừng như không còn có thể gôm lại được nữa. Cũng vừa lúc vợ tôi có vẻ hốt hoảng, đá chân tôi lia lịa ngỏ ý bảo tôi ngưng phát ngôn bừa bải. Trong giây phút bị sóng lòng dằn vật thô bạo nên tôi đã tạm quên sự có mặt của hai tên sĩ quan cán bộ. Đến khi giựt mình nhìn lại thì cả hai cũng vừa đồng loạt đứng lên bỏ đi. Tôi nghĩ có lẻ bọn chúng đã hiểu ra rằng có ngồi nán lại cũng chẳng cấm đoán gì tôi được : tôi không đụng chạm gì đến ai cả, tôi chỉ tỏ rõ bản chất cực kỳ phản động của tôi đối với chế độ xã hội chủ nghĩa mà thôi. Điều nầy bọn chúng nó đã quá biết rồi, có biết thêm một tí nữa cũng chẳng làm sao. Khi cả hai tên cán bộ đã ra đến giữa sân, tôi mới nói với bà xã :
- Chúng nó lại bị Ba một vố nữa. Vậy cho bỏ tật…Chúng nó cứ tưởng rằng làm như thế là sẽ hù dọa được Ba, cần phải cho chúng nó biết là chúng nó đã lầm người, và không phải ai cũng khiếp sợ bọn chúng nó.
Nói là nói vậy chứ tôi cũng hơi lo : căn cứ vào cái gốc Nam kỳ của mấy tên cán bộ để thử « ăn thua » nếu không đúng như ước đoán thì tôi có nhiều triển vọng vào conex để tu tâm dưởng tánh cà chớn ! Nhưng cuộc thăm nuôi đã qua hơn một tuần lễ, và Đức Mẹ Fatima cũng chui được ra khỏi trại, mà tôi vẫn chưa thấy có hề hấn gì, coi như tạm được yên thân. Thân xác yên nhưng tâm hồn làm sao yên được khi nghĩ đến ngày vợ hiền một thân một mình dắt díu ba đứa con thơ, bơ vơ nơi xứ người. Vốn người hiền thục, chỉ quen lúc thúc trong nhà, ít khi đi xa một mình, chưa bao giờ biết bươn chải, vật lộn với cuộc sống, mà nay phải một mình dẫn dắt con thơ đến chân trời lạ ; tự túc mưu sinh mà không có trong tay một chút nghề nên vợ tôi rất sợ cuộc đời trước mặt ! Đối với vợ tôi, tương lai lúc bấy giờ là một ẩn số to lớn, nặng nề, ngột ngạt mà bả không đủ sức để đương đầu. Nỗi buồn lo của vợ tôi biết lấy gì để đo lường ? Và lòng căm hận của tôi chưa chắc Trời cao đã biết được kích thước ! Tôi biết ngày phải bỏ chồng, bỏ xứ ra đi, vợ tôi sẽ khóc hết nước mắt, coi như một lần tang tóc. Ai đi Tây mừng vui không dứt, vợ tôi đi Tây ruột đứt từng khoanh, và ruột của tôi cũng chẳng nguyên vẹn gì, đứt khoanh còn nhuyển hơn nữa kia ! Nhưng biết làm sao, chỉ còn biết trông vào Trời cao độ trì. Chưa bao giờ sự cứng rắn và gan lì cần thiết như lúc nầy để giúp tôi tiếp tục vững bước đi vào cuộc sống còn, trên con đường tôi đã vạch. Đi vào cuộc đời trước mặt chẳng khác nào đi vào đàn bà : xìu xìu ển ển sẽ chẳng ra chuyện gì ! Khi tôi nói : bọn chúng nó không khi nào thả tôi ra…có khác nào tôi nói lời vỉnh biệt ? Tôi biết là vợ con nghe đau lòng lắm, tôi cũng tan nát tâm can, nhưng tôi phải cắn răng chấp nhận một chút hy sinh để nói lên cho bọn chúng nó biết rằng không bao giờ tôi khòm lưng, cúi đầu để được hai chữ bình an và để được chúng nó xem thường và khinh bỉ cả tập thể sĩ quan miền Nam, một cái nhục mà tôi biết mình không đủ sức chịu đựng. Bất cứ ai còn một chút khí phách, tự trọng đều không thể hạ mình trước bọn ngu si, gian ác, sát nhân. Lúc chia tay, nhìn theo bóng dáng ba đứa con thơ lủng đủng níu tay mẹ lẫn lộn vào đám người đến thăm nuôi, khuất dần vế phía cổng trại, đầu của tôi tuy cứng nhưng trong giây phút ấy bổng như trống rổng óc não như tan biến vào hư vô, tim của tôi dường như mềm hơn nước, thân của tôi như cọng bún thiu ! Lòng như ngay dại, tôi đứng lặng im bất động mà hồn bay bổng theo vợ con, trốn ra cổng trại để lại thân tôi thờ thẩn, ngẩn ngơ như kẻ mất hồn !
Khi nghe tôi kể lại buổi thăm nuôi, Tân lắc đầu :
- Thầy Dòng hồi đó đâu có dạy mầy học gồng mà sao bây giờ mầy bạo thế ?
- Thầy Dòng không dạy tao học gồng. Thầy Dòng chỉ dạy tao hai chữ Đạo Đức để sống cho nó ra Người. Bạo thì tao có bạo, nhưng tao không bạo ẩu tả kiểu như Thịnh, như Tuân để bị chúng nó sát hại. Chúng nó chỉ có thể cho tao vào sổ bìa đen, điều nầy chúng nó đã làm rồi từ khuya, ngoài ra chúng nó chả làm mẹ gì tao được. Tao không bao giờ dại dột đi trực tiếp đả kích, chỉ trích, phê bình hay thậm chí chửi rủa Bác và Đảng để được chúng nó tiền trảm hậu tấu. Tao cũng không làm chuyện ruồi bu đi đòi hỏi chúng nó phải đối xử bọn mình như tù binh chiến tranh đúng với qui ước quốc tế v.v…để cho chúng nó có cớ đì thẳng tay ; có ai làm gì được chúng nó không ? Đã bị gạt vào tận đây rồi lẽ nào vẫn chưa hiểu rằng nói chuyện pháp lý với bọn côn đồ thô bạo có khác nào đàn gảy tai trâu hay nhổ râu cọp : chẳng được tích sự gì chỉ có thiệt thân. Con đường tao chọn không có gì cao xa, rắc rối nhưng hiệu quả : tao luôn luôn giữ tư cách của kẻ bề trên (nói nghe có vẻ trịch thượng nhưng không có cách nào khác) đối với bọn cán ngố. Không bao giờ tao có thái độ thù hằn với bọn đó, ngưọc lại là khác, tao thấy thương hại bọn người nghèo khổ dốt nát đó : họ đã khù khờ tưởng rằng chế độ cộng sản sẽ giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo khổ, cơ cực, áp bức nhưng họ đã lầm to. Tao lợi dụng mọi hoàn cảnh thuận tiện để chỉ dạy, mở mắt chúng nó. Chúng nó có thù nghét bọn mình lúc ban đầu là vì chúng nó đã được huấn luyện, dạy dổ như thế ; chúng nó không được hiểu, không được biết gì khác cả. Nếu đủ kiên nhẫn và khôn khéo để mở mắt họ ra, một ngày nào đó khi đã nhận ra sự thật họ sẽ là lực lượng căn bản để phá tan Đảng CS và chế độ của nó dựng lên…Đại khái là như vậy, tuy nhiên cũng còn có một điều kiện khác căn bản không kém : chúng ta phải có một tư cách xứng đáng nào đó mới có thể huy động, tập hợp và lảnh đạo lực lượng đó được. Nếu mầy còn nghĩ rằng lần nầy bọn Ngụy mình mà tập hợp lại được sẽ là một lực lượng vũ bão, nhờ đã thấm đòn, đã sáng mắt, đủ sức để đánh tan CS thì mầy còn nằm mơ đấy ! Đánh tan CS chỉ có chính cán bộ của chúng nó với nhau, và vấn đề kinh tế, tức là vấn đề…đầu tiên ! Ngoài ra dân chúng cũng phải có chút khôn ngoan và can đảm, hợp sức cùng đứng lên…
Tân nghe tôi nói chỉ mỉm cười, khe khẻ lắc đầu, không có ý kiến. Lần thăm nuôi nầy gia đình mang cho tôi không thiếu món chi, vị chi có trên 50 kí ! Các bạn trong tổ phải phụ giúp tôi khiêng về. Ngoài những đồ khô, thịt hộp, đường đậu…gia đình các anh chị em tôi còn làm cho hai con gà quay tổ bố, thêm một nồi cơm nếp lạp xưởng tôm khô cũng tổ bố ! Thế là tôi nói với bạn bè gần gủi hảy khoan động đến quà thăm nuôi của họ, trưa hôm đó hảy đến ăn chung với tôi, bửa cơm chiều sẽ tính sau. Cứ như thế luôn mấy ngày liền anh em quay quần tiệc tùng vui vẻ với nhau, giúp nhau xoa dịu nỗi lòng âu lo, phiền muộn, nhớ thương ; giúp nhau quên đi hình ảnh vợ con vẫn còn vương vấn ; giúp nhau giữ vững tinh thần, bảo toàn tâm lực để cùng dìu dắt nhau qua bao nhiêu thử thách còn đang chờ đợi trong chốn lao tù…Tất cả đồ khô dành cho đường dài tôi đều giao cho Tân giữ. Tân và một hai anh em trong tổ tùy tiện thu xếp thế nào để anh em đủ ăn với nhau càng lâu càng tốt trong khi chờ lần thăm nuôi tới. Sau lần thăm nuôi tuy có nhiều khổ tâm lo rầu nhưng tôi cũng có được một tí vui : gia có mang cho tôi một số thuốc trụ sinh, không nhiều lắm nhưng cũng có thể giúp tôi ngăn ngừa nguy cơ bị nhiểm trùng của mấy vết thương ở hai chân của Tuân. Tuân là một sĩ quan trẻ vì nóng tánh đã chửi rủa thậm tệ cả Hồ Chí Minh lẫn đảng CS, nên bị chúng nó xử lý trong đêm Giáng sinh vừa qua, may mà không chết nhưng bị thương rất nặng ở hai chân. Đã không chửa trị, trái lại còn cấm bạn tù và đặc biệt cá nhân tôi không được chạy chửa cho Tuân ! Tôi và một vài bạn hữu đã phải bất chấp lịnh cấm tìm phương cách  gôm thuốc trụ sinh và chuyển đến cho Tuân…
Tết năm đó, trại có tổ chức một đêm văn nghệ mừng Xuân để cho Ngụy cải tạo có dịp « tự biên tự diễn » và tự giải trí ! Mỗi đội sẽ trình diễn một màn. Sau khi bàn bạc, anh em trong đội tôi đã đồng ý sẽ hợp ca hai bài. Đa số đề nghị những bài ca của Cách Mạng đã dạy trong thời gian qua. Tôi ngỏ ý chỉ giữ lại bài Dậy mà đi. Bài thứ hai tôi đề nghị sẽ là một trong những tác phẩm của Lưu Hữu Phước, người của VC, như vậy để tránh bị từ chối và mặt khác quan trọng hơn đối với tôi : chúng tôi không phải toát mồm ra ca ngợi VC khi phải hát bài ca Cách Mạng ! Tôi đưa ra ba bài : Hội Nghị Diên Hồng, Ải Chi Lăng và Bạch Đằng Giang. Anh em trong đội không chọn mà đưa hết lên ban chỉ huy trại quyết định. Mấy hôm sau quản giáo cho biết trại đồng ý với hai bản Dậy Mà Đi và Bạch Đằng Giang. Đề nghị của tôi hát nhạc của Lưu Hữu Phước chẳng có gì là phản động cả, ấy vậy mà cũng có một số cho rằng tôi cố tình khiêu khích, không có lợi gì cho việc học tập cải tạo ! Khi nghe anh em thuật lại tôi chỉ cười bảo rằng những người đó hoàn toàn có lý : tôi cố tình chọc quê ! Và tôi không nói ra điều tôi nghĩ và làm : không chỉ có chọc quê VC mà tôi còn để hết tâm trí vào chuyện dùng « gậy ông đập lưng ông » vì tôi nhận thấy bọn VC trong trại không đủ khả năng để ngửi thấy và ngăn ngừa đòn âm chưởng của tôi. Chúng nó sẽ chỉ nhận ra khi chưởng của tôi đã trúng vào giửa mặt, nhưng vì đã cho phép tôi đánh nên chúng nó sẽ chẳng biết phải làm gì tôi. Và tôi nhủ thầm trong dạ : rồi đây mấy ông bạn học nhát gan kia sẽ hiểu rõ hơn và hy vọng họ sẽ học khôn thêm và can đảm hơn đôi chút. Ban hợp ca đội tôi rất hùng hậu vì có nhiều anh em xung phong, trên dưới 20 người. Anh em muốn tôi đích thân tập dợt và điều khiển. Tôi đã lên sân khấu với ban hợp ca trong bộ đồng phục đen của cán bộ xây dựng nông thôn thuở nào mà gia đình vừa đem cho tôi trong dịp thăm nuôi vừa qua. Bài Bạch Đằng Giang được trình bày trước cốt để cho anh em tìm lại âm hưởng ngày nào và chuẩn bị tinh thần để tiếp nhận bài Dậy Mà Đi. Đây mới chính là đòn « cửu âm chân kinh » của tôi. Bản Bạch Đằng Giang đã mang lại cho anh em bạn tù cả một khung trời của quá khứ với bao nhiêu kỷ niệm của « thuở tung hoành hống hách những ngày xưa ». Anh em đã nghe tinh thần phấn chấn, vổ tay ầm ầm, cứ tưởng chừng như không phải đang ở trong trại cải tạo ! Bổng có một số anh em trong cử tọa đồng loạt và nhịp nhàng kêu lên :
- Dzi–va–go !  Dzi–va–go ! Dzi–va–go !…
 Đám cán bộ giám sát và một số lớn Ngụy cải tạo ngơ ngác chẳng hiểu vì sao có một số khá đông bổng dưng lại gọi tên của một nhân vật trong tiểu thuyết được làm thành phim chuyện. Nhưng rồi Ngụy chợt hiểu ra ngay nhờ Dzivago là một bác sĩ bị lăn lóc phong trần trong cuộc đại chiến thứ nhứt và cuộc cách mạng vô sản ở Nga. Khi viết xong truyện « Bác sĩ Dzivago » (hay Zyvago), tác giả, Boris Pasternak, đã gặp vô vàng khó khăn từ phía chính quyền vô sản Xô Viết. Chuyện chỉ được lưu hành ở hải ngoại ; và chính quyền Liên xô đã cấm B. Pasternak nhận giải Nobel văn chương được trao tặng cho ông năm 1958. Tôi cũng chẳng hiểu vì sao mà một số anh em bạn tù lại lấy tên của ông bác sĩ Nga khá lảng mạng đó đặt cho tôi : ngoài cái nghề nghiệp và tên viết khởi đầu bằng chữ D ra, ông ta và tôi chẳng có gì liên hệ cho lắm.
 Khi trình bày bản Dậy Mà Đi tất cả anh em trong ban hợp ca đều để hết tấm lòng của mình vào lời ca, cho nên tiếng hát hết sức hùng hồn, tạo một khí thế vô cùng mảnh liệt, đủ sức để khuấy động lòng người. Vừa thoạt nghe qua anh em khán giả đã vụt im phăng phắc. Khởi đi tiếng ca nghe nhẹ nhàng êm nhẹ như có chút gì tiếc rẻ :
         Dậy mà đi ! Dậy mà đi !
         Dậy mà đi hởi đồng bào ơi !
         Ai chiến thắng không hề chiến bại ?
         Ai nên khôn không khốn một lần ?
Nhưng ngay sau đó tiếng ca đã nghe cứng rắng hơn, đượm hơi câm hờn :
         Dậy mà đi ! Đậy mà đi !
         Dậy mà đi hởi đồng bào ơi !
         Bao nhiêu năm qua dân ta sống không nhà.
         Bao nhiêu năm qua dân ta chết xa nhà.
Trong đoạn cuối anh em đã dồn hết nội lực vào tiếng ca để hét lên lời khuyên nhủ, tỏ rõ tính đanh thép trong lời kêu gọi những ai còn rụt rè, thủ cẳng :
         Dậy mà đi ! Dậy mà đi !
         Dậy mà đi hởi đồng bào ơi !
         Đừng tiếc nữa can chi khóc mải.
         Dậy mà đi núi sông đang chờ.
         Dậy mà đi! Dậy mà đi!
         Dậy mà đi hởi đồng bào ơi!

Toàn ban đã hát lại ba lần bài ca ngắn ngủi nầy, mỗi lần càng để nhiều tâm huyết thêm vào. Trước khi kết thúc, anh em chỉ có lập đi lập lại ba tiếng Dậy mà đi! theo một nhịp điệu càng lúc càng nhanh, gằng từng tiếng một, nghe như tiếng quân hành đang thúc giục lòng người. Bên dưới khán giả cũng đã hát theo, cả hội trường bừng lên một khí thế như chưa từng thấy! Rồi đột nhiên, theo hiệu lịnh của tôi, toàn ban vụt ngưng lại để rồi sau đó cùng la lớn từng tiếng một : Dậy mà đi! Tiếp theo là tiếng vổ tay như sấm dậy pha lẩn với tiếng gọi nhịp nhàng “Dzivago! Dzivago! Dzivago!” làm đám cán bộ giựt mình nhìn nhau! Tôi quay người lại cúi chào, cảm ơn anh em đồng thời để mắt quan sát từng tên cán bộ một đang ngồi ngay hàng ghế đầu, chỉ cách sân khấu vài ba bước. Trong lúc Ngụy cười nói ồn ào vui vẻ, bọn cán bộ tuy bề ngoài cũng vổ tay, cũng cười cười nhưng đã không giấu được nét ngơ ngác, ngạc nhiên thắc mắc. Vài ba tên dụm đầu lại nhỏ to bàn tán, nét mặt có vẻ  nghiêm trọng hơn: bọn Ngụy nầy nghe chúng nó hát vậy mà hình như không phải vậy. Mà đúng vậy, thấy vậy, nghe vậy mà hoàn toàn không phải vậy, còn tệ hại hơn vậy nhiều !
Dậy mà đi là bài hát trước kia được bọn thiên tả phản chiến, nằm vùng phổ biến nhằm thúc đầy tinh thần dân chúng chống Mỹ Ngụy, thì nay Ngụy dùng lại bài ca đó không sai sót một chữ nào đề thôi thúc anh em  cải tạo giữ vững tinh thần chờ ngày đứng dậy mà đi. Thâm ý nầy của Ngụy bọn VC có lẻ đã nhận ra nhưng đà quá trể, chẳng còn biết phải đối phó ra sao nữa.
Rồi mấy ngày Tết cũng qua đi trong êm xuôi, không thấy có tên cán bộ nào xa gần trách móc hay rầy rà gì. Vài tuần lễ sau đã nghe đồn một số sẽ được chuyển trại, một số ở lại với nhiều hy vọng được về. Đầu tháng ba, tôi được lịnh lên xe Va (Molotova) cùng với Ba phác, Ngự, Thạch Điếc, Nhụy, Giỏi, Thông…rời Hốc Môn vào một buổi xế chiều hiu hắt gió đưa, mưa bay lạnh lùng. Trên đoạn đường từ cổng trại ra quốc lộ, tôi thấy dân chúng lấp ló sau khung cửa, dọc hai bên đường, kín đáo đưa tay nhè nhẹ vẩy chào (làm như đấy là một cử chỉ phản động, phạm pháp nên sợ có ai đó trông thấy và báo cáo) để tiển đưa chúng tôi vừa như muốn nhắn nhủ lời chúc thượng lộ bình an, can đảm và may mắn. Trong ánh nắng chiều đang nhạt phai, tôi thoáng thấy có bóng ai đang vén vạt áo bà ba đưa lên mắt và nhanh nhẹn lẫn sau rèm. Tôi bổng nghe lòng như lịm đi, rời rã…Một nỗi buồn chi lạ cứ lớn dần, lớn dần trong tôi, làm tôi thấy khó chịu nên cứ phải xoay qua trở lại thay đổi thế ngồi giữa những bao bị mà không sao xua đuổi được nó, chỉ có làm phiền mấy người bạn ngồi gần quanh tôi. Sau khi chậm lại một chút, đoàn xe từ từ rẽ vào quốc lộ, trực chỉ về hướng Tây Ninh, đưa chúng tôi vào trại tù Bổ Túc ở giữa khu rừng dưới chân núi Bà Đen. Lương Huỳnh Tân, Lê văn Tiết, B.S. Trần Hùng Hải, Trần Xuân Ninh, Huỳnh văn Xuân… ở lại rồi được về, cũng như cựu thống đốc ngân hàng Lê Quang Uyển trước đó ít lâu. Tôi và đồng bọn bắt đầu một cuộc hành trình mới gian nan, vất vả và nguy hiểm hơn nhiều.
                                                                                                          
       












        


                  Cuộc hành quyết hụt.                                              


Tân để tôi nghỉ ngơi, trở về chổ ngủ lục trong bao cát lấy ra một bao nhỏ đậu xanh cà, mấy tán đường rồi trở lại kéo chân lôi tôi dậy. Tôi tiếc rẻ chui ra khỏi chăn ấm, xỏ chân vào đôi dép râu của nhà vô địch bóng bàn Lê văn Tiết làm tặng, uể oải theo Tân bước ra khỏi phòng, xuyên qua một khoảng sân đi về hướng đội 2. Chiều nay có vài anh em rủ rê Tân và tôi đến ăn chè, uống trà và tán gẩu gọi là để mừng Giáng Sinh vì hôm nay là chiều 24 tháng chạp (1976).
Từng nhóm năm ba, những người tù cải tạo quay quần quanh những « lò đạn pháo binh » (những cái lò làm bằng chui đạn pháo binh) với những lon « gô » (lon sữa Guigoz) đậu xanh nấu đường, hay nước trà thơm phức mà gia đình đã mang lên trong lần thăm nuôi. Mọi người vui vẻ cười nói…nhỏ nhẹ như tiếng lá xào xạc trong gió chiều ! Kẻ tọc mạch muốn biết họ đang nói gì với nhau phải đến thật gần mới mong nghe ngóng được. Thời gian 18 tháng cải tạo vừa qua cũng khá đủ để cho người tù học thêm được một ít khôn ngoan, cẩn trọng.
Vì mải mê nấu chè, pha trà nên chẳng ai để ý đến tên bộ đội vai mang AK đang dẫn Tuân đi về phía giếng nước nằm bên ngoài khoảng sân trống của đội 2. Tuân là một sĩ quan cải tạo còn trẻ, rất phản động, nóng tính, hay phát biểu bừa bải nên bị biệt giam vào conex. Cái « chuồng » của Tuân mỗi cạnh dài 2 thước được đặt trên một khoảng đất trống cách các lán của tù cải tạo vài ba mươi thước. Tuân  « nằm ấp » đã được mấy tháng nay nên trông anh ốm yếu xanh xao, khẳng khiu hơn cả vóc dáng ốm đói của tên bộ đội đang dẫn độ anh. Trong ánh chiều tà nước da của Tuân càng thêm tái nhạt, người của anh như dẹp lép trong chiếc áo trận màu xanh, dẹp như chiếc bóng đang chảy dài dưới chân phía trước mặt anh. Tuy kẻ trước người sau nhưng hình như Tuân và tên bộ đội đang cải nhau, hay đang gây gổ với nhau thì có lẻ đúng hơn vì cả hai đều không nói năng với nhau nhỏ nhẹ. Chẳng ai biết họ cải nhau vì chuyện gì, chỉ giựt mình im lặng giây lát để theo dõi khi cả hai đều bổng lên giọng lớn tiếng. Giọng tên bộ đội có vẻ giận dữ chửi bới theo đúng bài bản :
- Bọn Ngụy chúng mầy chỉ biết sống trên đầu trên cổ nhân dân, bóc lột nhân dân, liếm giày đế quốc…
Giọng như quát tháo, Tuân cướp lời không cần biết đến hậu quả :
- Câm cái mồm thối của mầy lại ngay ! Bọn cộng sản chúng mầy, đầu xỏ là tên giặc Hồ, toàn là đồ ngu xuẩn, chỉ biết cúi đầu vâng lịnh quan thầy Nga Tàu, sát hại đồng bào không biết gớm tay !…
Khi thoáng nghe được lời của Tuân vừa phát ra, tôi sửng sốt, kinh hoàng. Tôi tự hỏi có lẽ nào Tuân lại không biết cái bản chất của kẻ thù trước mặt, nhứt là cái tính chất thần thánh của tên giặc Hồ ? Tuân có chửi rủa tên bộ đội thế nào cũng được, nhưng khi xúc phạm đến thần tượng Hồ Chí Minh nặng nề như vậy thì Tuân e khó thoát khỏi cái án tiền trảm hậu tấu của cộng sản.
Tên bộ đội cầm báng súng đưa lên như muốn đánh vào người của Tuân, Tuân nhanh nhẹn quay người lại thủ thế. Tên bộ đội ngập ngừng do dự rồi cuối cùng hạ súng xuống. Cả hai kẻ thù địch lại im lặng tiếp tục đi về phía giếng nước lúc bấy giờ đã vắng người. Tuân tắm thật nhanh có lẻ vì lúc đó trời đã bắt đầu lạnh hơn, cơn gió chiều đã nổi lên lay động cành cây ngọn cỏ. Chờ cho Tuân mặc quần áo xong, tên bộ đội dẫn Tuân trở về chuồng sắt. Cả hai đều im lặng, cái im lặng hết sức nặng nề đang đè lên tâm tư những người tù cải tạo đã châm chú theo dõi nội vụ với ít nhiều thích thú lẫn âu lo. Mãi một lúc sau, khi tên cán binh đã quay trở về khu của bộ đội, tôi mới nghe tiếng các bạn tù nổi lên thì thầm bàn tán.
Giây lát sau mọi việc như chìm vào quên lảng ; mọi người lại tiếp tục chuẩn bị đón mừng Giáng Sinh, cái Giáng Sinh thứ hai trong tù. Vì không có cha tuyên úy nên không có thánh lể…lén ! Những người tù công giáo hợp nhau từng nhóm nhỏ để cùng thì thầm đọc kinh cầu nguyện. Tân cùng tôi và đôi ba người bạn thân cũng bỏ mặc lon gô chè trên lò đạn pháo binh, ngồi lại quanh chiếc bàn nhỏ lâm râm khấn nguyện. Năm bảy phút sau, khi những lời nguyện thầm đã được nhắn gởi cho gió chiều mang lên tận chốn trời cao, lon chè đậu xanh cũng vừa chín tới. Tôi lặng yên lơ đảng thổi vào chén chè đang bốc hơi nghi ngút, trong lúc các bạn đang bàn trở lại về chuyện vừa qua. Lắng tai theo dõi nhưng tôi không nói một tiếng nào, và né tránh không trả lời những câu hỏi của các bạn đặt ra. Thấy tôi trầm tư, yên lặng có lẽ Tân nghĩ rằng tôi đang luyến tiếc Noel của thời vàng son nên Tân nghiêng người về phía tôi cười nói như trêu chọc :
- Nầy, nầy, phải ngoan hơn một chút, đừng có chơi cái trò người hùng phản động thì giờ nầy đang ở nhà ăn Noel với vợ con có phải sướng đời hơn không ?
Tôi chỉ nhìn Tân mỉm cười rồi cùng nhau nhắc lại kỷ niệm của những đêm Giáng Sinh khi còn mặc đồng phục trắng, thắt cà vạt xanh da trời với ba sọc trắng của Hiệp Hội Thánh Mẫu, cùng dự thánh lễ ở sân trong của trường Taberd, trang nghiêm và ấm cúng làm sao. Nhớ nhứt là những lễ đêm về sau nầy khi tôi đã lên ban tú tài, trong lúc mọi người đang im lặng xếp hàng chờ rước mình thánh Chúa giửa trời khuya lạnh lẽo, « ông Nội », tức sư huynh Théophane, đã chỉ định tôi độc tấu vĩ cầm bản Đêm Thánh Vô Cùng và vài bài thánh ca với tiếng nhạc đệm harmonium của ông. Trước hàng trăm người đang đấm minh trong những nguyện ước thầm lặng, tôi say sưa « cưa kéo » và thả hồn theo tiếng đàn nhẹ nhàng bay lên tận dãy Ngân Hà trên cao. Tôi cũng không quên kể cho Tân nghe « tai nạn » một đêm Giáng Sinh của thời còn lang thang tóc mây cài trên bốn vùng chiến thuật. Giáng Sinh năm đó đoàn Quái Điểu (TĐ1/TQLC) dừng chân ở một xóm nhỏ cách quận Gò Quau không bao xa, trong địa phận tỉnh Cà Mau. Như thông lệ, người lính chiến được phép nghỉ bóp cò 48 giờ nhờ có hưu chiến với giặc cộng. Xóm nhà chỉ có năm ba mái lá nằm rải rác trên mấy thửa ruộng đầy ấp nước. Những căn nhà bề ngoài trông rất bình thường, nhưng khi bước chân qua ngưởng cửa mới thấy không khí sặc mùi chiến tranh : bên trái cửa ra vào là một bộ ván vừa cho ba người nằm được kê sát góc nhà. Bên góc phải là một cái tủ đứng hết sức đơn sơ dùng chứa áo quần, chăn mùng…Kế bên là một cái kệ với một ít chén dĩa, muổng đủa, chảo nồi…Gần bên cửa sau là nhà bếp. Phần lớn còn lại của căn nhà là hầm trú ẩn, một loại hầm nổi tô bằng đất trộn rơm dày độ hơn năm bảy tất, cao đến sát mái nhà ; cửa hầm ngó ngay ra nhà bếp, sau chiếc bàn ăn nhỏ với hai ba cái ghế. Nhìn cái hầm tôi có cảm tưởng như giửa nhà có một gò mối khổng lồ. Quanh nhà có một hàng dậu tươi tốt, cách nhà độ vài ba thước. Có một điều làm cho lính chiến chúng tôi thắc mắc : cả xóm đều vắng hoe, không có đến cả bóng dáng một con chó, một con mèo. Dân chúng đã bỏ đi đâu ? theo lịnh của ai ? Đề cao cảnh giác, một phản ứng tự nhiên của những người ngày ngày kề vai sát cánh với tử thần, với VC vô cùng tráo trở, không thể tin được, toán quân y đã chia nhau ra lục soát và canh gát cẩn thận quanh nhà. Sau khi nhận đủ phần tiếp tế đặc biệt cho dịp nầy, anh em xúm nhau vào cùng lo việc bếp núc, và có phần lảng quên việc canh phòng. Nhưng từ trưa cho đến xế chiều mọi việc đều êm xuôi. Rồi bửa cơm chiều khá thịnh soạn với thịt ba chỉ tươi thay cho thịt ba lát hộp đã qua trong vui vẻ, bình an trước khi mặt trời khuất sau hàng dậu. Thầy trò rời bàn ăn, ai lo việc nấy. Tôi vừa quay gót trở lên nhà trên thì thấy một anh y tá chụp lấy cây M16 dựng cạnh bên bếp và nhẹ nhàng phóng nhanh ra bờ dậu phía sau nhà. Rồi một y tá khác cũng lẹ làng cầm súng bay theo ra góc rào đối diện.Giựt mình chẳng biết có chuyện gì, tôi vừa quay người lại nhìn ra hướng cửa sau thì đã nghe tiếng nổ chát chúa của một trái lựu đạn nội hóa cách chổ tôi đứng vài ba bước, ngay sau vách cạnh hầm trú ẩn. Nhờ vậy nên trái lựu đạn đã không gây một thiệt hại nào, chỉ có làm cho tôi thiếu chút nửa đã đứng tim, bằng không thì nếu tôi chẳng « hui nhị tì » chắc cũng đi bịnh viện! Tiếp theo là tiếng quát tháo của hai anh y tá và tiếng M16 nổ dòn. Thì ra có hai tên du kích núp dưới con rạch cách khu ruộng sau nhà, chờ lúc tranh tối tranh sáng của buổi hoàng hôn bò đến bên hàng dậu để cắn trộm. Nhưng vì mùa đó ruộng có nhiều nước nên khi hành động hai tên du kích đã gây tiếng động dù không đáng kể đối với kẻ bàng quang nhưng đối với người chiến binh đã từng trải thì hai tên du kích kia không qua được mắt họ. Khi biết mình bị lộ, họ quăng bừa quả lựu đạn vào nhà rồi chém vè. Nhưng chỉ có một tên thoát kịp đến bờ rạch và lặn mất, tên còn lại đã bỏ xác tại chổ dưới hai lằn đạn chéo của hai cây M16. Buổi chiều Giáng Sinh năm đó đã thành buổi chiều sát sinh. Nhưng biết làm sao hơn, chúng nó đã muốn như thế. Tự nghìn xưa lề luật của chiến tranh vẫn tàn ác : bắn hạ hay bị hạ…

Trời đã tối hẳn và hình như không còn ai nhắc đến chuyện vừa xảy ra giữa Tuân và tên bộ đội nữa. Nỗi lo ngại vừa qua, niềm vui vừa mới đến, đột nhiên tiếng nói cười của đám tù lại lắng xuống như một lớp học có bóng thầy giáo bước vào ! Từ phía ban chỉ huy có bóng tên chính ủy đang lặng lẽ đi nhanh về phía đội 2, theo sau có một tên bộ đội mang AK. Không ai bảo ai nhưng tất cả bạn tù đều dán mắt vào hai tên việt cộng đang xuyên qua khoảng sân tối, lần theo con đường mòn thẳng ra hướng chuồng sắt của Tuân. Linh cảm chuyện chẳng lành tôi nghe hồi hộp trong lòng, và cố hết sức để quan sát từng cử chỉ của hai tên việt cộng được tới đâu hay tới đó vì khoảng cách cũng khá xa, đêm lại đã tối mù. Tôi bồn chồn nghe ngóng, chờ đợi xem chuyện gì sẽ đến với Tuân. 
Hai tên VC không để chúng tôi chờ lâu : một loạt AK nỗ dòn được chúng bắn xả vào lồng sắt nơi Tuân đang nằm nghỉ và chắc chắn là lúc đó anh không hề ngờ rằng câu chuyện ban chiều lại có thể có một hậu quả hết sức phi nhân, phi lý đến như vậy. Khi nghe tiếng AK nỗ, tôi bổng cảm thấy như có một viên đạn đã xuyên qua tâm qua não của tôi. Tim tôi se thắc, đầu óc quay cuồng. Tôi chợt nghe một cơn giận dữ làm rung ly chè tôi đang cầm trên tay. Tôi như muốn bóp nát cái ly ấy và hét lên một tiếng thật lớn cho lòng ngực được nhẹ đi. Nhưng tiếng hét đã đến từ người sĩ quan trẻ vừa bị xử tử hụt, trước sự kinh ngạc lẫn vui mừng của tất cả tù cải tạo.
- Bớ anh em ! Việt cộng nó bắn tôi ! Chúng nó muốn giết tôi !
Nhưng họng súng AK đã lấn át tiếng la của Tuân. Sau loạt nỗ thứ hai, một sự im lặng rợn người đầy tử khí trùm kín cái lồng sắt của Tuân và cả toàn trại T5. Đêm Giáng Sinh 1976 trong trại Hốc Môn cũng đã biến thành đêm sát sinh ! Cũng như chiến tranh, từ nghìn xưa cái ngu si, dốt nát, tính tham lam, lòng thù hận vẫn là cái đại họa cho nhân loại.
Sáng sớm hôm sau, tôi vẫn thức dậy lúc 5 giờ như thường lệ, đi « thăm lăng Bác » rồi ra giếng đánh răng, rửa mặt và tập chút thể dục. Tôi bổng nhận ra là toàn trại sáng hôm đó cũng đã dậy sớm hơn thường lệ, nhưng đa số đều nằm yên trong chăn, thì thầm bàn tán về số phận của Tuân. Khi trời hừng sáng, đã thấy nhiều bạn tù tụm năm, tụm ba tự đặt ra nhiều nghi vấn mà không ai tìm được giải đáp. Cũng không có ai dám mon men đến chuồng sắt của Tuân để xem động tỉnh ra sao. Tôi ngồi xếp bằng trầm tư trên chiếc hòm khổng lồ của Công binh ngày xưa dùng để chứa dụng cụ và nay tôi dùng làm giường ngủ. Tân đến ngồi bên cạnh, thầm thì hỏi tôi vài câu, nhưng tôi chẳng nói năng chi, trong lòng buồn bã nên không muốn mở miệng. Cả hai yên lặng ngồi bên nhau cho đến khi Tân thấy bóng tên quản giáo đang đi về phía tổ 3 tìm tôi (tôi là tổ trưởng) để giao công tác trong ngày. Tôi bỏ hai chân xuống đất, vươn vai, lấy lại vẻ bình thản chờ tên quản giáo đến. Tên quản giáo nầy người miền Nam, ít nói, có vẻ như e dè, nhút nhát mỗi khi phải tiếp xúc với Ngụy cải tạo. Trong số bạn tù có người đã nhìn ra anh ta. Tên của anh ta là Thương hay Thường gì đó. Trước 1968 anh ta là một hạ sĩ quan (hình như là thượng sĩ) của sư đoàn 5. Biến cố Tết Mậu Thân đã đẩy đưa anh ta về phía bên kia chiến tuyến. Có lẻ vì lý do đó cho nên bây giờ mỗi khi đứng trước hàng quân gồm toàn thượng cấp cũ, anh thấy khớp.
Tên quản giáo bước lên bực thềm và dừng lại nơi ngưởng cửa. Chưa bao giờ anh ta bước chân hẳn vào trong phòng của tổ 3, ngoài những giờ học tập thảo luận. Tôi chẳng buồn đứng lên tiếp đón theo đúng qui định, mà chỉ ngồi bên mép hòm lặng lẽ chờ lịnh, vì chiếc hòm của tôi được đặt ngay sát cửa ra vào. Có một điều tôi không hề chờ đợi ở tên quản giáo mà lại đến với tôi một cách hết sức bất ngờ, thích thú : anh ta đã báo cho tôi biết là Tuân đêm qua chỉ bị thương nặng ở hai chân chứ không chết. Khi anh ta đã quay đi, tôi vẫn còn ngồi yên lặng bất động, cúi mặt nhìn xuống đất thở ra một hơi dài như để trút bỏ một nỗi lo âu nặng nề đang đè lên tâm trí, và vụt mỉm cười một mình. Tên quản giáo vừa giúp tôi trút bỏ được một nỗi buồn lo, nhưng lại gây cho tôi một điều thắc mắc khác: tại sao hắn ta lại báo cho tôi tin vui đó ? Hắn nghĩ gì và muốn gì ?…Tân dù đã trở về chổ ngủ để tôi một mình với quản giáo, nhưng Tân không bỏ sót một cử chỉ nào của hai chúng tôi. Trước thái độ hơi lạ lùng của tôi, Tân bước lại vổ vai tôi và hỏi dồn dập :
- Sao ? Có gì vui? Có gì hấp dẫn? Sao mầy lại cười ? Bộ thằng Tuân chưa chết hả ?
Tôi ngẩng lên nhìn Tân đáp khẻ :
- Ừ, Tuân chưa chết, chỉ bị thương  ở chân, có lẻ cả hai chân.
Tân tự nhiên bật cười. Và chỉ trong chóc lát cả đội đều hay biết tin vui. Tôi chán nản nghĩ thầm : anh em lại vui mừng khi biết Tuân bị thương ở hai chân, suốt đêm cho đến sáng nay không hề có ai săn sóc !
Sự vui mừng của mọi người không che giấu được nỗi lo âu chung : lo cho Tuân rồi đây sẽ đau đớn nhiều với vết thương không biết sẽ kéo dài trong bao nhiêu lâu, lo cho Tuân sẽ bị tàn tật sau nầy, và lo nhứt là trước mắt không biết Tuân có đủ sức để chống chọi với thương vong…Riêng tôi, tôi hết sức lo sợ vết thương sẽ nhiễm trùng làm độc vì không đủ thuốc men, phương tiện để chửa trị ; sinh mạng của Tuân như chỉ mành treo chuông. Mọi người tuy bàn tán có lúc lớn tiếng công khai, có khi đề nghị kéo nhau đến conex thăm Tuân, nhưng rồi chẳng có ai thực hiện. Tù cải tạo chỉ hướng mắt nhìn về chuồng sắt của Tuân và chờ xem ban chỉ huy trại xử trí ra sao. Lát sau đã thấy thủ trưởng T5 cùng với hai tên chính ủy đang rảo bước về hướng chuồng sắt. Cả ba tên dừng lại trước cửa chuồng, quan sát, chỉ chỏ, bàn tán với nhau một lút khá lâu mới quay trở về.
Chờ cho bọn họ đi khuất, vài ba người tù cải tạo liều lỉnh rủ nhau đến thăm Tuân vì họ vẫn không tin rằng Tuân còn sống sót sau loạt đạn thứ hai do tên cán binh đứng ngay trước cửa chuồng cách Tuân không quá đôi ba bước. Khi đến trước conex anh em mới chợt hiểu ra : thường khi Tuân vẫn nằm trên một chiếc võng giăng chéo góc trong chuồng sắt, đầu của anh hướng ra phía cửa để hứng chút gió mát, vì cánh cửa sắt bịt bùng bình thường đã được thay bằng một cánh cửa chắn song. Nhưng đêm qua vì trời trở lạnh và vần vũ muốn mưa nên Tuân đã xoay đầu vào phía góc trong và đưa hai chân ra ngoài. Khi tên cán binh được lịnh hành quyết Tuân, trời đã tối sẩm, trong conex lại tối tâm hơn, nên hắn đã nhắm vào phần ngoài của chiếc võng, nghĩ rắng sẽ bắn nát đầu và ngực của Tuân. Nhưng vì Tuân đã trở đầu nên hai chân lảnh đủ. Suốt đêm máu ra khá nhiều, đóng một vũng phía dưới sàn và làm khô cứng một phần chiếc võng.
Tôi được một vài anh em thân cận báo cáo khá đầy đủ về tình trạng của Tuân. Ngoài mặt tôi vẫn giữ vẻ bình thản như không, nhưng trong lòng lo lắng, suy tín về phương cách cứu chửa cho Tuân không thể chậm trể vì tôi dư biết rằng trại không có khả năng làm công việc đó. Tôi nghĩ sau loạt đạn thứ hai Tuân không còn lên tiếng nữa và VC tưởng rằng Tuân đã chết nên bỏ đi. Không ngờ Tuân chỉ bị thương, nhưng có lẻ anh đã chợt hiểu ra cái lỗi lầm chết người vừa qua nên đã lặng thinh giả chết để sống còn. Một khi đã không giết được Tuân đêm qua thì VC khó lòng tiếp tục cho Tuân một loạt đạn thứ ba giửa ban ngày. Nghỉ thế nên tôi lo tìm cách cứu chửa cho Tuân. Tôi đi quanh quẩn ngoài sân chờ xem động tỉnh từ phía ban chỉ huy trại. Đã 10 giờ sáng mà tôi vẫn không thấy một tên cán bộ nào bén mảng đến chuồng sắt của Tuân. Tôi nghĩ thầm hay là chúng nó sẽ để như vậy cho Tuân chết dần chết mòn ? và tôi bổng muốn điên tiết lên…Không riêng gì tôi mà đa số tù cải tạo cũng bắt đầu bày tỏ sự bất mản, và số cải tạo càng lúc càng đông ngang nhiên kéo nhau đến thăm Tuân. Đến khi đó mới thấy hai tên bộ đội đến đuổi đám Ngụy không cho tiếp xúc với Tuân, và đề nghị với Tuân đưa anh lên bịnh xá. Nhưng đã nghe Tuân lớn tiếng, cũng với giọng phản động liều mạng :
- Chúng bây đã muốn giết tao thì cứ để mặc tao, tao sẽ chết vì vết thương nầy. Tao không đi đâu cả và cũng không bao giờ tao để cho bọn ngu si chúng mầy chạy chửa cho tao !
  Hai tên cán binh lặng lẽ bỏ đi. Khi trời gần đứng bóng mới thấy một tên bộ đội khác đưa y tá đến săn sóc Tuân. Tên y tá xách túi đồ nghề bước vào trong conex và chỉ nghe Tuân thỉnh thoảng rên rỉ, chứ không còn lớn tiếng  xua đuổi, chửi rủa nữa.
Tối hôm đó tôi thay hình đổi dạng, không mặc bộ bà ba đen xây dựng nông thôn như thường ngày, mà lại thay bộ đồ trận xanh mà khá lâu nay tôi không dùng đến kể từ khi gia đình đem cho bộ bà ba đen. Tôi mượn cái nón tai bèo tự biên tự chế của Tân bỏ lên đầu để che bớt mặt hầu tránh sự dòm ngó của đám bù tọt được tới đâu hay tới đó. Tôi lặng lẽ lẫn qua các đội khác bàn bạc cùng một vài bạn bè thân tín để tìm cách cứu chửa cho Tuân bằng mọi giá. Trọn ngày hôm sau tuyệt nhiên không thấy bóng dáng tên y tá đến thay băng cho Tuân. Tôi vô cùng bực bội và cả đêm trằn trọc suy nghĩ mà vẫn vô kế khả thi.
Hôm sau, dịp may đầu tiên tự nhiên lại đến : một người trong đội của tôi được quản giáo chỉ định mang cơm ngày hai bửa cho Tuân. Biết rằng đây là một dịp may nhưng lòng tôi vẫn còn nghi ngại : tại sao VC lại không giao công tác nầy cho đội nào khác mà lại chỉ định người trong đội của tôi ? Bọn chúng nó mưu đồ gì đây ? Muốn nhử tôi vào bẩy chăng ? Nhưng bẩy gì và để làm chi ? Sau một năm rưởi chung đụng với bọn nầy ít ra tôi cũng học được một điều bổ ích : muốn thắng hay ít ra là không thua VC thì phải đa nghi hơn cả…tía của Tào Tháo ! Tuy rất nghi ngờ, e ngại nhưng tôi cũng chụp lấy cơ hội, nhờ người bạn tù vừa được chỉ định mang cơm cho Tuân, quan sát các vết thương, thần sắc của Tuân và nếu được thì hỏi Tuân vài điều.
Sau lần công tác đầu tiên, anh bạn nầy cho tôi biết cái băng ở phía trên gối phải và giò trái ướt đẩm máu bầm den. Người của Tuân xanh như lá chuối. Ngoài ra anh bạn không nói năng gì với Tuân được vì có tên bộ đội kèm một bên cấm đoán. Biết rằng vết thương của Tuân rất trầm trọng, không thể chần chờ được, tôi liền quyết định đi tìm tên quản giáo của tôi nhờ hắn chuyển đến thủ trưởng T5 lời tôi yêu cầu được chạy chừa cho Tuân với những phương tiện riêng của tôi. Anh ta ngạc nhiên nhìn tôi có vẻ như tự hỏi không biết tôi có mad chưa mà đi yêu cầu một việc như thế. Nhưng hắn ta cũng chuyển lới yêu cầu của tôi. Đến xế trưa, khi tôi đang lom khom bên mấy vồng lan thì tên quản giáo đến bên tôi lúc nào chẳng hay và khẻ bảo tôi :
- Tôi tìm anh để chuyển lịnh của đồng chí thủ trưởng…
Tôi ngạc nhiên lập lại, vì trong lúc bất chợt tôi chẳng nhớ điều tôi đã nhờ hắn lúc sáng :
- Lịnh của thủ trưởng ?
- Ờ, lịnh của đồng chí thủ trưởng cấm cá nhân anh làm công tác y tế trong trường hợp nầy. Nếu cải lịnh anh sẽ chịu hình phạt gọi là để làm gương. Anh nghe rõ chưa ?
- Rõ.
Tôi bực mình nên đáp cộc lốc. Không cho thì thôi, cớ sao còn hăm dọa phạt tôi để làm gương ? Bị chọc tức nên tôi tự nhủ : đã vậy thì ông sẽ làm tới cùng để xem chúng mầy làm gì được ông. Phương tiện duy nhứt và quan trọng của tôi là người mang cơm cho Tuân. Anh sẽ đem nhận xét hàng ngày về cho tôi, từ thần sắc của Tuân cho đến diện tích bị nhượm máu của các băng ở chân, cũng như mùi hôi hay thúi mà anh có thể nghe thấy…Từ những dử kiện đó tôi có thể theo dõi diển biến của vết thương,  tình trạng chung của Tuân…
Hai hôm sau, ngưòi đem cơm cho biết Tuân có vẻ mệt hơn và lên cơn sốt. Tôi rất lo nhưng biết làm sao. Trại vẫn chưa cho (hay không cho ?) y tá đến thay băng cho Tuân, lại còn ra lịnh cách bán chính thức cấm các bác sĩ Ngụy tìm cách chửa trị cho Tuân.
Đang lúc bực bội, bối rối thì dịp may thứ hai lại đến : ngoài vai trò anh nuôi, người mang cơm được giao thêm vai trò y tá ! Tội nghiệp anh bạn, khi được giao nhiệm vụ săn sóc vết thương cho Tuân, anh đà muốn xỉu ! Anh có bao giờ làm công việc nầy đâu mà bây giờ lại phải đối diện với một vết thương hết sức ghê gớm. Anh rất kinh hoàng nhưng không thể từ chối được. Cán bộ ở bịnh xá truyền khẩu cho anh vài ba điều căn bản về cách săn sóc vết htương, rồi trao cho anh một cái kéo, một cái kẹp, một ít gòn, băng vải và một chai nhỏ eau oxygénée. Anh mang các thứ khoe với tôi và khẩn cầu tôi giúp anh. Tôi trấn an anh và từ từ giải thích, chỉ dẫn để anh có thể ghi nhớ những bước căn bản trong cách tẩy rửa vết thương, cách băng bó, cách quan sát…Tất cả những gì anh nhìn thấy, ngửi thấy, anh phải ghi nhớ và báo cáo lại cho tôi đầy đũ và trung thực. Anh là một loại thiên lý nhản, thiên lý thủ của tôi vậy.
  Sau lần thay băng đầu tiên, báo cáo của anh đã làm tôi hết sức lo ngại : hai xương ống chân trái của Tuân bị bắn vở tan ở ngay phần giữa. Anh có gắp ra được hai miếng xương bể dài độ 5 phân đem về cho tôi xem ! Tân nhìn thấy thất kinh hồn vía ! Vết thương phần mềm nhầy nhụa ở mặt trong của giò trái dài gần 10 phân ; đùi phải có mấy vết đạn xuyên qua phía trên đầu gối nhưng không trúng phải xương. Mỗi ngày anh bạn mang cơm thay băng cho Tuân một lần, nhưng không có một viên thuốc nào cho Tuân cả, chẳng biết vì trại không có thuốc hay vì trại muốn như thế. Các bửa cơm mà anh bạn mang đến cho Tuân đều được cán bộ hướng dẫn khám xét cẫn thận trước khi mở cửa chuồng để Tuân tiếp nhận. Tên cán bộ dùng đủa xới tô cơm xem có gì khác bên trong, lon rau muống luộc hắn cũng thọc đủa vào gấp mấy cọng rau lên và trố mắt nhìn thật kỹ lon nước màu xanh xanh còn lại. Trong hoàn cảnh đó, chuyển được thuốc đến tay của Tuân quả là một kỳ công ! Thu góp số trụ sinh cần thiết đối với tôi không khó lắm. Tôi cùng một vài người bạn tin cẩn đã tổ chức ngay một cuộc lạc quyên thật kín đáo và nếu cần thì sẵn sàng trao đổi hay thu mua. Mọi việc phải được « bảo mật » tối đa đến mức không ai biết được kẻ đứng ra chủ trương là ai. Có như thế mới mong vô hiệu hóa được đám bù tọt và bảo đảm an toàn cho bọn tôi. Cái khó khăn cuối cùng và quan trọng nhứt là làm thế nào để chuyển số thuốc trụ sinh cần thiết đến tận tay của Tuân một cách an toàn. Mỗi lần đến thay băng anh bạn y tá bất đắc dĩ sẽ mang theo số lượng thuốc trong ngày và tìm cách để lại cho Tuân. Nhưng anh bạn đã phải đem số thuốc trở về vì tên cán bộ hộ tống bám sát, theo dõi quá gắt gao. Sau một buổi chiều bàn thảo, tôi và mấy người bạn rồi cũng tìm ra được diệu kế rất khả thi : dùng những tán dường để chuyển mấy viên nhọng trụ sinh cho Tuân. Vì tán dường khá dày nên có thể moi một lỗ cống nhét được hai viên thuốc vào rồi trám lại cẩn thận. Tên cán bộ kiểm soát khó lòng mà khám phá ra. Tuy nhiên vẫn chưa hết khó khăn : đầu tiên là làm thế nào để trại chấp thuận cho Tuân được nhận mỗi ngày hai tán đường ; kế đến là phải tìm cho đủ số tán đường để chuyển số thuốc cần thiết, và cái khó sau cùng còn có thể là một sự nguy hiểm : làm sao để lần đầu tiên Tuân đừng vội bẻ tán đường ra ăn trước mặt tên cán bộ kiểm soát ! Trong tù Ngụy được đường như khỉ thấy chuối.  Khắc phục cái khó khăn nầy tôi chỉ có trông vào anh bạn mang cơm làm hiệu, làm dấu thế nào để Tuân hiểu được.
Hai tán đường đầu tiên, bên trong có 4 viên trụ sinh, được để ngang nhiên trên nấp lon gô đựng rau muống luộc. Tên cán bộ kiểm soát quả nhiên không hề lưu tâm đến. Anh bạn đã cố tình ngồi quay lưng về phía tên cán bộ và làm đủ loại dấu hiệu để lưu ý Tuân, nhưng chẳng biết Tuân có thấy, có hiểu gì không trong tình cảnh của anh. Theo lời của anh bạn thì Tuân có vẻ rất mệt nhọc, chẳng buồn ăn cơm chỉ uống chút nước rau muống luộc. Hai tán đường anh lấy để qua một bên ! Khi tên cán bộ khép cửa chuồng lại, anh bạn mang cơm thở phào nhẹ nhỏm ! Khi Tuân ăn tán đường anh sẽ rõ mọi việc và từ nay sẽ không còn nguy hiểm nào nữa, về mọi mặt.
Một tuần lễ sau, cơn sốt của Tuân đã qua. Tôi thấy có phần phấn khởi và bớt lượng thuốc xuống, cần tiết kiệm thuốc cho đường dài. Mặc dù có anh em đóng góp để bồi dưởng cho Tuân nhưng anh vẫn còn xanh lắm, người gầy hẳn đi. Cơn sốt không còn, giảm dược một mối lo, nhưng tôi không tin tưởng vào tiến trình bình thường của vết thương ở hai chân của Tuân. Sau gần một tháng điều trị, tôi và các bạn không còn tìm ra trụ sinh nữa, đành trông vào sự mát tay của anh bạn y tá bất đắc dĩ và thịt không độc của Tuân ! May thay, vết thương đã không làm độc, cũng không có biến chứng nào đáng ngại. Và hơn hai tháng sau các vết thương đều kéo da non và trên đà từ từ khép lại. Thật là ngoài ước mong của mọi người, đặc biệt là của tôi. Mặc dù mừng cho Tuân vừa thoát hiểm, nhưng tôi vẫn không vui : liệu rồi Tuân sẽ còn xử dụng được cái phần thân thể đã bị bọn người ngu si tàn bạo phá nát hay không ?
Nhìn một người trai trẻ như Tuân bổng chóc trở thành phế nhân trong một hoàn cảnh hết sức phi lý, phi nhân, tôi cảm thấy uất ức phẫn nộ. Tôi suy nghĩ và lo cho tương lai xứ sở : dân tộc sẽ đi về đâu dưới sự lảnh đạo của lũ người cuồng tín, đầy hận thù lại ngu si dốt nát, tham lam…
Tháng ba tôi được lịnh chuyển trại, bỏ Tuân lại với số phận hẩm hiu. Tôi không còn lo cho sự sống còn của anh nữa, mà chỉ e ngại cho tương lai của anh : vừa qua tôi chỉ có trị vết thương được lành lặng nhưng tôi không có phương tiện nào để chửa chân của anh đúng mức để sau nầy anh còn sử dụng được trong việc đi đứng. Trong tình cảnh đó chắc chắn là xương ống chân của anh sẽ lành nhưng sẽ không dính lại với nhau và sẽ tạo nên một khớp giả : phần thân thể đó sẽ là một cục nợ, một hình phạt đau đớn cho Tuân. Nhưng đau nhứt chính là sự kém suy nghĩ của Tuân : hạ mình xuống gây gổ, đôi co với hạng ngu si lại đang nắm trọn quyền sinh sát mình trong tay chỉ có hại chứ nào được lợi lộc chi. Đâu phải vùng lên trong cung cách đó Tuân sẽ làm cho kẻ thù địch e dè kiêng nể. Đối với đám người ngu si đui mù đó chỉ có xem thường, đừng cố chấp và tìm cách mở mắt, chỉ dạy chúng nó sẽ tránh thiệt thòi cho bản thân lại còn có thể được lợi ích chung.

Tôi rời trại Hốc Môn mà lòng không vui, chẳng phải vì tôi luyến tiếc bạn tù hay nhà lao, hoặc vì những cảm tình của dân chúng quanh đó, nhưng vì biết rằng khi tôi đi rồi sẽ không chắc gì còn có ai liều lỉnh tiếp tục chạy chửa cho Tuân, tuy mấy vết thương rất nặng ở đôi chân của anh nay đã kéo da non nhưng chưa hoàn toàn khép kín, theo lời báo cáo của người bạn tù mang cơm và thay băng cho anh. Vì thiếu thuốc men và thiếu cả dinh dưởng nên vết thương rất chậm lành. Trước khi chia tay, tôi trao hết số trụ sinh tôi đã nhận trong lần thăm nuôi cho ngưòi bạn nầy và không quên nhắc lại với anh vài điều thiết yếu căn bản về việc chăm sóc vết thương cho Tuân…Thôi thì cũng đành phó mặc cho ơn trên cứu chửa cho hắn vậy.

0 comments:

Post a Comment

 
Web Statistics