Dòng Máu Việt Nam Cộng Hòa

Thursday 26 February 2015

Uất Hận Riêng, Quốc Hận Chung:40 Năm Tỵ Nạn, Tự Do Chưa Đến Việt Nam


Tâm Thư Đầu Năm Của Một Người Tỵ Nạn Cộng Sản:           
 Uất Hận Riêng, Quốc Hận Chung.
 40 Năm Tỵ Nạn, Tự Do Chưa Đến Việt Nam

1/ Đôi lời chia sẻ :
Vùng lên nhân dân VN anh hùng
Khai bút đầu Xuân, trước khi vào bài, người viết Phan Văn Song tôi, xin đôi lời xin lỗi, rằng đầu năm lắm chuyện khô khan. Xin thưa trước với quý độc giả, đặc biệt với tất cả các bạn bè quen biết gần xa, đồng tâm, đồng cảnh, đồng chí đồng hướng, (nếu có ai hổng đồng, hổng giống thì xin tha thứ cho đám tỵ nạn chúng tôi ưa  ôm đồm gắn bó lôi kéo nhau), sau xin chia sẻ cùng với tất cả anh chị em. Thưa rằng gần 40 năm cùng nhau đấu tranh chống độc tài, chống Đảng Cộng sản Hán Ngụy đang cướp nước giựt quyền của người dân Việt, cũng chỉ để quyết giữ một chánh nghĩa, xem như một nghĩa vụ : cố giữ linh hồn một người Việt Tử Tế - (Tử Tế xin được viết hoa)- một người Việt được thấm nhuần giáo huấn bởi cả ngàn năm văn hóa của tổ tiên đã dày công giữ vững hồn và gốc dân tộc Việt, dựng nước và giữ toàn vẹn đất nước. Giữ được linh hồn, gieo được hột giống người Việt Tử Tế nơi tạm trú, để ngày mai khi Tự Do phục hồi trên đất nước thân yêu, góp phần đóng góp cho một quê hương Việt Nam Tử Tế với người Việt Tử Tế, cho người Việt Tử Tế.
Người Việt Tử Tế, trong nhà kính cha thương mẹ bảo bọc gia đình, ra đường tiếp láng giềng gần, quý người khách xa, trọng lân bang, giúp hàng xóm. Đó là tề gia, giữ xóm.
Người Việt Tử Tế khi làm quan, biết trọng dân, nghe dân, hiểu dân, hỏi ý dân, lấy công tâm làm luật, lấy công bằng làm lệ, quyền thế, cứng rắn, nhưng nhơn ái, công bằng, giữ luật lệ nhưng nhơn từ giáo huấn. Người Việt Tử Tế khi làm dân biết phán đoán, chọn mặt gởi vàng, bầu người ngay, cử ngưới giỏi, biết suy luận, góp ý với quan, chấp hành luật tốt, chỉ trích lệ sai, cùng quan xây dựng việc nước nhà. Đó là bảo quốc, bình dân.
Bài viết hôm nay khai bút đầu Xuân Ất Mùi, lý ra là phải lạc quan, hào hứng để đón Xuân, nâng cao ly « Rượu Mừng Xuân » (như lời bài ca của Nhạc sĩ Phạm Đình Chương) cùng tất cả bạn bè khắp năm châu hải ngoại hay tại quê nhà, trái lại người viết chúng tôi xin phép quý độc giả được tỏ chút bi quan, bận lòng đất nước, nói lời đắng cay. Và, tuy là năm mới, tuy là mùa Xuân, nhưng với bổn nhơn và gia đình bổn nhơn không có Mùa Xuân, vậy kính xin được phép nhỏ vài giọt lệ, ngậm ít tủi, nuốt tí hờn, uống ly cà phê đắng, để buồn cho thân phận cá nhơn, khóc cho số phận bạn bè, đồng chí, đồng hướng, đồng cảnh, đồng ngộ, tiếp tục sống kiếp tha hương 40 năm mất quê cha đất mẹ, mai đây vùi thân đất người.
Năm nay, năm thứ 40, của những ngày lang thang đi trên đất người. Chúng ta, người dân Việt tỵ nạn Cộng sản Việt Nam, như dân tộc Do Thái năm xưa, sau khi thoát khỏi ách độc tài đô hộ của Ai Cập, đã phải lang thang trong sa mạc 40 năm để tìm vùng đất hứa, mãi sau nầy mới tìm được  đất Israël. Ngày nào chúng ta chưa trở về Sài gòn Tự do thì chúng ta cũng như dân Israël vẫn còn chưa đến vùng đất hưa Tự do. Vậy thì chúng ta như dân Do Thái trước khi về lại  Israël vẫn chúc nhau : « Hẹn năm tới ở Jérusalem ! », chúng ta cũng cùng nhau « Hẹn năm tới ở Sài gòn !»  
Và cùng nhau, chúng ta một nhóm đồng hành, mang cùng toàn dân tộc Việt, toàn dân tộc Việt Tử Tế, mãi mãi niềm Uất hận cùng ngày Quốc hận (Vốn gốc Nam kỳ, Uất Hận và Quốc Hận chúng tôi phát âm như nhau) cho đến Ngày có Tự do !
Thật là, của riêng là của chung, niềm đau cá nhơn, nỗi đau tất cả !

2/ Lý lịch người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngoại :
Chúng tôi cũng xin nói rõ rằng chúng tôi không chỉ trích, không chống đối, phản kháng tất cả những quan điểm hay lập trường khác.
Định nghĩa lý lịch từ « chúng ta » dùng trong bài viết :
« Chúng ta » là một số đông những người gốc Việt đang sống tại Hải ngoại, khi nhập cư  nơi quê người với lý lịch tỵ nạn chánh trị, và đa số nay đã là công dân quốc tịch của xứ sở trú ngụ.
« Chúng ta » nhứt địnhkhông phải là những Việt Kiều tức là kiều dân của xứ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hiện đang tạm trú (có thể thường trú) tại hải ngoại vì công tác ngoại giao, nghiệp vụ hay công tác ngoại thương hay tập sự du học hoặc đi du lịch.
Tóm lại, « Chúng ta » tuy có gốc gác, huyết thống, chủng tộc, dân tộc, văn hóa truyền thống Việt, thuần chủng cha mẹ cùng người gốc Việt hay lai huyết thống Việt có cha, tên Việt, hay có mẹ, tên người bản xứ.
Nhưng không phảingười (quốc tịch - công dân) Việt Nam (với thông hành CHXHCNViệt Nam với các chiếu khán xuất cảnh Vìệt Nam và nhập cảnh nước nhập cư).
Chúng tôi người viết, hoàn toàn không phản đối những lý luận hay phản bác những ý kiến hay quan điểm của những người muốn nhờ các Chánh phủ bản xứ chủ nhà ngoại nhơn (hiện nay chỉ có Mỹ và Canada) - mặc dù chúng tôi luôn luôn trân trọng, ơn cao nghĩa nặng, lòng nhơn đạo cao quý của  những chánh phủ chủ nhà đã cưu mang người gốc Việt tỵ nạn từ 40 năm nay, và đang cho người mình, người Việt tỵ nạn Cộng sản ở đậu và hội nhập - biến ngày 30 tháng Tư đau buồn, đen tối, uất hận, của dân tộc Việt Nam ta, thành một ngày kỷ niệm, trọng đại, sáng sủa, sáng giá (?) cho cuốn lịch ngoại nhơn. Vì lịch ngoại nhơn không thể gọi một ngày hành chánh, là Ngày Đen hay Ngày Buồn  hay Ngày Hận,  vì quá tiêu cực, nên họ phải đề nghị gọi là Ngày Việt Nam Cộng Hòa hay Ngày Thuyền Nhơn hay Ngày Hành Trình đi tìm Tự do cho có vẽ tích cực, hồ hởi-phấn khởi nói kiểu Việt Cộng hay positive attitude nói kiểu Mỹ.
Xin cám ơn tất cả những hảo ý đó. Nhưng nếu quý vị biến Ngày Tang Chung của toàn dân Việt chúng ta thành một ngày lễ tầm thường như một ngày kỷ niệm khác thì quá phũ phàng cho chúng ta ! Chúng ta đã mất mát quá nhiều, nay chỉ còn một Ngày Tang chung để Khóc, mà quý vị cũng sung công luôn, xóa bỏ luôn, thì chúng ta mất tất cả, quá khứ, kỷ vật, lý lịch, mất cả cội nguồn gốc gác ! Ngày nay, chúng ta, người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản ở hải ngoại chỉ còn lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của  Việt Nam hải ngoại Tự do không biên giới và Ngày Quốc Hận để làm dấu mốc đổi đời. Có một cuộc đời trước 30 tháng Tư 1975, và có một cuộc đời sau ngày ấy. Không so sánh đoạn nào, cuộc đời nào, trước hay sau ngon, hay dở, chỉ biết từ nay, ở mỗi chúng ta hai cuộc đời, hai hình ảnh, hai cuộc sống. Vi vậy, chúng tôi không cần Ngày 30 tháng Tư của Người Việt Tỵ nạn Cộng sản Việt Nam chúng ta được cầu chứng tại Toà (marque déposée – Trade mark) !  
Nếu gọi là « Ngày Hành Trình đi tìm Tự do », thì mỹ từ ấy, tên đẹp ấy ẩn ý gì ? Để nói lên một kỷ niệm ? Hay để nói xin tha thứ ? Hay để trân trọng nói tiếng xin lỗi hay nói tiếng « Sorry » « vì người Mỹ chúng tôi đã bỏ rơi các anh» ? Hay thì thầm  an ủi rằng « Người Mỹ (cũng) thương Việt Nam Cộng Hòa ! (lắm, lắm !)’’, Hay chắt lưỡi  tội nghiệp « Tội Nghiệp Thuyền Nhơn Việt Nam » quá ! … Nếu như vậy thì thật là tất cả đều  là giả dối, giả nhơn giả nghĩa ! Tất cả chỉ là những giọt lệ cá sấu ! 
Trại tỵ nạn
Vì, tại sao « Thuyền Nhơn Cu Ba » thiếu chi ?  Biển Ca-ri-Bê cũng đầy xác người Trung Mỹ, …Cu Ba, Porto Rico, Haiti, …Không tội nghiệp sao ? Biển Địa Trung Hải ngày nay thiếu chi Thuyền Nhơn ? Không tội nghiệp sao? Sao không có Ngày Syrie ? Ngày Crimée ? Hay Ngày Tây Tạng ? Cuộc « Hành trình đi tìm Tự do » của người dân Tây Tạng vượt Hy Mã Lạp Sơn đầy tuyết giá  năm 1959 đáng nói lắm chứ ! Ấn độ còn cho Tây Tạng và Ngài Đạt Lai Lạt Ma cả một thành phố, một đại bản doanh, một vùng đất để tạo một giang sơn nho nhỏ cho Chánh phủ Tây Tạng Tự do. Nhưng người Tây tạng không xin chánh phủ Ấn độ cho một Ngày kỷ niệm cuộc Hành Trình người Tây tạng đi tìm Tự do !
Còn nếu nói phải vinh danh, hay phải kỷ niệm bằng gọi ngày 30 tháng Tư là  « Ngày Hành Trình đi tìm Tự do » ?  Thì thử hỏi : Ngày ấy của ai ?  Cho ai ? Của riêng người Việt tỵ nạn Cộng sản ta ? Cho tất cả người Việt di cư tỵ nạn ta ? Người Việt tỵ nạn Cộng Sản đã tạm trú tại một xứ Tự do, nhưng đã tìm lại được thấy lại được Tự do cho Việt Nam, quê hương mình gốc mình chưa ?  
Cám ơn dân chúng Canada đã cưu mang, cám ơn dân chúng Mỹ đã cưu mang dân tộc chúng tôi. Nhưng chúng tôi trước đây, trước ngày 30 tháng Tư năm 1975, đâu có thiếu Tự do, chúng tôi đã có Tự do rồi, chúng tôi biết quý Tự do, chúng tôi sẳn sàng chết để bảo vệ Tự do mà !... Nhưng tại sao chúng tôi người Việt Nam phải (hành trình) đi tìm Tự do ? Và chỉ sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 thôi ! Tại sao ngày ấy ? Từ đâu nên nỗi ?  Chúng tôi suốt 20 năm đã biết sống trong Tự do. Một Tự do nhỏ xíu hè !  Và rất mong manh !  Vì vậy thật đáng quý ! Tự do thật đấy, và vì thế, chúng tôi phải đổ máu để giữ. Và suốt thời gian lúc chiến tranh, trong vòng 20 năm, chúng tôi đâu có « vượt biên đi tìm Tự do » ? Trái lại, nếu có phải đi công vụ xa nhà, xong việc chúng tôi trở về.
Một thí dụ nhỏ : bổn nhơn người viết, và cũng của rất nhiều bạn bè cùng lứa tuổi, cùng chung trường hợp du học sanh, khi tốt nghiệp, đa số chúng tôi đều  trở về phục vụ Việt Nam Cộng Hòa. Du học sanh vào tuổi thanh niên, thoát quân dịch, tốt nghiệp xong, cá nhơn tôi vẫn trở về, dù với cô vợ người bản xứ Pháp, tôi có thể dễ dàng ở lại lập nghiệp ở Pháp. Với 10 năm sống ở ngoại quốc, bằng cấp quốc gia Pháp, gia cảnh vợ người Pháp, công ăn việc làm cũng ở Pháp, có đủ điều kiện nhập quốc tịch người, sống ăn đời ở kiếp xứ Tây. Nhưng chúng tôi trở về, đem cả gia đình (vợ Pháp, con quốc tịch Pháp) trở về sống và làm việc ở Sàigòn, để phục vụ đất nước Tự do của Sài gòn. Và để được  giữ cái giá của Tự do của đất nước mà chúng tôi tự do lựa chọn phục vụ và sanh sống, chúng tôi dù còn trong thời gian hoãn dịch vì du học sanh trở về, vẫn tình nguyện nhập ngũ để được hợp lệ tình trạng quân dịch. Cho đến ngày phe ta tan hàng, bổn nhơn là quân nhơn được biệt phái phục vụ ngành giáo chức Việt Nam Cộng Hòa. Nghề tư chức chỉ là nghề tay trái để kiếm thêm cơm.
Ngày 30 tháng Tư năm1975, vì đồng minh Huê kỳ hứa tiều, hứa wảng, hứa cuội, phản thùng, bỏ cuộc nửa chừng, cúp viện trợ quân sự, nên Việt Nam Cộng Hòa đành phải thua trận. Và toàn thể chúng ta, công dân Việt Nam Cộng Hòa, toàn thể người dân người miền Nam Việt Nam đều đi tù Cộng sản, người thường dân vô tội và gia đình quân cán chính của phía miền Nam ta thì ở tù lớn, còn quân cán chính phe ta đều đi tù nhỏ. Con trẻ, nam hay nữ chưa được thành niên phải lao động công trường, từ đấy thất học, lớn một tý thì Thanh Niên Xung Phong làm mồi cho đỉa ruộng, muổi rừng, sốt rét, còn đã trưởng thành rủi đã làm quân cán phe miền Nam, thì lao động cải tạo múa mùa lệ thủy, mút chỉ cà tha. Cả miền Nam Việt Nam chúng ta thua trận đều phải bị phạt, đi phải tù, phải mất nhà, mất cửa, bị đuổi khỏi thành phố, đi lao động cuốc đất, đào mương, làm rẩy, đi đày lên rừng thiên nước độc, đi khai quang khẩn ấp, dưới mỹ từ di cư đi vùng Kinh tế mới, chỉ vì chúng ta là người của xứ Tự do, chỉ vì chúng ta ở phía, chỉ vì chúng ta ở phe Tự do, và cuối cùng cũng vì Tự do bị tước đoạt luôn cả Tự do. Cũng vì Tự do bị sang đoạt, nên chúng ta đành phải bỏ nước ra đi lánh nạn Cộng sản, dũng cảm, liều mạng, vượt biên đi « vùng Kinh tế mới »…tìm lại Tự do ở nước ngoài.  Và ngày nay, cũng vì nạn Cộng sản, vì không muốn sống trong không khí Tự do đã bị tước đoạt, nên chúng ta phải sống tỵ nạn Cộng sản nơi đất khách, nơi tuy có Tự do, nhưng chúng ta phải lê kiếp sống lang thang tha hương cầu thực từ 40 năm nay. Vì những lẽ ấy, thiển nghĩ :
Ngày 30 tháng Tư không thể là ngày đi tìm Tự do của tôi, mà là ngày Cộng sản chiếm nước ! Và vì uất hận, tôi bắt buộc phải đi tỵ nạn Cộng sản thôi !  
Ngày đi tìm Tự do của bổn nhơn là ngày 15 tháng 8 năm 1971, ngày gia đình nhỏ của tôi trở về Sài gòn sau 10 năm du học để phục vụ một quê hương đang chiến đấu để giữ Tự do, và cũng để đóng góp với toàn dân cùng bảo vệ cái Tự do của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, Tự Do Nhân Bản Dân Chủ. (Xin hãy chú ý giùm, chúng tôi gọi Việt Nam Cộng Hòa là một nước, một quốc gia,  chứ tôi không gọi là một chế độ hay một chánh thể).
Vì vậy tôi là người Việt của Quốc Gia Việt Nam.
Nhưng thưa, nếu tất cả quý anh quý chị, đều cho rằng « Nhờ có ngày 30 Tháng ,  mới

0 comments:

Post a Comment

Di sản VNCH: Nền văn minh đã thắng “chế độ man rợ”!

.

.