NGUYỄN HỌC TẬP
Dòng Máu Việt Nam Cộng Hòa
Saturday, 23 March 2013
ĐẠI NGHỊ CHẾ BỀN VỮNG, HIẾN PHÁP 1949 CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC
Saturday, March 23, 2013
No comments
I - Đại-nghị-chế
Nói đến Đai-nghị-chế
(Parlamentarisme), ý kiến thông thường chúng ta hay cho là một thể chế gần như
luôn luôn đặt quốc gia trong tình trạng
bấp bênh về định chế:
- Tổng-thống giải tán Quốc-hội;
- Quốc-hội bất tín nhiệm Chính-phủ
làm Chính-phủ bị tê liệt phải từ chức;
- Chính-phủ cũng có thể viện
cớ rằng đạo luật đang yêu cầu chấp thuận có tính cách khẩn cấp, nếu không được
chấp thuận có thể yêu cầu Tổng-thống giải tán Quốc-hội;
- Tổng-thống có thể giải tán Quốc-hội, thu hồi chức vụ của Thủ Tướng để tổ chức bầu
cử Quốc-hội mới, thành lập Chính-phủ mới
có lợi cho chính đảng của ông và Chính-phủ mới thân thiện hơn với cá nhân ông;
- các lực lượng trong Quốc-hội
cũng có thể toa rập nhau tố cáo Tổng-thống cố ý vi hiến và phạm pháp trước
Tòa-án Quốc-gia Thường-vụ cho Đế Quốc Đức (Staatsgerichtshof fuer das
Deusche Reich, theo Hiến-pháp Weimar 1919 Đức Quốc) hoặc trước Viện
Bảo-hiến Liên-Bang (BundesVerfassungsGericht, Bverf GE, theo Hiến Pháp 1949
CHLBĐ, điều 61, (I, II)...
Nói tóm lại, nhìn vào những gì chúng tôi vừa kể, Đai-nghị-chế là một thể
chế quốc gia loạn xạ, trong đó quyền lực nầy
tự do đã phá, đập đổ, chống báng quyền lực kia, làm cho quốc gia tê
liệt. Ít ra cảm tưởng đầu tiên của phần lớn chúng ta là vậy.
Có thật Đai-nghị-chế là một thể chế quốc gia loạn xa, thời Thập-nhị
Sứ-quân hay Tam-quốc-chí của các thế kỷ hiện đại không?
Đặt câu hỏi dưới hình thức khác: Có phải Tổng-thống-chế, thể chế quốc gia hiện tại của Hoa Kỳ là cách tổ
chức quốc gia hữu hiệu, vững bền và hoàn hảo mà các quốc gia trong tương lai,
trong đó dĩ nhiên có cả quốc gia của những người Việt không cộng sản, yêu
chuộng tự do, dân chủ và nhân bản cần phải nhằm đến như là mẫu mực để tổ chức
không?
Bài viết nầy người viết không có tham vọng trả lời một cách dứt khoát đúng
hay sai, mà là thu góp và trình bày đến qúy độc giả, nhứt là qúy vị đàn anh,
một ít tài liệu và ý kiến để cùng suy nghĩ cho tương lai đất nước.
II- Tổng-thống-chế.
1- Tổng-thống-chế trên thế giới
Văn bản Hiến-pháp đầu tiên tiêu biểu cho Tổng-thống-chế là Hiến-Pháp
Philadelphia 1787 của Hoa Kỳ. Từ đó
đến nay Tổng-thống-chế được áp dụng ở một số quốc gia trên thế giới:
a- một số quốc gia Châu Mỹ
La tinh,sau khi đã dành lại được độc lập khỏi chế độ thuộc địa của Tây Ban Nha, (trường họp duy nhứt, Ba
Tây, khỏi Bồ Đào Nha).
b- một số quốc gia Phi Châu,
sau Đệ Nhị Thế chiến,
c- một ít quốc gia Á Châu.
Thoáng nhìn , chúng ta có thể đi đến
kết luận sơ khởi là tất cả các quốc gia vừa được đề cập đến là những
quốc gia " kém mở mang" (LDC, Less Developed Countries), mà
đôi khi trong những bài có chủ đề về kinh tế, chúng tôi thích dùng thành ngữ "chậm
phát triển" (LDC, Last Developed Countries) hay "đang trên đà
phát triển" hơn là từ ngữ tiên khởi vừa kể.
Nêu lên nhận xét đầu tiên vừa kể, chúng tôi không có ý đánh thấp giá trị
Tổng-thống-chế của Hoa Kỳ, như là thể chế chỉ áp được cho các quốc gia
"chậm tiến, kém mở mang, chậm phát triển, đang trên đà phát triển",
mà là lưu ý quý độc giả đến việc không thành công trong công cuộc áp dụng
Tổng-thống-chế tại các quốc gia trên, do ảnh hưởng của các "yếu tố hoàn
cảnh địa phương" can dự vào :
- thiếu tinh thần đoàn kết quốc
gia, hậu quả của chính sách chia để trị của chính sách thuộc địa,
- "chậm tiến hay chậm phát
triển" còn có nghĩa là thiếu vốn đầu tư và phương tiện kỷ thuật, không
xử dụng hiệu năng và toàn diện nhân lực, "số vốn nhân thức" (human
capital ), thiếu nguyên liệu, trình
độ học vấn thấp, nạn mù chữ lan tràn...
Những "yếu tố môi trường địa phương" vừa kể làm cho việc
áp dụng Tổng-thống-chế không những không có kết quả mong muốn, mà còn đưa đến
nhiều việc vi phạm Hiến-pháp cũng như Luật-pháp nặng nề,
- vi phạm nhân phẩm và dân chủ
trầm trọng,
- truất phế đảo chánh và nội chiến
đẩm máu xảy ra hằng ngày, đưa nhiều quốc gia đến chế độ độc tài và quân đội trở
thành độc tôn, thao túng lấn áp chính trị .
- Tổng Thống chế ở Châu Mỹ La
Tinh.
Trừ truờng hợp Uraguay, một đôi khi
được lãnh đạo bởi một Hội-đồng Chỉ-đạo (Directoire) như thể chế của Thụy
Sĩ, tất cả các quốc gia khác đều có
- một vị Tổng-thống dân cử do phổ
thông đầu phiếu,
- Quốc-hội Lưỡng-viện,
- Tư-pháp độc lập.
Và như trên chúng ta vừa đề cập, chính các "yếu tố môi trường địa
phương" đã luôn luôn tạo ra tình trạng bất ổn:
- đảo chánh, chỉnh lý, cách mạng
là chuyện xảy ra như cơm bữa hay như "lá rụng mùa thu",
- các văn bản Hiến-pháp được vất
vào sọt rác, hay cắt xén sửa đổi cho "hợp tình hợp lý " đối
với giới lãnh đạo đương quyền hay giới quân đội vừa đảo chánh thành công cướp
chính quyền, biến quốc gia dân chủ được
* "quản lý " bằng
Nhà-nước Độc-tài (Á-căn-đình) của Tổng-thống Peron;
* Cuba của "đồng chí vĩ đại" Fidel Castro;
* Chí Lợi sau một thời
gian ồn định, Tổng-thống Allende năm 1973 bị
Pinochet đảo chánh cướp chính
quyền rồi trở thành độc tài, độc tôn , thủ tiêu hàng chục ngàn các thành phần
bất đồng chính kiến cho đến những năm gần đây;
* Nicaragua, cho mãi đến năm 1987 mới ban
hành được Hiến-pháp, sau khi nhóm khuynh
tả "Sandinista" tẩy chay gia đình Somoza từ năm 1979,
đã cai trị quốc gia từ hơn vài chục năm như Từ Hải trong Truyện Kiều "Dọc
ngang nào biết trên đầu có ai" (Legibus solutus). Nhưng cũng từ thời
điểm đó, Nicaragua vẫn còn đang nội chiến đến nay giữa nhóm Sandinista và nhóm
võ trang Contras.
Tổng-thống-chế của các quốc gia Mỹ-châu La-tinh có hai đặc tính chung:
a- Vị Tổng-thống ở địa vị và
quyền hạn trổi vượt;
b- Quân đội đóng vai trò chính
trị trọng yếu trong cộng đồng quốc gia.
Địa vị và vai trò trổi vượt của Tổng-thống được thể hiện theo thực tế hơn
là do Hiến-định hay Luật-định.
Nhiệm vụ soạn thảo ra dự án luật, nghị định cũng như quyền phủ quyết được hành xử thực tế giao cho
Tổng-thống , Bộ-trưởng hơn là đặc quyền
của Quốc-hội.
Thẩm quyền của Tổng-thống nói riêng và Chính-phủ nói chung được tăng cường
do các yếu tố môi sinh địa phương thực tiển hơn là do Hiến-pháp và Luật-pháp
quy định trên thuyết lý.
Trình độ tổ chức xã hội và mức sống thấp kém, nạn mù chữ lan tràn, phương thức
tổ chức sơ đẳng và yếu kém của các chính đảng, thái độ bảo thủ kéo dài trên mấy
mươi năm của hàng giáo phẩm...,
tất cả những yếu tố đó là "những yếu tố môi sinh địa phương "
thuận lợi giúp tăng cường cho cá nhân
của Tổng-thống những đặc tính trổi vượt, cho quyền hạn của Tổng-thống ưu tiên và vượt
lên trên các cơ chế chính trị khác.
Thêm vào đó, quân đội cũng góp phần vào việc "thượng đẳng hóa"
(sublimer) vai trò và quyền hạn của Tổng-thống .
Với vai trò được "thượng đẳng hoá " như vậy, việc Tổng-thống
cũng như Chính-phủ không có khuynh hướng
trở nên độc tài, độc tôn và tự tôn là
chuyện lạ.
Đối lập dường như không còn nữa, hay có cũng chẳng có khả năng đối kháng được
gì. Quyền hành chiếm hữu và được quân đội bảo trợ để tồn tại vĩnh viễn.
Bầu cử có được tổ chức cũng chỉ là
những hình thức rỗng tuếch, tự do chính trị
chỉ còn là những cách nói vô nghĩa.
Các diển biến trong những năm gần đây ở các quần đảo Caraibie, ai trong
chúng ta cũng nghe nói đến từ Trujillo đến Cộng Hoà San Domingo, quyền bính cha truyền con nối
của họ tộc Duvalier ở Haiti...
- Tổng-thống-chế ở Phi-châu,
Một vài quốc gia Phi-châu với Tổng-thống-chế tổ chức được cuộc sống dân chủ
khả quan, như Algérie, Tunisie .
Nhưng những cuộc đảo chánh, truất phế, nội chiến, tranh giành có tính cách
bộ lạc ở Congo, Ruanda, Tanzania, Mozambico, Sierra Leone, Etiopia, Somalia,
Yehmen..., các quốc gia theo
Tổng-thống-chế, là những tin tức gần như thường ngày, ai trong chúng ta
cũng nghe nói đến. Những "yếu tố môi sinh địa phương" được kể
trên, cùng với ảnh hưởng văn hoá của các mẫu quốc thuộc địa có thể cắt nghĩa
cho chúng ta tình trạng bất ổn ở các quốc gia Phi-châu Tổng-thống-chế.
Các quốc gia Phi-châu nói tiếng Pháp, không những áp dụng Tổng-thống-chế theo tinh thần Hiến-pháp Philadelphia
của Hoa Kỳ, mà còn chịu ảnh hưởng sâu đậm tinh thần Hiến-pháp 1958 của De
Gaulle, tập trung vai trò và quyền lực của Vị Nguyên-thủ Quốc-gia và Vị Lãnh-đạo Chính-quyền vào một cá nhân duy
nhất, tức Tổng-thống.
Vị Tổng-thống được trực tiếp tuyển chọn do phổ thông đầu phiếu và có thể
được tái chọn vô hạn định. Với vị Tổng-thống "toàn năng" như
vừa kể, dĩ nhiên là quyền lập pháp của Quốc-hội sẽ bị hạn chế lại và Hành-pháp
"tự tung, tự tác " là điều có thể tưởng tượng được, nhứt là vị
Tổng-thống
- vừa là Nguyên-thủ Quốc-gia,
- vừa Lãnh-đạo Hành-pháp,
- vừa là Tổng Tư-lệnh Tối-cao
Quân-đội.
- Trong trường hợp khẩn cấp, Vị
Tổng-thống "toàn năng" được giao phó cho mọi quyền hành để tùy
cơ ứng biến:
* "Trong trường hợp các
cơ chế cộng hoà, nền độc lập của quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc việc thực
hành các nghĩa vụ quốc tế bị đe dọa nghiêm trọng và trực tiếp cũng như hoạt động các cơ quan hiến định bị gián đoạn,
Tổng-thống Cộng-hoà sẽ áp dụng các phương thức cần thiết do các hoàn cảnh trên đòi hỏi, sau khi tham
khảo ý kiến của Thủ tướng, của các vị Chủ-tịch Hạ-viện và Thượng-viện" , theo
tinh thần của Hiến Pháp 1958 Pháp Quốc.
Vẫn theo Hiến-pháp 1958 hiện nay của Pháp quốc,Tổng-thống có quyền triệu
tập trưng cầu dân ý và giải tán Hạ Viện
. Tổng-thống được đặt ở một địa vị quyền năng hơn Hạ-viện, một viện
Quốc-hội dù do dân cử
phổ thông đầu phiếu cũng bị tê
liệt.
Một số quốc gia Tổng-thống-chế Phi-châu "sao y bản chính"
các điều khoản Hiến-pháp 1958 của Pháp quốc dành riêng cho vị Tổng-thống Pháp .
Dĩ nhiên những quyền lực "toàn
quyền vô hạn" nằm trong tay Tổng-thống Charles De Gaulle và những vị
Tổng-thống kế tiếp của Pháp chắc chắn có
tầm vóc và ý nghĩa khác với ý nghĩa, tầm vóc và hậu quả khi được đặt vào tay
một vị Tổng-thống của một quốc gia "chậm tiến hay đang trên đà phát
triển" cùng với ảnh hưởng các "yếu tố môi sinh địa phương "
cộng hưởng.
Các quốc gia Phi-châu nói tiếng Anh có khuynh hướng gần như bất khả kháng thiên về Tổng-thống-chế theo tinh
thần Hiến-pháp Philadelphia của Hoa Kỳ, cộng với ảnh hưởng tinh thần "thượng
năng" của đa số theo tinh thần "đa số tuyệt đối"
trong thể thức bầu cử đơn danh của Anh-quốc.
Do đó Tổng Thống Chế của nhiều quốc gia Phi-châu nói tiếng Anh được gắn liền với chính đảng
"nặng ký ", nếu không phải là chính đảng duy nhất. Tổng-thống
- vừa là vị Nguyên-thủ Quốc-gia,
- vừa là Nhân-vật Lãnh-đạo "toàn
quyền" của Hành-pháp, có quyền hành tối thượng hơn cả Quốc-hội
- và chính đảng của ông là chính
đảng "nặng ký ", nếu không phải là duy nhất để thiết định và
điều chỉnh chính hướng quốc gia.
Chúng ta có thể "mường tượng" được mức độ dân chủ của quốc
gia vừa kể và những "uẩn ức " tiềm ẩn có thể bùng nổ thành
cách mạng, đảo chánh, chỉnh lý, nội chiến đang âm ỷ bên dưới.
- Tổng-thống-chế ở một vài quốc
gia Á-châu.
Cũng như ở Mỹ-châu La-tinh và Phi-châu, Tổng-thống-chế không gặt hái được
những thành quả mong muốn tại Á-châu.
- Nam Hàn với Hiến-pháp
cuối cùng được ban hành năm 1980 cùng với những cuộc biểu tình, đình công đẩm
máu của sinh viên và công nhân chống Chính-phủ, ai trong chúng ta cũng nghe
thấy.
- Phi-luật-tân vói
Hiến-pháp 1973, bị bãi bỏ sau khi Tổng-thống Marcos bi truất phế năm 1986 cùng
với nền cai trị trên hai mươi năm độc tài của ông, cho đến nay ( bài chúng tôi
đang viết ở năm 2000), nữ Tổng Thống Corazón Aquino chưa ban hành nổi một Hiến
Pháp mới ( vì không theo dỏi được tình hình chính trị của Phi-luật-tân, xin quý
vị thức giả sửa giúp chúng tôi những tin tức liên hệ cập nhật hơn. Xin đa tạ).
- Tại Nam Dương vừa qua các
cuộc biểu tình đẩm máu của sinh viên giải phóng khỏi phương thức cai trị độc
tài mấy chục năm của Tổng-thống Suharto.
- Ở Miến Điện, quân đội
đang "xữ lý thường vụ " quyền hành, sau khi đảo chánh, cất
chức Nữ Tổng Thống đầu tiên của họ.
- Đối với nền Tổng-thống-chế của Việt Nam, ai trong chúng ta cũng biết, chúng
tôi xin được khỏi dong dài.
Cuộc đời của vị Tổng-thống Việt Nam Cộng-hoà đầu tiên là Ngô Đình Diệm đã
bị kết thúc năm l963 trong máu và từ đó tình trạng bất ổn kéo dài trên đất nước
với đảo chánh, chỉnh lý, truất phế, phe phái, tranh giành với Ủy-ban
Lãnh-đạo Quốc-gia, Ủy-ban Hành-pháp Trung-ương, Ủy ban Chỉnh Lý cùng vói
các chức vị Tổng-thống, Phó Tổng-thống, Thủ-tướng, Phó Thủ-tướng .v.v...cho đến
ngày Cộng sản chiếm trọn miền Nam.
Tổng Thống Chế không thành công ở Châu Mỹ La-tinh, không thành công ở
Phi-châu, không thành công ở
Á-châu và Việt Nam.
Nói đến "không thành công" của một thể chế chính trị là nói
đến đất nước bất ổn, nghèo đói, ngu dốt,
đảo chánh, lật đổ, cướp chính quyền đẩm máu và chết chóc.
Tất cả những điều đó không có nghĩa là Tổng-thống-chế của Hoa Kỳ là một thể
chế không có giá trị. Bởi lẽ người Mỹ đã và
đang thành công trên hai trăm năm nay trong việc ổn định và kiến thiết
đất nước.
Việc không thành công của các quốc gia "chậm tiến" trong
việc áp dụng Tổng-thống-chế là do những "yếu tố môi sinh địa phương",
như chúng tôi đã có lần đề cập.
Nhưng ai có thể bảo đãm rằng chúng ta có thể áp dụng một lần nữa
Tổng-thống-chế cho Việt Nam, bởi lẽ chúng ta đã có những giải pháp thỏa đáng
đối với các "yếu tố môi sinh địa phương" vừa kể?
Gương của các quốc gia Tổng-thống-chế
Châu Mỹ La-tinh, gương của các quốc gia Tổng-thống-chế Phi-châu, Nam
Hàn, Phi-luật-tân, máu của Tổng-thống Ngô Đình Diệm, của Cố-vấn Ngô Đình Nhu,
của bao nhiêu đồng bào khác đã đổ, đất nước rơi vào tình trạng bất ổn một cách
vô ý thức của những ai có trách nhiệm biến thành cơ hội thuận tiện cho Cộng sản chiếm trọn là những câu hỏi lớn cần
phải được đánh giá cho những quyết định lựa chọn trong tương lai.
III - Đại Nghị Chế.
A - Đại-nghị-chế
trong Hiến-pháp Weimar và
Hiến-pháp Bonn 1949.
Lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ khác với
tiến trình dân chủ hoá đất nước của các quốc gia Âu Châu. Cuộc tranh đấu dành
quyền tự trị đối với mẫu quốc Anh của 13 Tiểu-bang thuộc địa, thoạt tiên không
có gì khác hơn là tranh đấu yêu sách để
được hưởng những gì mà người công dân Anh quốc được hưởng ở tại mẩu quốc, theo
tinh thần của các văn bản "Bill of Rights, Magna Carta, Habeas Corpus...".
Hoa kỳ cần có một Chính-phủ trung ương mạnh, không những để tiếp tục lãnh
đạo cuộc tranh đấu dành độc lập khỏi chế độ thuộc địa của mẩu quốc Anh, mà còn
là trung tâm của sự hợp nhất của 13 Tiểu-bang cựu thuộc địa với nhau để thành
lập một quốc gia mới .
Trái lại đối với người dân Âu-châu lục địa, lịch sử xây dựng thể chế dân
chủ đất nước họ là lịch sử cách mạng, lật đổ..., và biến chuyển từ thể chế
quân chủ độc tôn, lãnh chúa và bạo chúa độc tài, tự tôn thành thể chế cộng hoà
dân chủ hay quân chủ lập hiến.
- Cách-mạng lật đổ và đạp đổ như
Cách Mạng 1789 của Pháp,
- Cách-mạng lật đổ như Cách-mạng
9.11.1918 của Đức hạ bệ nền quân chủ của Hoàng Gia Hohenzollern.
- Lấn áp và áp đặt dần dần như hành động của dân chúng Anh quốc đối với
Hoàng-gia: "no taxation without representation" (nếu Nhà Vua
không cho thêm đại diện của làng xã vào Đại-hội đồng, dân chúng không đồng
thuận trả thuế thêm nữa cho Hoàng-gia);
- hoặc cuộc lật đổ bằng bạo động
của dân chúng Anh đối với triều đại Tudor (1485-1603) và Stuart (1603-1714).
Đó là hai phương thức mà các quốc gia Âu-châu biến cải quốc gia họ từ
Quân-chủ hay Lãnh-chúa độc tôn đến thể chế dân chủ hiện đại.
Người dân Âu-châu chỉ có thể yên tâm, nếu những ai hành xử quyền lực quốc
gia không thể đi ra ngoài lãnh vực và thời gian hạn định được Hiến-pháp xác
nhận (tính cách bảo chứng nguyên thủy của Hiến-pháp hay "Quốc-gia
Pháp-trị").
Đàng khác qua các kinh nghiệm mà họ đã phải trả bằng máu và nưóc mắt, để đạt được nền dân chủ hiện nay, người dân
Âu-châu sẽ không dễ gì giao quyền bính quốc gia tập trung vào tay một người vừa
là Nguyên-thủ Quốc-gia, vừa Lãnh-đạo Hành-pháp, đôi khi có cơ năng chèn ép cả
Lập-pháp.
Hiểu được tiến trình lịch sử dân chủ
hoá và tâm thức đó, chúng ta hiểu được tại sao các quốc gia Âu-châu, nhứt là
Tây-âu, không một quốc gia nào chọn Tổng-thống-chế làm thể chế tổ chức
chính quyền cho quốc gia mình .
Đối với người Âu-châu,
- vị trí và quyền hạn của Vị
Nguyên-thủ Quốc-gia phải nằm trên bình diện và lãnh vực khác đối với vị
Lãnh-đạo Hành-pháp và của cả Chính-phủ.
- Kế đến nhu cầu cũng như ý
kiến, ước vọng của người dân, sở hữu chủ
của quyền lực tối thượng quốc gia (dân chủ: chủ quyền tối thượng của quốc gia
thuộc về dân), phải luôn luôn hiện diện và làm định hướng cho cuộc sống quốc
gia. Nhu cầu, ước vọng và ý kiến đó luôn luôn được hiện diện do các dân biểu,
nghị sĩ là những người đại diện được dân bầu, thay mặt họ để phát biểu, diễn tả
và kiểm soát sao cho hoạt động của quốc gia nói chung và của Hành-pháp nói
riêng không đi ra ngoài chính kiến, lãnh vực và thời gian ước định của dân
chúng. Do đó một chính quyền vừa được bổ nhiệm phải tuyên thệ trung thành trước
Quốc-hội:
- "Thủ tướng Chính phủ và
các vị Bộ trưởng, trước khi nhậm chức, phải tuyên thệ trong tay Tổng-thống
Cộng-hòa" ( Hiến Pháp 1947 Ý quốc).
- "Chính phủ phải được sự tín
nhiệm của cả hai Viện Quốc-hội...
"Nội trong mười ngày sau khi được bổ nhiệm, Chính-phủ phải trình diện
trước quốc Hội để được Quốc-hội biểu quyết tín nhiệm..." ( Hiến Pháp 1949 Công hoà Liên Bang Đức ) .
Và cũng trong cùng một điều khoản, nếu 1/10 dân biểu Quốc-hội đồng thuận,
Quốc-hội có thể quyết định duyệt xét thể thức bất tín nhiện Chính-phủ và buộc Chính-phủ phải từ chức .
Chúng tôi vừa trích dẫn một vài điều khoản của Hiến-pháp 1947 hiện hành Ý
quốc. Đó cũng là ý nghĩa của các điều khoản tương tợ của các Hiến-pháp CHLB.
Đức, Pháp cũng như Hiến-pháp của hầu hết các quốc gia Âu-châu khác. Chúng tôi
cũng vừa nêu lên một vài tư tưởng then chốt của nền Đại-nghị-chế trong các Hiến-pháp trên.
Và như ở những dòng đầu của bài nầy, chúng tôi có đề cập đến tính cách bất
ổn của phương thức tổ chức quốc gia theo Đại-nghị-chế.
- Có lẽ kỷ lục bất ổn định của các
cơ chế quốc gia, không quốc gia Âu-châu nào vượt thắng nổi Ý quốc . Tính đến năm 1997, chúng tôi đang
viết cho quý độc giả những dòng nầy năm 2000, sau 50 mươi năm Hiến-pháp Ý được
ban hành, nước Ý đã có hơn 50 Chính-phủ. Như vậy tính trung bình, các
Chính-phủ Ý đều chết non chưa đầy một tuổi. Với nền Hành-pháp bất ổn như vậy,
quốc gia khó lòng mà thực hiện được những đồ án phát triển theo kế hoạch dự
tính được. Người ta quy trách cho thể thức bầu cử theo đa số tỷ lệ của Ý, làm
cho chính trường Ý lạm phát chính đảng (hiện Ý có đến 41 chính đảng trong
Quốc-hội). Người ta đang nghĩ đến các phương thức cải cách.
- Một trong những quốc gia có tổ
chức quốc gia ổn định nhứt trong các nước Đại-nghị-chế là Anh quốc, nhờ
thể thức đầu phiếu đơn danh và theo hệ thống đa số tuyệt đối. Với thể
thức "Ai nhiều phiếu thì chiếm ghế" (First - past the post),
chính trường Anh quốc chỉ gồm có hai đảng (đảng thắng cử đương quyền và đảng
đối lập). Đảng thắng cử chiếm đa số trong Quốc-hội và cũng là đa số "đồng
thuận tín nhiệm Chính-phủ cho đến hết nhiệm kỳ
". Thành phần đa số ủng hộ Chính-phủ không phải là đa số hợp thành
liên đảng, nên chuyện "nửa đường gẫy gánh sang ngang" hay "lừa thầy phản bạn" làm
cho Chính Phủ "gẫy gánh giữa
đường" là điều khó có thể xảy ra.
- Ngoại trừ Anh quốc, hầu hết các
quốc gia Đại-nghị-chế Âu-châu đều theo thể thức bầu cử theo đa số tỷ lệ
(majorité proportionelle). Họ cho
rằng đa số tuyệt dối (magiorité absolue) và đơn vị bầu cử đơn danh
(collège uninominal) đưa dến tổ chức quốc gia ổn định, nhứt là Hành-pháp
được vững chắc (như đã vừa đề cập ở trên), nhưng là phương thức bầu cử không
làm bộc phát được hết nguyện vọng của mọi từng lớp dân chúng trong cộng đồng
quốc gia. Có chăng nền dân chủ chỉ được thực thi ở lần bầu cử đầu tiên. Từ đó
trở đi, hai chính đảng chiếm đa số (chính đảng đương quyền và chính đảng đối
lập) hành xử một loại hình thức "độc tài dân chủ " (dictature
démocratique).
Các chính đảng thiểu số (cũng là những chính đảng hợp hiến, cũng có quyền
nói lên ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu của thành phần dân chúng trong cộng đồng
quốc gia) không còn có cách nào khác phát
biểu ý kiến nếu không hoà tan vào một
trong hai chính đảng đa số, bị các chính đảng đa số "cả vú lấp miệng
em" .
Đối với người Âu-châu, nếu đã tuyên bố rằng quốc gia được tổ chức trên nền
tảng thể chế dân chủ, thì trong quốc gia không ai là người "thấp cổ bé
miệng":
- "Bổn phận của quốc gia
Dân-chủ Cộng-hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và
xã hội (cả chính trị, luật pháp, y tế, giáo dục...) là những chướng ngại vật,
giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép họ phát triển
hoàn hảo chính bản thân mình và tham gia
thực sự vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" ( Điều 3, đoạn
2 Hiến Pháp 1947 Ý quốc) .
Đó là tư tưởng và cũng là mục đích tổ chức quốc gia của người Âu-châu. Thể thức bầu cử theo đa số tỷ lệ và
tổ chức quốc gia theo Đại-nghị-chế có nhưng bất toàn của nó, như đã nói, nhưng
là phương thức dân chủ tôn trọng bình
đẳng và nhân bản.
- Nhiều cách thức được các quốc
gia Âu-châu suy tư và áp dụng để giảm thiểu những bất toàn của đa số tỷ lệ và
Đại-nghị-chế. Nước Pháp với thể thức bầu cử hai lần và "Bán
Tổng-thống-chế" (Semi-Présidentialisme). Một số trường hợp lủng củng
trong cuộc "sống chung " (cohabitation) giữa Tổng-thống và
Thủ-tướng, nhứt là trong trường hợp Tổng-thống và Thủ-tướng thuộc hai màu cờ
đảng phái khác nhau. Nhưng tổ chức quốc gia Pháp không phải là không tạo được
một cuộc sống điều hòa.Và Pháp quốc hiện nay không phải là một quốc gia "chậm
tiến, kém mở mang".
Nhưng điều mà chúng tôi muốn đề nghị đến quý bạn đọc, không phải là trường
hợp "khá thành công" của Pháp, mà là phương thức tổ chức ổn
định của Cộng-hoà Liên-bang Đức hiện nay, sau kinh nghiệm không
mấy tốt đẹp của nền Đệ-nhất Cộng-hoà với Hiến-pháp Weimar.
1 - Đệ Nhất Cộng Hoà Weimar.
Tiếp theo những cuộc tranh đấu, xuống đường xôi động, ngày 09.11.1918, ông
Tổng-thư-Ký Philipp Schneidemann tuyên bố cáo chung nền Quân-chủ Hohenzollern
và thiết lập thể chế Đệ Nhất Cộng-hoà
Đức quốc.
Ngày 12.11.1918 Hội-đồng các Ủy-ban
Đại-chúng (Rat der Volksbeauftragen) tuyên
bố:
- "Mọi cuộc bầu cử các
Hội-đồng Đại-diện phải được thực hiện trên nền tảng một lá phiếu bình đẳng,
kín, trực tiếp, phổ quát của mọi công
dân đến 20 tuổi trưởng thành, của cả hai phái tính và theo các nguyên tắc tỷ lệ".
Nguyên tắc bầu cử theo đa số tỷ lệ được áp dụng lần đầu tiên trong việc bầu
Quốc-hội Lập-hiến 30.11.1918 để chọn 423 đại biểu thuộc 37 đơn vị bầu cử. Mỗi
đơn vị được cử từ 6 đến 17 đại biểu, theo hệ thống danh sách cố định (hệ
thống Hondt) và không tái dụng phần còn lại của số phiếu các danh sách
không có đại biểu được trúng cử.
Nguyên tắc bầu cử theo đa số tỷ lệ được Hội-đồng các Ủy-ban Đại-chúng tuyên
bố trên, đã được Hiến-pháp Weimar 1919 chấp thuận ở điều 22 .
Tiếp đến, một đạo luật 27.04.1920 ra lệnh bãi bỏ hệ thống Hondt (danh sách
cố định: mỗi chính đảng đưa ra danh sách ứng cữ viên theo thứ tự được sắp xếp,
cử tri không được bầu cho ứng cử viên mình thích, mà phải dồn phiếu cho chính
đảng. Ai đứng đầu danh sách sẽ được trúng tuyển trước, số phiếu còn lại sẽ được
chia cho các ứng viên theo thứ tự kế tiếp...).
Ngoài ra, tinh thần bình đẳng dân chủ còn được thể hiện chính xác hơn qua
việc "vớt thêm" các số phiếu dành cho các ứng viên không trúng
tuyển ở các đơn vị địa phương, cộng thành một danh sách toàn quốc: tổng số phiếu
được chia cho con số 60.000 để chọn thêm các ứng viên không được trúng cử tại
đơn vị địa phương. Hiến-pháp Weimar đặt giới hạn cho việc "vớt thêm"
là một chính đảng không thể được tham dự vào danh sách "vớt thêm
", nếu có ứng viên đã trúng
cử ở địa phương .
Đạo luật 27.04.1920 (bãi bỏ danh sách cố định, hệ thống Hondt) cũng
như việc "vớt thêm" số
phiếu thành danh sách quốc gia, cho thấy ý chí thực hiện bình đẳng dân chủ thực
hữu của người dân Đức nói riêng và người dân Âu-châu nói chung, theo tinh thần
"...lá phiếu bình đẳng, trực tiếp, phổ quát..." (Hội-đồng các
Ủy-ban Đại-chúng).
Lật đổ thể chế Quân-chủ để thiết lập một thể chế Dân-chủ Cộng-hoà không có
nghĩa chỉ là tuyên bố một hình thức quốc gia khác biệt, mà nêu lên một định chế
pháp trị, được thể hiện trước tiên bằng Hiến-pháp, để đáp ứng những nhu cầu của
hình thức quốc gia mới và đưa ra những phương thức giải quyết.
Hiến-pháp Weimar 1919 của nước Đức tự ý thức được những điều đó và là một
trong những Hiến-pháp khuôn mẩu cho thể chế các quốc gia dân chủ tự do Âu Châu
.
Ngoài ra điểm son dân chủ bình đẳng trong thể thức bầu cử chúng
ta vừa nêu lên ở trên, Hiến-pháp Weimar còn cung cấp cho Hiến-pháp các quốc gia
Âu-châu khác quan niệm chính trị mới mẽ trong tổ chức quốc gia.
Trước Hiến-pháp Weimar, các quyền căn bản của con người đều được các thể
chế quốc gia quan niệm dưới hình thức tiêu cực, tức là "tự do khỏi bị
quyền lực quốc gia bó buộc" .
Hiến-pháp Weimar không những đặt các quyền con người trong phạm vi bảo vệ
con người "khỏi những vi phạm vừa kể" mà quan niệm đặt những
nền tảng cơ bản cần thiết để con người
có thể đạt được những mục đích kinh tế - xã hội từ phía tổ chức quốc gia cũng
như từ phía những chủ thể công cộng,
đoàn thể và cá nhân khác.
Tinh thần của Hiến-pháp Weimar 1919 là định hướng cho quan niệm "dân
chủ thực hữu" Hiến-pháp 1947 của Ý mà chúng tôi đã trích dẩn ở trên:
-
"Bổn phận của Nền Cộng-hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về
phương diện kinh tế và xã hội,là những chướng ngại vật cản trở thực sự tự do và
bình đẳng của người dân..." .
Tiếp theo tinh thần "dân chủ thực hữu" về phương diện kinh
tế vừa kể, Hiến-pháp Weimar đề cập đến "Hội-đồng Kinh-tế
Quốc-gia" sẽ được thiết lập để
biến mục đích kinh tế của người dân thành khả thi. Hội-đồng Kinh-tế Quốc-gia
vừa kể được Hiến-pháp 1947 nước Ý lấy lại và khai triển thêm:
- "Hội-đồng Kinh-tế và
Lao-động Quốc-gia gồm có, tùy theo thể thức được luật pháp ấn định, những thành
phần có kinh nghiệm và đại diện các tổ chức sản xuất tùy theo lượng số liên
quan đến tầm mức quan trọng và phẩm chất của họ. Hội-đồng là cơ quan cố vấn cho
các viện Quốc-hội và Chính-phủ đối vối lãnh vực và tùy theo nhiệm vụ được luật
pháp quy trách cho. Hội-đồng có thẩm quyền sáng kiến lập pháp và có thể cộng
tác trong việc soạn thảo dự án luật về kinh tế và xã hội theo nguyên tắc và
trong giới mức được luật pháp quy định" .
Đọc qua hai tư tưởng về chính hướng thực hiện dân chủ vừa kể, cũng như
những điều khoản kế tiếp của Hiến-pháp Weimar, ai cũng có thể thấy được mối lo
lắng của những nhà soạn thảo Hiến-pháp lúc đó là làm thế nào đem lại nền dân
chủ thực sự và tránh các nguy cơ độc tài, có thể phát hiện ngay cả trong thể
chế dân chủ.
Như trên chúng ta đã có dịp đề cập, một trong những phương thức tránh độc
tài là áp dụng phương thức Đại-nghị-chế
. Nguyên lý nền tảng đó được Hiến-pháp Weimar xác nhận:
- "Vị Thủ Tướng và các Bộ Trưởng phải được
sự tín nhiệm của Hạ-viện để hành xử các nhiệm vụ của mình" .
Đó là nguyên lý chung cho các thể chế Đại-nghị. Kế đến mối lo lắng của các
vị soạn thảo Hiến-pháp là làm thế nào có
thể luôn luôn đặt Hành-pháp trong vòng kiểm soát, tránh mọi hành động "lộng
hành" của quân chủ và lãnh chúa độc tài trong qúa khứ.
Hiểu được tâm trạng đó, chúng ta nhận thức được tại sao sau khi xác định vị
Nguyên-thủ Quốc-gia được tuyển chọn do phổ thông đầu phiếu ,
Hiến-pháp Weimar quy trách cho Tổng-thống có quyền
- "bổ nhiệm và cất
chức Thủ-tướng và các Bộ-trưởng",
như là quyền tự lập của Tổng-thống.
Còn nữa, Chính-phủ có thể bị Hạ-viện lật đổ vô điều kiện. Và với 2/3 số dân
biểu đồng thuận, Hạ-viện cũng có thể triệu tập trưng cầu dân ý để thu hồi quyền
hạn Tổng-thống trước nhiệm kỳ .
Điều đó cho thấy rằng các vị soạn
thảo Hiến-pháp Weimar nói riêng và dân chúng Đức nói chung hoàn toàn đặt
niềm tin của họ vào Quốc-hội như là nền tảng bảo chứng chống mọi độc tài,
bất cứ từ đâu đến, từ Hành-pháp hay từ Tổng-thống cũng vậy.
Trong trường hợp truất nhiệm Tổng-thống của điều 43 vừa kể, Hạ-viện giao
lại cho dân chúng giải quyết sự tranh chấp giữa Tổng-thống và Quốc-hội cho thấy
tinh thần dân chủ của dân Đức sát gần với tinh thân dân chủ của Hoa Kỳ hơn là
tinh thần "jacobin" của Pháp.
Nhưng nếu tinh thần dân chủ của Hiến-pháp Philadelphia Hoa Kỳ tạo ra hệ
thống giới hạn "Kiểm soát và cân bằng" (Checks and balances):
các cơ chế hiến định quốc gia kiểm soát và giới hạn lẫn nhau, nhưng mỗi
cơ quan có khả năng hành xử quyền bính trong lãnh vực của mình trong
khoảng một thời gian hạn định, trái lại
trong Hiến-pháp Weimar, các cơ chế hiến định của quốc gia không
những bị giới hạn tương quan nhau, mà cơ
quan nầy có thể bị cơ quan khác gián đọan hẳn hoạt động bằng cách bãi
nhiệm
trước định kỳ:
- Tổng-thống bị dân chúng bãi
nhiệm qua cuộc trưng cầu dân ý do Hạ-viện triệu tập;
- Thủ-tướùng và các vị Bộ-trưởng,
do Tổng-thống tự quyết định lúc nào cũng được hoặc do Hạ-viện bỏ phiếu bất tín
nhiệm;
- Hạ-viện có thể bị Tổng Thống
giải tán tùy lối suy tư của ông ,
- trái lại Hạ-viện cũng có thể truất phế Tổng-thống qua cuộc trưng cầu
dân ý .
Qua những điều vừa duyệt xét qua,
chúng ta có thể tưởng tượng được tình trạng bất ổn của các cơ chế quốc gia. Mục
đích của Hiến-pháp là làm thế nào ngăn chận kịp thời mỗi khi một cơ quan vừa tỏ
ra khuynh hướng độc tài, "tự tung tự tác".
Nhưng thiện ý "ngăn chận kịp thời" đó là cơ hội cho các
khuynh hướng đấu tranh chính trị lợi dụng"đập đổ " những gì
không thuộc chính kiến của họ.
Rất tiếc Hiến-pháp Weimar không tiên liệu được những lạm dụng đó, nên không
nêu ra một điều khoản nào để ngăn chận. Và đó là trường hợp được đảng "Đức-quốc-xã"
(Nationalsozialist) và đảng Cộng sản tha hồ đập đổ, truất phế, mà không hề
có ý liên kết nhau để hổ trợ một Chính-phủ vững mạnh, chỉ vì họ không tán đồng
thể chế dân chủ tự do mà Hiến-pháp Weimar đề xướng. Các cơ chế quốc gia một
phần lớn bị tê liệt vì vậy.
Còn nữa điều 59 của Hiến-pháp Weimar cho phép Hạ-viện có quyền đặt trong
tình trạng tố giác Tổng-thống, Thủ-tướng và các Bộ-trưởng trước Tối-cao
Pháp-viện trong trường hợp vi phạm Hiến-pháp hoặc Luật-pháp quốc gia một các
gian manh .
Một trong những điểm nổi bậc của Hiến-pháp Werimar là những trường hợp
thường xuyên nhờ đến sự can thiệp của thể thức trưng cầu dân ý:
- Một đạo luật bị Hạ-viện chống
đối, Tổng-thống có thể can thiệp bằng cách triệu tập trưng cầu dân ý để dân chúng quyết định .
- Một phần mười (1/10) dân chúng có
quyền bầu cử, có thể đệ trình để tổ chức cuộc trưng cầu dân ý. Trưng cầu dân ý
sẽ được bãi bỏ, nếu dự án luật được Hạ Viện đồng thuận biểu quyết không sửa đổi
.
- Nếu một phần ba (1/3) dân biểu
Hạï-viện quyết định ngưng công bố một đạo luật,1/20 dân chúng có quyền bỏ phiếu có thể đề nghị trưng cầu dân ý .
- Tổng-thống có quyền triệu tập trưng cầu dân ý, trong trường hợp có sự bất đồng ý kiến giữa Hạ-viện và
Thượng-viện về một đạo luật được Hạ-viện bỏ phiếu tán đồng .
- Tổng Thống có độc quyền triệu tập
trưng cầu dân ý về ngân sách dự đoán
cũng như đối với các đạo luật về thuế vụ .
Qua những điều khoản đó, chúng ta
hiểu được mối lo lắng của những vị soạn thảo Hiến-pháp Weimar : thể chế dân chủ
của Cộng-hoà Dân-chủ Weimar phải thể hiện thực sự một thể chế, trong đó người
dân có thực quyền bày tỏ ý kiến, hướng dẫn chính kiến và can thiệp hữu hiệu vào
các hoạt động quốc gia. Và không có hình thức nào hữu hiệu hơn là người dân
đứng ra can thiệp trực tiếp qua các phiên triệu tập trưng cầu dân ý.
Đàng khác có lẽ vì quá đặt trọng tâm vào
việc người dân "phải còn nắm thực quyền" trong việc
điều khiển quốc gia mà các vị soạn thảo Hiến-pháp Weimar đã quên đi những yếu
tố quan trọng khác trong đường hướng tổ chức xứ sở.
Đó là thể thức dân chủ đại diện có thể được điều chỉnh và bổ túc thêm bằng
thể thức dân chủ trực tiếp, nhưng dân chủ đại diện phải đuợc thiết định thế nào
để có thể tự hoạt động đẩy mạnh cho công việc quốc gia được trôi chảy, nhờ đó
dân chủ trực tiếp mới có thể tạo được những những lãnh vực sáng tạo và xây
dựng, thay vì phải luôn luôn chạy theo để điều chỉnh và nâng đở. Nếu không thể
thức dân chủ đại diện không bao giờ có thể tự mình bước đi được và quốc gia
không bao giờ tiến được.
Như trên chúng tôi đã đề cập là sự khác biệt giữa một quốc gia quân chủ,
độc tài, cộng sản hay dân chủ tự do nhân bản, không chỉ hệ tại ở chổ đổi danh
xưng từ độc tài, cộng sản ra dân chủ tự do rồi tuyên bố, mà còn quan trọng ở
chổ tổ chức được những cơ cấu quốc
gia có khả năng và điều kiện hoạt động khả dĩ đem lại kết quả mong muốn mà thể
chế quốc gia nhằm đạt được cho người dân.
Các vị soạn thảo Hiến-pháp Weimar đã cố gắng vượt bực
- để tạo nên các cơ cấu quốc gia
cân bằng đối lực để tránh độc tài, đại họa quân chủ mà dân Đức vừa vượt thoát
như cơn ác mộng, bằng Hiến-pháp Weimar 1919,
nhưng các vị chưa tạo nổi một hệ thống cơ cấu quốc gia có
khả năng lãnh đạo và hoạt động hữu hiệu đạt được những mục tiêu và bảo đãm cho
nên dân chủ tồn tại và lớn mạnh.
Muốn thiết lập quốc gia trên thể chế dân chủ tự do vững bền và phát triển,
- việc tạo được các cơ chế quyền
lực quốc gia cân bằng để tránh lạm quyền thôi, chưa đủ.
- Quốc gia cần có những cơ chế đa
diện và hiệu năng , được thiết lập trên nền tảng dân chủ và quốc gia pháp trị,
có khả năng hành xử quyền năng quốc gia với đủ uy quyền và kịp thời để đối ứng
với nhu cầu muôn mặt mà quốc gia đang cần đến.
Nếu không, cho dù lý tưởng có cao cả đến đâu, nhưng cơ cấu quyền lực quốc
gia không có khả năng đem lại mục đích mong muốn, người dân sẽ chán nãn, đến
một lúc nào đó họ cũng sẽ không còn tha thiết với lý tưởng cao đẹp nữa.
Đó là đìều đã xảy ra cho Đệ-nhất Cộng-hoà Đức-quốc Weimar. Cộng-hoà Weimar
thiếu một cơ chế lãnh đạo vững chắc.
- Chính-phủ không hiệu năng.
- Hạ-viện bị giải nhiệm hai lần
năm 1932.
- Các lực lượng chính trị trong
Quốc-hội yếu kém.
- Tổng-thống lạm dụng việc xử dụng quyền hành thường nhật như trường hợp
bất thường và khẩn cấp được điều 48 Hiến-pháp Weimar quy định. Tình trạng không
hiệu năng, yếu kém và lạm quyền đó mở đường cho Hitler, được chọn làm Thủ-tướng
ngày 30.01.1930, tiến đến đoạt luôn cả quyền hành của Vị Nguyên-thủ
Quốc-gia,"Fuehrer und Kanzler" ( Vị Lãnh-đạo và Thủ-tướng), biến
Cộng-hoà Weimar thành quốc gia chuyên chế.
Nhận xét như vậy, là nhận xét của
chúng ta ở vào năm 2000, hơn 80 năm sau đối với Hiến-pháp Weimar và của những
người đang sống trong các quốc gia Âu-châu dân chủ, tự do, hoà bình
và nhất là của những người đã được tư tưởng của Hiến-pháp CHLB. Đức 1949
làm nền tảng và hướng dẫn.
Chúng ta không thể không thấy được công sức của những vị soạn thảo
Hiến-pháp Weimar 1919 góp phần đem lại
dân chủ, tự do và nhân bản cho Đức-quốc nói riêng và cho các quốc gia Âu-châu
nói chung.
Cùng với những tư tưởng và lòng kính trọng vừa kể đối với những vị đã có
công soạn thảo Hiến-pháp Weimar 1919, chúng ta bước sang học những bài học quan
trọng về thể thức ổn định các cơ cấu quốc gia của một cường quốc theo
Đại-nghị-chế như Đức quốc, qua Hiến-pháp Bonn hay Hiến-pháp 1949 CHLB. Đức.
2 - Hiến Pháp 1949 CHLB. Đức, Hành-pháp ổn định.
Bài học lịch sử độc tài của Hitler với thế chiến thứ hai tàn khóc, hàng
chục triệu người bị tù đày và chết thảm khóc, Đức quốc kinh tế bị phá sản và sau
cùng quốc gia bị chia đôi, con người , nhứt là người dân Do Thái là một con số
vô nghĩa đã khiến cho các vị soạn thảo Hiến Pháp Bonn hay Hiến-pháp 1949 hiện hành CHLB. Đức phải đọc lại Hiến-pháp
Weimar và đặt thành vấn đề.
Chúng ta gọi Hiến-pháp 1949 hiện hành CHLB. Đức là Hiến-pháp Bonn vì Bonn
là thủ đô của CHLB. Tây Đức, trung tâm quyền lực của Hiến-pháp hiện hành mãi
đến năm 1991, cho đến ngày nước Đức được thống nhất. Trong khi đó thì Ủy-ban
Soạn-thảo nhóm hợp tại Herrenchiemsee, chớ không phải ở Bonn, như trường
hợp chúng ta dùng nơi hợp để gọi Hiến-pháp Weimar.
- Quyền làm người bị chà đạp,
- chính sách cai trị độc đoán của
Adolf Hitler,
- tính cách bất ổn định của các cơ
chế quốc gia của thời Đệ-nhất Cộng-hoà Weimar là những vấn đề được đặt trên bàn
hội nghị và nghiên cứu của Ủy-ban
Herrenchiemsee .
Hiểu được tâm trạng đó của các vị soạn thảo Hiến-pháp Bonn, chúng ta hiểu
được tại sao điều khoản đầu tiên của Hiến-pháp CHLB. Đức là một lời tuyên bố
khẳng định về nhân phẩm con người:
- "Nhân phẩm con người bất
khả xâm phạm . Mọi cơ chế quyền lực quốc gia có bổn phận kính trọng và bảo vệ
nhân phẩm đó"
.
Câu nói ngắn ngủi "Nhân phẩn con người bất khả xâm phạm"
như là một mệnh lệnh tuyệt đối với bất cứ ai, bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào.
Ý nghĩa của tư tưởng mà chúng tôi vừa bàn đến, được Hiến-pháp 1949 xác nhận
một lần nữa ở đoạn 2 của cùng một điều
khoản:
- "Như vậy dân tộc Đức
nhìn nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người như là nền
tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế
giới" .
Đoạn văn "... của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công
chính trên thế giới " nói lên
tính cách giá trị "phổ
quát" (universel) của mệnh lệnh
quyết liệt trên.
NGUYỄN HỌC TẬP
Di sản VNCH: Nền văn minh đã thắng “chế độ man rợ”!
.
.
0 comments:
Post a Comment