ATTENTION: UK-ĐẤU TRANH Will Be Permanently Retired on December 30th, 2017.

Monday, 9 March 2015

30 tháng Tư 1975: Máu và Nước Mắt !!!

 
Kể từ giờ phút tên phản tặc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng để dâng Miền Nam Tự Do vào tay của cộng sản Hà Nội; thì hàng năm cứ đến ngày Quốc Hận 30- 04, là mọi người dân Việt, dù ở quốc nội, hay nơi hải ngoại cũng đều cảm thấy xót đau; bởi tất cả đều không bao giờ quên; và mãi mãi vẫn nhớ đến một ngày tang thương đã trùm phủ xuống quê hương. Ngày nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay giặc thù cộng sản.

Nhưng riêng thành phố Đà Nẵng quê hương tôi vì nhờ có “công lao” của “Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Phật Giáo Thống Nhất” (Khối Ấn Quang) đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố sớm hơn một tháng: Ngày 29/03/1975.

 Từ ngày vượt biển ra hải ngoại cho đến hôm nay, tôi vẫn hằng mong đợi một bài viết thật trung thực và đầy đủ về những cuộc bạo loạn, cũng như những ngày cuối cùng của thành phố Đà Nẵng trước khi mất nước. Song cho đến giờ phút này tôi vẫn chưa hề thấy, nên tôi, một phụ nữ không biết gì về văn chương lại thấp kém về mọi mặt. Nhưng, bởi mấy chục năm qua lòng tôi vẫn xót đau, khi những hình ảnh của những người đã bị chết oan, trong đó có những bé thơ, cứ hiện về như trách móc bảo tôi hãy lên tiếng. Vì thế, tôi phải hết sức cố gắng để viết lại những gì mà chính tôi đã mắt thấy, tai nghe, những điều mà có rất nhiều người đã biết, nhưng vì một lẽ nào đó nên tất cả đều im lặng. Họ không muốn hay không dám nói.

Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản vì ở những nơi đó VC đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.

Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của VC bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xãy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.

Thầy chùa đã đưa xe ra tận núi rừng để đón Cộng quân vào Đà Nẵng:

 Tôi vẫn nhớ mãi về buổi sáng 29/03/1975, lúc ấy, vì phải đi tìm người thân bị thất lạc nên tôi có mặt tại ngã ba Huế, nhìn kim đồng hồ tay đương chỉ đúng tám giờ, khi nghe những tiếng động ồn ào, đồng bào mở cửa nhìn ra. Tôi cùng đồng bào đều nhìn thấy trên đường phố, từng đoàn xe đủ loại, xe Jeep, xe chở khách, xe nhà binh của các đơn vị quân sự bỏ lại. Trên các đầu xe, tất cả đều có cắm song song một lá cờ ngũ sắc của Phật giáo và một lá cờ nửa đỏ, nửa xanh, ở giữa có ngôi sao vàng của “Mặt trận Giải phóng miền Nam”, tất cả đều có gắn loa phóng thanh đang ầm ầm tiến ra hai ngã một về phía Hòa Mỹ hướng ra đèo Hải Vân để đi Huế; và một về phía Phước Tường hướng về Hòa Cầm để đi vào Tam Kỳ-Quảng Nam. (xin lỗi tôi phải nói như thế, để các vị chưa biết về Đà Nẵng sẽ dễ hiểu hơn).

Đến 13 giờ cùng ngày, cả thành phố đều nghe những tiếng hô vang dậy:

 “Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, yêu cầu đồng bào hãy mau mau mở cửa ra để chào mừng và hoan hô bộ đội giải phóng miền Nam anh hùng!”.

Cả thành phố đều mở cửa nhìn ra. Trên đường phố từng đoàn xe từ hai ngã đang tiến vào thành phố, đồng bào nhìn kỹ thì ra là hai đoàn xe đã ra đi hồi tám giờ sáng, chỉ khác hơn là trên các xe bây giờ chở đầy bộ đội miền Bắc, còn được cắm thêm những cành lá mà trước kia VC thường gọi “cành lá ngụy trang”. Tiếp theo sau là những xe thiết giáp trang bị đầy đủ hỏa tiển phòng không, đại bác và tiếng hô vẫn tiếp tục vang vang, bây giờ mọi người mới nhìn thấy rõ ràng, tất cả các xe, ngoài người tài xế, còn có một “ông hoà giải” và một “vị sư”  mặc áo cà sa vàng ngồi bên cạnh, và những tiếng hô đó cứ thay phiên phát ra từ hai cái mồm của hai người này.

Đến chiều, vẫn chưa tìm được người thân, tôi được tin là có nhiều người đã bị “An ninh Phật giáo” bắt giam ở các “chùa”, nên tôi đến chùa Pháp Lâm tức chùa tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để cầu cứu “Thượng tọa” Thích Quang Thể, Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN. Vì thế, khoảng 17 giờ tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep nhà binh dừng lại ngay cổng chùa, từ trên xe có hai “thầy” bước xuống đó là “Đại đức” Thích Minh Tuấn, người Huế, Hiệu trưởng trường trung học Bồ Đề, Phó Đại diện tỉnh Giáo hội QN-ĐN, Thích Minh Tuấn là một trong những người lãnh đạo trong Viện Hóa Đạo 1 của Ấn Quang. Sau đó là “Thượng tọa-Thị giả” của Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Tu viện Nguyên Thiều. Và hiện nay là Thượng tọa Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. Và “Đại đức” Thích Như Ký tức Mai Đăng Em, quê ở Mân Lập, quận 3, Đà Nẵng, “Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam - Đà Nẵng”. Tiếp theo là hai “ông hòa giải” quần tây, áo sơ mi trắng, cả hai cùng mang băng đỏ như hai “thầy”. Cả bốn người cùng vào nhà khách của chùa gặp Thượng tọa Thích Quang Thể.

 Mở đầu bằng giọng Huế, Thích Minh Tuấn nói:

 “Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia ruớc sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chơn vào thành phố, mọi việc đều tốt”.
 Tiếp theo, Thích Như ký nói:

 “Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe vô tận Hà Lam, Thăng Bình, đã đón bộ đội ta, do Đại Tá Phan Hoan chỉ huy vào thành phố một cách an toàn”.

 ”Thượng tọa” Thích Quang Thể gật đầu vui vẻ định nói gì với hai “thầy”, Nhưng ngay lúc đó Lê Quang Hòa (Trung tướng Việt cộng) tức Nguyễn Văn Hòa, quê Điện Bàn, Quảng Nam, tập kết ra Bắc trở về, là “Tư lệnh phó quân khu 5” cùng đi với mấy tên cận vệ bước vào chùa, Thượng Tọa Thích Quang Thể đứng lên chào, Lê Quang Hòa nói:

 “Tôi đến đây để thăm chùa, đồng thời để nói lên lời cám ơn Thượng Tọa và giáo hội đã tích cực trong công việc đưa, đón bộ đội giải phóng vào thành phố, một thành quả không ngờ, vì khi nghe Ngô Quang Trưởng tuyên bố: “Các Lực luợng Quân-Cán-Chính tại Đà Nẵng sẽ tử thủ và có 45 ngày để dân Đà Nẵng di tản”. Chúng tôi nghĩ là sẽ có môt lực luợng hùng hậu, nên Bộ tư lệnh quân khu 5 đã dự tính lập vòng đai bao vây trong vòng ba tháng, mới có thể vào thành phố Đà Nẵng được. Vì vậy, khi các thầy đưa xe ra đón, chúng tôi không tin, nên phải lấy tin từ quân báo thật chính xác, mới dám cho bộ đội lên xe của các thầy”.

 Quay sang hai “thầy” Lê Quang Hòa nói:

 “Tôi đặc biệt khen ngợi Đại đức Thích Minh Tuấn đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia để đón Sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố một cách an toàn. Tướng Chơn rất vui mừng khi được trở lại quê hương Thanh Khê, Đà Nẵng, và công lao của Đại đức Thích Như Ký cũng không kém vì Đại đức cũng đưa xe vào tận Hà Lam, Thăng Bình để đón bộ đội của Đại tá Phan Hoan vào thành phố không hề gặp trở ngại”.

 Giữa lúc đó, tôi nhìn thấy Thượng tọa Thích Quang Thể quay vào phía góc chùa nhìn tôi một cách ái ngại. Tôi hiểu ý, nên liền chào Thượng tọa và ra về.

 Sau đó, “Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo” (Ấn Quang) đã hướng dẫn các đoàn xe của bộ đội VC vào chiếm giữ các đơn vị của quân đội cũ, và lại dùng loa phóng thanh kêu gọi:

 “Yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo!”

 Phải công nhận là Phật giáo nói Phật tử chiếm 80% là đúng, Nhưng chỉ đúng trong những ngày này mà thôi, vì thấy các “chùa” đồng loạt treo cờ “Mặt trận giải phóng miền Nam” cũng như thấy khí thế của Phật giáo như vậy, nên nhiều người bình thường chỉ theo đạo thờ cúng ông bà hoặc Khổng Giáo nhưng vì muốn an thân, họ đã đến các “chùa” mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ, cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.

 Ngoài ra, để lập công với “cách mạng” Đại đức Thích Minh Tuấn, đã nhân danh: “Phó đại diện tỉnh giáo hội Phật giáo (Ấn Quang)  QN-ĐN, Hiệu trưởng trường Trung tiểu học Bồ Đề, xin dâng hiến tất cả các trường Bồ Đề và các cơ sở khác của giáo hội cho cách mạng”. Thấy vậy, có nhiều Phật tử phản đối, Thích Minh Tuấn trả lời:

 “Bây giờ mình đâu có cần gì những thứ đó nữa, vì chúng ta có công đánh đuổi Mỹ-Ngụy, thống nhất đất nuớc, mọi việc Giáo hội cần đến thì có chính phủ giúp đỡ”.

Khi nói đến LLHG, thì ngoài những công lao trên họ còn có những thành tích khác đáng kể như sau đây:

Trong lúc đồng bào trên đường di tản, LLHG đã xuống tận bến Bạch Đằng dùng loa phóng thanh kêu gọi:

 “Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp, Hòa giải thị bộ Đà Nẵng. Trụ sở đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, thiết tha kêu gọi đồng bào đừng di tản, hãy ở lại với chính quyền cách mạng ; ngụy quân, ngụy quyền cấp bậc, chức vụ gì sẽ được trả nguyên cấp bậc và chức vụ ấy”.

 Vì thế, mà ở trại cải tạo T.154, Tiên Phước, Quảng Nam, tôi biết có người không phải sĩ quan mà đã khai là “Trung úy”, mục đích để được “trả lại”…cấp bậc cũ! Nhưng không ngờ, rồi sau đó họ đã phải ở tù như những sĩ quan thật. Và rồi, cấp bậc, chức vụ gì thì phải ở tù theo cấp bậc, chức vụ ấy!!!


Tái hiện sự tích Đức Phật đản sinh tại chùa Pháp Lâm (Đà Nẵng).

Nhân đây, tôi xin viết thêm một trường hợp khác. Trong cơn say máu người, Hòa giải Phật giáo cũng đã đến nhà ông bà Trần Quốc Thái ở số 06 đường Lý Thường Kiệt, Đà Nẵng, Nhưng khi ập vào nhà thì chỉ còn căn nhà trống. Ông bà Trần Quốc Thái đã chạy thoát, mất mồi, chúng tức tối la hét, đập phá lung tung. Tôi nghĩ là ông bà Trần Quốc Thái đã có được một hồng ân quá lớn, nếu không thì chúng đã xé xác ông rồi, nhẹ lắm cũng như ông Trần Sô vậy.

 Nhân đây, tôi xin nói rõ về ngôi nhà này: Tôi biết ông bà Trần Quốc Thái đã vay muợn của nhiều người để xây cất, Nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê chém mướn giết chết, Hội đồng Gian nhân Phản loạn đã tịch thu với lý do là “tài sản của đảng Cần Lao” và dùng làm cơ quan Nha Cảnh sát Quốc gia vùng 1. Ông bà Trần Quốc Thái đã dắt con cái đi ở nhờ nhà người khác; nhưng cũng phải thắt lưng, buộc bụng để có tiền trả cho đến mười năm mới hết nợ làm nhà.

Năm 1973, vì truy tìm mãi vẫn không có bằng chứng là «tài sản của Cần Lao» nên ngôi nhà mới được trả lại cho ông bà Trần Quốc Thái.

 Đến năm 1975, Hòa giải Phật giáo chiếm giữ, sau đó giao cho VC lấy làm Bộ chỉ huy công an vũ trang.

Từ ngày 30/04/1975, Việt cộng ra lệnh truy tầm ông Trần Quốc Thái, “Bí thư đảng Cần Lao miền Trung”. Tôi cũng biết ông Trần Quốc Thái là người Bắc di cư, thời Đệ Nhất Cộng Hòa có làm Quận trưởng quận Điện Bàn, Quảng Nam, còn có Cần lao hay không thì khó biết được, vì đảng Cần Lao không công khai hoạt động như các đảng phái khác.

Một nạn nhân khác là ông Trần Quốc Dân, người Thanh Khê, quận 2, Đà Nẵng, đi kháng chiến chống Pháp, sau đó là Thiếu tá Quân đội Bắc Việt xâm nhập vào Nam. Lúc đó, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, (sau là Sư đoàn Sao Vàng) Nguyễn Chơn cũng người Thanh Khê, Đà Nẵng là Trung đoàn phó. Ông là người đầu tiên rời bỏ hàng ngũ VC trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia vào năm 1962. Ông kể với người thân:

“Trước đó tôi có gặp người của ông Ngô Đình Cẩn, nên mới dám quyết định trở về. Sau khi quyết định, tôi đã lợi dụng trong một lần giao tranh với quân đội VNCH tại chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam, tôi vượt sông Thu Bồn và theo sự hướng dẫn của người tôi đã gặp, tôi được gặp ông Ngô Đình Cẩn. Và tôi được sự giới thiệu của ông Cố vấn nên tôi vào Sài Gòn trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diêm., vì tôi tin tưởng rằng Tổng Thống chắc chắn hiểu được những người đi tham gia kháng chiến chống Pháp. Và tôi đã nghĩ đúng, vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày ý nguyện của tôi, thì Tổng Thống dạy rằng:

Tôi đã hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, Nhưng thôi vì danh dự Quốc Gia em hãy nhận quân hàm Thiếu tá. Tôi xin được ra chiến đấu, Nhưng Tổng Thống bảo:
Không được, hãy về đoàn tụ với gia đình trước khi nhận công tác. Và Tổng Thống ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng từ tay của Tổng Thống”.

 Ông Trần Quốc Dân trở về Đà Nẵng, sau một thời gian ngắn ông mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cuới vợ. Rồi ông được làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.

 Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết. Là một người cứng cỏi, Nhưng ông Dân đã rơi nuớc mắt, ông kêu lên:
“Thế là hết! Tổng Thống không còn nữa, thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống”.

Vài tháng sau ông tâm sự với người thân:
“Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nuớc, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ”.

 Tôi không nhớ rõ ngày tháng, Nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ và cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh. Chức vụ cuối cùng VNQDĐ của ông là một trong bốn Phó chủ tịch Thành bộ Đà Nẵng.

 Ngày 24-03-1975, trong lúc ông Trần Quốc Dân chuẩn bị đưa gia đình đi di tản, thì bất ngờ hai ông: Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận 2, Đà Nẵng (cả hai đều là cố vấn của LLHG Thị bộ ĐN) dắt theo một đám “Thanh niên Phật tử” có vũ trang đến nơi (sau này tất cả trở thành công an VC). Hai người này vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói:

 ”Chúng tôi Ban lãnh đạo Lực luợng Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, mời ông lên chùa tỉnh Giáo hội để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đứng trong lòng lịch sử”.
 Nói là “mời” Nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác, ông Dân đành phải theo chúng lên chùa.

 Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy, nên vợ ông dắt hai đứa con thơ của ông bà đến chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng để xin gặp chồng; Nhưng đội An ninh Phật tử chặn ngay ở ngoài cổng không cho vào. Vợ ông Dân khóc lóc, van lạy thế nào cũng không được, nên đành dắt hai con trở về.

 Ngày 30-03-1975, khoảng 10 giờ sáng, LLHG Phật giáo đưa ông Dân từ chùa Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Lúc giải giao, chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, trong cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966; khi áp giải các vị nói trên đến chùa Phổ Đà. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế, vẫn chưa đủ, mà đội “An ninh Phật tử” còn cầm súng đi kèm hai bên. Thấy vậy, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là “Ủy ban Áp giải”.

Tác Giả: Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

0 comments:

Post a Comment

 
Web Statistics